LTS: Đàn Chim Việt nhận được bài nhận định dưới đây về tùy bút Đi tìm cái tôi đã mất của nhà văn quá cố Nguyễn Khải. Chúng tôi chọn đăng nguyên văn để rộng đường dư luận.

Tiểu sử:

Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng 12 năm 1930 tại Hà Nội. Quê nội ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi. Đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám. Trong Kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộ đội, làm y tá rồi làm báo. Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý từ tiểu thuyết Xung đột (phần I năm 1959, phần II năm 1962).

Sau năm 1975 Nguyễn Khải chuyển vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông rời quân đội năm 1988 với quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Nguyễn Khải từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa 2, 3 và là Phó tổng thư ký khóa 3. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII.

Nguyễn Khải mất ngày 15 tháng 1 năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh do bệnh tim.

Tác Phẩm:

Sáng tác của Nguyễn Khải thể hiện sự nhạy bén và cách khám phá riêng của nhà văn với các vấn đề xã hội, năng lực phân tích tâm lý sắc sảo, sức mạnh của lý trí tỉnh táo. Năm 1982, Nguyễn Khải nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm. Năm 2000, nhà văn được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về Văn học nghệ thuật.

Ông sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, kịch. Trong đó, Nguyễn Khải để dấu ấn qua nhiều tác phẩm như: Xung đột (1959-1962), Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960), Thời gian của người (1985)... Tác phẩm gần nhất của Nguyễn Khải là tiểu thuyết Thượng đế thì cười (2003), mang giọng văn hồi ký về cuộc đời viết lách của ông.

Tác phẩm Mùa lạc của Nguyễn Khải thường được trích dạy trong sách giáo khoa phổ thông môn Văn học nhiều năm qua. Trong bộ sách giáo khoa Ngữ văn bộ mới (lớp 12), tác phẩm này được thay bằng Một người Hà Nội, cũng là một truyện ngắn xuất sắc của ông.

Nhận định về tùy bút « Đi tìm cái tôi đã mất » của Nguyễn Khải- một cán bộ tuyên truyền của chính quyền CSVN, trong quân đội có cấp bậc đại tá, Phó Tổng Thư Ký hội Nhà Văn VN và là đại biểu Quốc Hội (bài được viết vào năm 2006, lúc đó Nguyễn Khải 76 tuổi) .

Chương 1:

“Ai cũng giàu có hơn trước, nấu cơm bằng nồi cơm điện, tối xem tivi mầu, giờ rảnh thì xem phim bộ. Mỗi xóm đều có cửa hàng cho thuê băng vidéo, có gái điếm cho ngủ chịu đến mùa trả bằng thóc, có cờ bạc, có hút thuốc phiện và chích heroin, thành phố có gì ở làng quê đều có, cả hay lẫn dở, dở nhiều hơn hay.”

Sở dĩ mà Nguyễn Khải còn sống và sống thoải mái đến ngày gần chết  là vì biết viết và biết lách. Trong phê bình thì giả vờ khen rồi sau đó thì nêu vài sự kiện, có phê bình mà không chỉ cái gốc cuả sai trái, không nêu cái trách nhiệm của Đảng thì đảng cho qua phà, viết như thế gọi là “viết lách”. Xã hội Việt Nam ngày nay phải nói là sa đoạ tận cùng, tệ nạn xã hội tràn lan từ thành thị đến nông thôn. Phụ nữ bị bán ra nhiều nước để làm vật mua vui, thanh niên thì xì ke ma tuý, rượu chè be bét. Bệnh sida tăng 200%, xã hội đen thì đầy rẩy, ai mướn cũng làm. Giáo dục thì tràn lan bằng giả, thi dùm. Chánh án toà án cũng xài bằng giả! Tham nhũng thì từ chủ tich nước xuống đến xã, ấp. Thực là 1 xã hội hết thuốc chửa, một nỗi nhục của dân Việt Nam mà Nguyễn Khải phê phán còn nhẹ quá, chưa đúng sự thực.

Chương 2:

“Tôi là một đứa trẻ khi bước vào đời có nhiều điều thua thiệt nhưng tôi đã biết níu chặt lấy thời thế mà leo dần lên. Tôi nói thế chả phải vì cái thói cơ hội, thời này có mấy ai thích nói mình thành tài là nhờ cách mạng”

Nguyễn Khải nhờ biết nắm bắt cơ hội nên leo lên dần từ lính đến đại tá. Trong giới viết văn của XHCN anh nào khôn khéo thì an toàn, có khi nịnh bợ đúng nơi, đúng lúc thì sẽ thăng tiến trong xã hội. Đừng dại dột mà chê đảng, chê Cách mạng mang vạ vào thân !

...”Nhưng có nhiều người được cách mạng ôm hẳn vào lòng nâng niu, vỗ về mà vẫn không nên người thì sao ? Là vì họ còn thiếu một yếu tố nữa, thiếu cái đó dầu họ có được bước trên thảm đỏ, kẻ nâng người dắt một đời vẫn không ra con người tử tế. Mà tôi thì có, có dư thừa. Ấy là cái tính hài hước bẩm sinh, trước hết là biết giễu mình, theo dõi từng bước đi, từng câu nói của chính mình bằng cái nhìn của người khác vừa nghiêm khắc vừa bỡn cợt. Sau mình đến người, tôi cũng hay nhìn ra cái khía cạnh buồn cười ở người khác dầu họ xuất hiện dưới cái vỏ trang trọng đến thế nào”

Nhưng Nguyễn Khải biết tìm và vạch ra những cái sai của con người trong XHCN để làm cho họ phải đi đúng đường, đúng hướng theo XHCN bằng lối viết châm biếm, khôi hài góp công cho đảng nên được trọng dụng là phải. Còn chuyện nhờ đó mà thành con người tử tế hay không thì chưa chắc (tùy theo quan điểm, lập trường và góc nhìn của mỗi người).

“Chả có học thuyết nào dự đoán đúng những gì sẽ xảy ra trong tương lai và cũng chẳng thể dự đoán được cái kết cuộc của nhiều sự việc đang xảy ra trong hiện tại. Mọi lời tiên tri đều có tính mê sảng, đồng cốt. Dành cả một thời thanh xuân để tin vào những lời tiên tri ấy, về già nhìn lại cái tài sản tinh thần thâu góp một đời chỉ là một cái kho chứa đủ tạp nham chẳng có một chút giá trị gì.”

Cũng đáng thương xót cho Nguyễn Khải và những người đã trót một đời tin tưởng và phục vụ cho chủ thuyết Cộng Sản (mà họ được tuyên truyền là sẽ đem công bằng, không có người bóc lột người và đem no ấm cho mọi người) sau  mấy chục năm sống trong chế độ XHCN khi gần đất xa trời thì họ mới nhận thấy lời tiên tri ấy là không tưởng và vô giá trị !!! Tại sao gọi chủ nghĩa Xã Hội là tiên tri vì từ trước đến nay chưa có quốc gia nào, kể cả “anh cả đỏ” là Liên Xô cũng chưa đạt đến thành công sau khi mày mò thử nghiệm gần 70 năm và tiêu tốn 50 triệu dân Nga!!! Hoá ra là công cóc.

Chương 3:

“Học thuyết xã hội(chủ nghiả Cộng sản) đã phải đội lốt tôn giáo để tồn tại thì mọi thứ thuộc về nó đều là thiêng liêng. Lãnh tụ thành thần thánh, lời nói bài viết của họ thành kinh bổn, cuộc sống cá nhân và xã hội của họ đầy ắp những chuyện phi thường. Hình ảnh của Lenin và Stalin, của Mao Trạch Đông và Kim Nhật Thành và lời nói của các vị ấy bao trùm lên toàn bộ cuộc sống tinh thần của các quốc gia họ cầm quyền, làm gì, nói gì, nghĩ gì đều không thoát ra khỏi cái bóng che ấy.”

Cái hay của Nguyễn Khải là phê phán gì thì phê, nhưng không đụng đến cha già Dân Tộc (của Khải ) nên không phạm húy, phạm những điều cấm kỵ. Thực tế là Hồ Chí Minh đã là học trò xuất sắc của những tên đại đồ tể Lênin, Stalin và Mao là kẻ đã thực hiện nhiều vụ giết người hàng loạt trong các biến cố lịch sử như: Cải cách Ruộng Đất (172.000 người), Nhân Văn Giai Phẩm, sát hại các tôn giáo, tiêu diệt các đảng phái quốc gia (700.000 người), ra lệnh tấn công Miền Nam bằng mọi giá khiến trên 3 triệu người Việt chết thảm thương. Nhờ không nói đến Hồ nên Khải được yên thân. Thấy điều tàn ác mà không nói đến, có thể coi đó là “người Tử tế ?”

Chương 4:

“Trong suốt ba chục năm chiến tranh, mỗi người Việt Nam đã quên hẳn những nhu cầu vật chất và tinh thần của riêng mình để được cùng sống như mọi người, cùng cảm nghĩ như mọi người, sống cùng sống chết cùng chết. Học thuyết Mác và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản được tôn vinh đến tuyệt đối. Vì số phận cá nhân gắn liền với tập thể với dân tộc, trùng hợp khít khao với các mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền và những tham vọng của người lãnh đạo. Nhưng cả mấy thế hệ cùng tham gia chiến tranh, sống trong một môi trường xã hội, chính trị của một đất nước đang có chiến tranh cũng là một tai hoạ khôn lường. Trong chiến tranh tập thể gạt phắt cá thể sang một bên, có thể giẫm đạp lên nó cũng chả mất mát gì, vì chiến tranh đòi hỏi sự nhất trí, cần sự ra lệnh đúng lúc của nhiều cái đầu chứ không có thời gian bàn luận, sai đúng có sự tham gia của nhiều cái đầu .”

Nguyễn Khải chỉ nói cái sai nhỏ, cái sai ai cũng biết, còn cái cốt lỏi là chủ thuyết Cộng sản Quốc Tế được Hồ đem vào áp dụng và làm cho cả nước khổ sở suốt 45 năm huynh đệ tương tàn (1930-1975) và gieo thù hận trong lòng dân tộc sau 1975 như biện pháp tù cải tạo, tịch thu tài sản dân Miền Nam, trả thù hèn hạ cuả Cộng sản thì Khải không dám nói đến. Đồng thời luận điệu nầy cũng để bênh vực cho những hành động diệt chủng, giết người khác chính kiến của Việt Gian Cộng sản (là vì cần nhất trí khi có chiến tranh).

... “Độc lập có rồi, tự do có rồi, vậy cái hạnh phúc của mỗi chúng tôi nhà nước định quên sao ? Nhưng người dân phải tìm ra cơ hội nào để nói, đến chỗ nào để nói, dùng phương tiện gì để nói. Nói với tổ chức, với các đoàn thể mình là một hội viên, không ai nghe cả. Nói trên báo chí không báo nào dám đăng. Viết kế sách, thỉnh nguyện gửi lên các cấp có thẩm quyền thì chả bao giờ nhận được trả lời. Vậy phải làm gì nhỉ ? Làm loạn không dám, biểu tình đúng pháp luật cũng chưa có tiền lệ. Người đứng đắn bộc lộ sự không bằng lòng của mình tại các cuộc họp lập tức bị những kẻ cơ hội trấn áp tức thì, bị cơ quan an ninh ghi vào sổ đen, thăng chức nên lương từ nay không thể, chỉ còn đợi ngày về hưu thôi. Nhưng dân chúng vẫn có cách xả nỗi bất bình của họ bằng cách sáng tạo ra nhiều chuyện tiếu lâm chính trị.”

Xem ra cái lập luận của Khải là đòi hỏi hạnh phúc cho toàn dân bằng cách kể chuyện tiếu lâm thì còn lâu mới cải thiện những cái đầu cứng ngắc của bọn Tư bản Đỏ. Tại sao không hô hào toàn dân giật sập cái chính phủ, cái chế độ đó xuống để mọi người có toàn quyền lập 1 chính phủ lo cho dân có hạnh phúc.

Còn Độc Lập mà Khải nói có rồi thì có hồi nào vậy?

Từ năm 1945 tại VN mọi kế hoạch, đường lối thảy đều theo lệnh Nga ,Tàu. Ông Mao thì thèm Đài Loan mà không dám chiếm vì sợ Mỹ bỏ bom, xúi Hồ tấn công Miền Nam thì Hồ lại nghe lời. Đau là ở chỗ nầy!

Dân ta bị Trung Cộng bắn giết ngoài biển Đông 3 lần mà có được kiện cáo gì đâu, hải đảo Hoàng sa ,Trường Sa, bị chiếm gần hết mà bọn Việt Gian không dám hé răng. Biên giới phiá Bắc bị lấn gần 700 km2 mà thứ trưởng ngoại giao Lê Công Phụng nói đâu có ai lấn đất đâu!

Bầu chọn lãnh đạo cả nước thì cán bộ Trung Cộng sang chỉ thị phải bầu Nguyễn tấn Dũng làm thủ tướng. Cả Đảng và Quốc Hội tuân hành răm rắp theo ông chủ.

Tự Do thì từ hồi mồ ma già Hồ còn nói phét đến nay dân Việt có Tự Do hồi nào đâu : Dân không có quyền tư hữu ruộng đất, nhà nước tự do trưng dụng nhà, đất trả tiền bồi thường rẻ mạt. Cán bộ lớn nhỏ dựa vào “luật rừng”cướp đất công khai. Dân khiếu kiện thì cho công an, xã hội đen đánh đập. Tôn giáo thì lập tôn giáo quốc doanh để đánh phá các giáo hội chính thống, báo chí trên 600 tờ thì thảy đều là của đảng, không hề có tự do báo chí, công nhân đình công 300 vụ từ đầu năm 2008 đến nay thảy đều bị chính quyền cho là đình công bất hợp pháp. Nhân dân lập hội chống tham nhũng thì bị bỏ tù. Một xã hội như thế mà Khải cho là có Độc Lập, Tự do thì quả là nói lấy được!

Chương 5:

...” Lúc nào cũng có kẻ thù rình rập đâu đó để tìm cớ lật đổ chế dộ bằng vũ trang, hay bằng diễn biến hoà bình. Lúc nào cũng được đồng chí trong chi bộ, bàn bè cơ quan giám sát mọi tư tưởng và hành vi để ngăn chặn mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân của mỗi thành viên. Lúc nào cũng phải đề phòng, phải đề cao cảnh giác cách mạng, không tin cậy bất cứ ai, kể cả bạn bè

Chỉ có một điều lạ, là trong hoàn cảnh sống không có một tí tự do nào cho cá nhân mà chúng tôi vẫn sống được, lại còn viết văn làm thơ được !”

Trước một xã hội mà người dân bị khủng bố tinh thần, ngay cả cán bộ cũng bị theo dõi mà chưa hề thấy Khải làm 1 hành động phản đối thì cũng lạ thật!!!

Nhưng xét cho kỹ lối sống và viết văn theo lối lập lờ, hai mặt như Nguyễn Khải thì đảng cho sống, đôi khi còn được đảng thưởng công, cho đi chu du nước nầy nước nọ để ca ngợi đảng và để làm cho người ta lầm tưởng là trong nước vẫn có tự do .

Chương 6:

...” Cách tổ chức xã hội của giai cấp tư sản dẫu có xấu xa tới tận đâu cũng vẫn tạo được những môi trường tự do và dân chủ hơn, mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển tài năng của mọi cá nhân và của cả cộng động. Lại lấy thêm một ví dụ về nước Nga trong non một thế kỷ qua. Dưới chế độ Xô Viết, người dân Nga được nhà nước chăm lo hoàn toàn từ khi sinh đến khi chết, nhưng họ vẫn không thích, vẫn thấy ngột ngạt vì đó là cuộc sống không phải lo nghĩ của một trại tập trung, con người bị đánh số, bị xếp theo khuôn, theo hàng, chỉ nhìn thấy đám đông chứ không thể nhìn ra từng con người riêng biệt, kể cả trong triết học và văn chương. Còn thời bây giờ là một xã hội mạnh ai nấy lo, người người lấn chen nhau, tranh cướp nhau vì những tham vọng không được kìm nén, kỷ cương cũ bị xoá bỏ, kỷ cương mới chưa kịp hình thành, mọi sự đều phải làm lại”

Nguyễn Khải so sánh giữa 2 chế độ xã hội, thấy được cái hay và cái dở cuả mỗi chế độ ,nhưng chưa nói hết, nói chưa “tới” cái xấu xa tột cùng của XHCN là nó cướp đi cái quyền Tự Do sinh sống cuả Con Người. Đồng thời Khải cũng không đưa ra được biện pháp tháo gở cái gông cùm đó cho toàn dân VN.(tức là nói chung chung, chuyện ai cũng biết, khổ lắm nói mãi nghe cũng chán. Phải đạp đổ nó đi)

Chương 7:

“Bất cứ một thiết kế xã hội nào nhắm tới dân chủ và tự do, xây một xã hội mở, một liên minh mở sẽ có may mắn tồn tại được lâu dài với sự đồng thuận của mọi người và sự hài lòng của mỗi cá nhân.”

Nguyễn Khải dù sống trong XHCN nhưng qua tiếp xúc với Miền Nam sau 1975 đã thấu đáo phần nào mô hình Dân Chủ Tự Do, nhưng bản thân Khải chưa dám dứt khoát đả phá cái xã hội Cộng sản mà anh ta đã sống quá lâu với nó, có nhiều quyền lợi và ràng buộc với nó.

Chân dơ, lấy nước mà rửa. Nước dơ lấy gì rửa?.”Cách mạng”. Vâng, chỉ có 1 cuộc Cách Mạng đạp đổ cái xấu xa đó để tạo một xã hội công bằng hơn, hạnh phúc hơn, tự do hơn và dĩ nhiên sẽ có Độc Lập hơn đó là mong mỏi của toàn dân Việt hiện nay. Muốn thực hiện phải do toàn dân cùng “đứng lên”, cùng ngẩng cao đầu không còn sợ hãi chế độ bạo tàn xây dựng bằng nòng súng.

“Viết đúng luật lệ thì chỉ có hai chủ đề: căm thù và hy sinh. Cũng chỉ có ba loại người được tôn vinh: công, nông, binh. Cái thế giới mênh mông, nhiều mầu sắc ngày một thu hẹp và chỉ có hai mầu: đỏ là quân ta, đen là quân địch.”

Viết theo đúng luật lệ có nghĩa là viết theo “Hiện Thực XHCN”mà bất cứ nhà văn nào của XHCN cũng phải thuộc lòng.Văn chương hay bất cứ sáng tác nào cũng đều phải phục vụ cho đảng, viết thì phải viết 1 chiều, đại khái như: quân ta thì can đảm, đánh đâu thắng đó, quân địch thì hèn nhát, đánh đâu thua đó. Công nhân XHCN siêng năng, cần cù làm việc ban ngày không đủ; tranh thủ làm đêm!

Lối viết theo công thức định sẵn thì làm gì có sáng tạo, làm gì có tôn trọng sự thật, đôi khi còn phịa ra các anh hùng tưởng tượng như “Lê Văn Tám” tẩm xăng lao vào kho đạn là sản phẩm hư cấu của chính Trần Huy Liệu bộ trưởng Bộ Tuyên Truyền và cổ động của Việt Minh sáng chế nhân vật ảo mà thôi. Nguyễn Khải thì cũng phải theo khuôn khổ đó và nói dối lâu ngày cũng thành thói quen không còn biết ngượng!

“Chính chúng tôi cũng tự chán mình. Tài đã kém lại bị bó chặt từ đầu tới chân, xoay tới xoay lui cũng chỉ có một vòng quay, ú ớ một cách nói, càng viết càng nhảm cũng là phải. Một nền văn nghệ phải phục vụ chính trị (mà chính trị thì sớm nắng chiều mưa) là đã mất một nửa tự do rồi, lại phải phục chính trị theo nghĩa các chủ trương, chính sách của từng thời kỳ thì còn gì là tự do nữa.”

Đây là lời tự thú của Khải trong những lúc không thể dối lòng. Thật đáng buồn và cũng đáng xấu hổ cho những văn sĩ XHCN. Nguyễn Khải cũng đã nhiều phen ca tụng chế độ 1 cách giả dối, trơ trẻn.Văn học nghệ thuật bao nhiên năm trong chế độ XHCN chỉ tạo ra những quái thai của thời đại. Nhưng ngày nào dân ta lập một chế đô mới, việc làm đầu tiên là phải xoá bỏ cái nền “Văn Học Hiện Thực Chủ Nghiã” đó đi. Nó là vết nhơ của văn học Việt Nam!

Tôi cũng được giải thưởng văn chương cao nhất cấp quốc gia, nhưng tôi biết chỉ mươi năm nữa, thời thế đổi thay chắc chả còn ai nhớ tới mình nữa. Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân. Buồn nhỉ!

Đúng vậy, cái thứ văn chương xu thời nịnh thế thì đâu có tồn tại trong lòng dân tộc. Nó chỉ nhất thời trong lúc đảng còn cầm quyền mà thôi ! Không biết lời tiên đoán của ông Khải về một xã hội Tư Do Dân Chủ có đến sớm hay không theo như sự mong đợi của toàn dân nhưng dó là 1 hiện thực không gì lay chuyển được.

“Tất nhiên vẫn có nhiều công trình của trí tuệ thuộc về cõi bất tử nhưng là của các thiên tài. Với bộ não con sâu cái kiến, ngước nhìn những cái đầu khổng lồ ấy làm gì cho thêm buồn ra.”

Chỉ có nhũng nhà văn chân chính thì mới có những tác phẩm “ngang tầm thời đại “lưu danh trong văn học sử, còn văn chương nô dịch cho đảng thì sẽ sớm bị đào thải. Đó là lẽ tất yếu.

Chương 8:

“Trong những năm 90 của thế kỷ 20 nhiều vị lão thành cách mạng Việt Nam lấy làm kinh ngạc và đau đớn trước sự tiêu vong quá nhanh của một siêu cường mà chân móng của nó đã ăn sâu trong mảnh đất Nga non một thế kỷ. Thật ra toà lâu đài kiểu mẫu của tương lai ấy không hề có chân móng. Nó được xây trên cát”.

Cái chế độ mà Khải và các nhà văn XHCN xem như là thần tượng, mẫu mực là Liên Xô thành trì cuả Cộng sản Chủ Nghĩa đã bị lịch sử đào thải một cách thảm hại. Lúc đó Nguyễn Khải đã sáng mắt sáng lòng. Nhưng đã trót một đời làm tôi mọi cho chế độ thì đâu thể lui ngay được, leo xuống lưng cọp thì sợ cọp vồ, nên đành nhắm mắt đưa chân để hưởng bổng lộc của đảng và tiếp tục cuộc sống nô lệ chứ không hề có phản kháng gì lúc đó.

“Lúc giận nhau thì nghĩ nông cạn thế, còn bình tĩnh lại thì giữa các nước cộng hoà trong liên bang Xô Viết (cũ) vẫn có sự ràng buộc tự nhiên và máu thịt trong lịch sử vì họ đã là người một nhà non một thế kỷ, đã cùng nhau sống chết chống hiểm hoạ phát xít để bảo vệ sự tồn tại của Liên bang cũng như của các nước cộng hoà. Lại đã cùng nhau sinh con đẻ cái, đã pha trộn ngôn ngữ, văn hoá và kỷ niệm. Bây giờ mỗi quốc gia vừa được trở lại là chính mình, vừa có phần đóng góp thêm của các nền văn hoá lân cận, bạn bè, giàu có hơn trước, văn minh hơn trước. Rồi họ cũng sẽ sống với nhau như một cồng đồng của khu vực, nhưng lần này là tự nguyện, là do họ tự chọn một hình thức liên minh bình đẳng, dân chủ và hoàn toàn tự do. Bất cứ một thiết chế xã hội nào nhắm tới dân chủ và tự do, xây một xã hội mở, một liên minh mở sẽ có may mắn tồn tại được lâu dài với sự đồng thuận của mọi người và sự hài lòng của mỗi cá nhân.”

Liên Xô  thành lập từ 1922, gồm 15 nước cộng hoà liên bang, 20 nước cộng hoà tự trị, 8 tỉnh tự trị, 10 khu tự trị. Sau Thế Chiến thứ 2 là một chuổi dài của xâm luợc và thôn tính, sáp nhập các nuớc nhỏ vào Liên Xô. Không có quốc gia nào tự nguyện sáp nhập.

Nhiều người quá ngạc nhiên và đặt câu hỏi: tại sao Đế Quốc Cộng Sản Liên Xô đã sụp đổ một cách nhanh chóng như vậy, nhưng thực ra, các người hiểu biết phải thắc mắc rằng, tại sao một chế độ “phản dân, hại nước” như chế độ Cộng Sản Liên Xô lại có thể tồn tại quá lâu, tới 74 năm mới sụp đổ?

http://www.vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=7528 ĐẾ QUỐC CỘNG SẢN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ.

Chương 9:

“Có thực mới vực được đạo, đã đói ăn thì ngay đến cái tư cách làm người cũng không thế có nói gì đến đạo. Thành thử cái chủ trương rất quyến rũ, rất “văn nghệ”, nhất là với giới tri thức, của chủ nghĩa Mác “cải tạo thế giới, cải tạo con người” hoá ra chuyện không đâu, nói cho vui, bây giờ người ta cũng hay nhắc đến để chế giễu một học thuyết xã hội chứa đầy những hoang tưởng.”

Càng về cuối bài Nguyễn Khải càng nhận định chính chắn hơn. Ông đã thấy được cái chủ thuyết mà ông hằng đeo đuổi chỉ là hoang tưởng .Ngay từ thời mồ ma Hồ còn sống cho đến ngày nay, những khẩu hiệu kêu thật to, thật quyến rũ như cải tạo thế giới, cải tạo con người, thế giới đại đồng v.v...một thời đã mê hoặc những người nhẹ dạ, thật ra nó chỉ là rỗng tuếch. Đau nhất là khi hiểu ra, muốn lui cũng không còn đường trở lui! Vì cả đời mình đã trót cống hiến cho loài quỷ dữ. Con chim sắp chết tiếng kêu sao mà buồn thảm thế! Đó là tâm trạng chán chường của Nguyễn Khải lúc đã 76 tuổi đời, 50 tuổi đảng!

Chương 11:

“Trong nữa thế kỷ sống dưới sự lãnh đạo của một Đảng theo học thuyết Mác Lê, tôi luôn luôn được nhắc nhở phải tôn trọng quần chúng, sức mạnh của quần chúng có thể thay đổi dòng chảy của lịch sử và số phận của nhiều cá nhân. Nhưng cũng thật trớ trêu, không có một chế độ cộng hoà nào ở thế kỷ 20 lại dám coi thường quần chúng như tại các nước xã hội chủ nghĩa”

Dân ở trong nước có kể chuyện khôi hài: Trong cuộc chiến Iraq người Mỹ nói đánh là đánh. Trân châu Cảng thì Nhật đánh rồi mới nói. Trong chuyện thảm sát Thiên An Môn thì Trung Cộng làm mà không cần nói. Còn Việt Cộng tàn sát dân vụ Mậu Thân thì nói 1 đàng làm 1 nẻo !

CSVN kêu gọi đoàn kết nhưng luôn giết ai khác chính kiến với mình. Kêu gọi dân yêu nước nhưng cán bộ thì bán nước. Thủ tướng hôm trước nói không có đổi tiền thì hôm sau đổi tiền, toàn là những chuyện nói láo, gạt dân. Thành thử hôm nay người dân Việt Nam thảy đều hiểu Cộng sản khinh thường dân và nói 1 đàng làm 1 nẻo. Chúng nên nhớ “ sức mạnh quần chúng có thừa sức để làm thay đổi dòng chảy của lịch sử”.

“Người cộng sản rất kiên quyết (ngoài miệng) chống chủ nghĩa cá nhân, nhưng lại chính từ các nước xã hội chủ nghĩa mà cái tệ sùng bái cá nhân đã nảy sinh. Vì lãnh tụ của học thuyết cũng là lãnh tụ của quốc gia. Họ lên cầm quyền không do phiếu bầu mà do tín nhiệm sẵn có của các tín đồ với giáo chủ. Giáo chủ là nhân vật tối linh, thuộc về thiêng liêng nên những gì của thế gian không thể ràng buộc ông ta được. Ông ta cầm quyền không có niên hạn vì ông phải phục vụ nhân dân cho tới lúc chết. Ông không phải tự phê bình và cũng không ai dám phê bình ông vì ông là biểu tượng của quốc gia, của Đảng cầm quyền, đứng trên hiến pháp và mọi luật pháp”

Đây là những lời buộc tội đanh thép của Nguyễn Khải với bọn cầm quyền. Lời phê phán châm biếm những cây đa, cây đề trong đảng từ Hồ Chí Minh đến Duẫn, Thọ, Đồng, Chinh và bây giờ là Mạnh, Dũng, Triết. Nhưng lối đánh của Khải là chặt cành chớ không chặt gốc, nhờ vậy mà Khải tồn tại đến tuổi già “không nệ dao phai” thì mới dám viết .

“Các cấp dưới từ trung ương tới địa phương cũng là những người có nhiều tự do nhất ở các ngành, các bộ và các địa phương họ cầm quyền. Là các lãnh chúa trong các lãnh địa của họ. Chả ai dám xâm phạm nếu còn muốn giữ cho mình một chút tự do cỏn con. Một xã hội có hàng triệu cá nhân không được đếm xỉa, không được tôn trọng nhưng một nhúm cá nhân lại được tôn vinh hết mức và được được hoàn toàn thoả mãn trong mọi nhu cầu là cái xã hội gì đây, là xã hội kiểu mẫu cho nhân loài tương lai ư?!”

Nguyễn Khải đã vạch trần sự thật trong nội bộ đảng, từ trên xuống dưới. Người nghèo không ai lo, nông dân bị cướp trắng đất đai không ai xét xử, công nhân bị bóc lột đến xương tuỷ, mà từ đầu năm đến giờ 330 vụ đình công vì lương không đủ sống thì đảng cho là toàn bộ đình công “Bất Hợp Pháp”! Kẻ cai trị và người bị trị, mức giàu nghèo cách biệt cả trăm lần. Người dân bị tai nạn không tiền đóng lệ phí bệnh viện đành nằm nhà chờ chết, còn cán bộ thì cá độ đá banh 7 triệu đô la. Tại sao xã hội gì mà bất công đến như vậy, có lẽ bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng bên Tàu sống lại cũng phải chào thua!

© 2008 www.danchimviet.com