Xem Thường Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF) Như Rác Rưởi?

Trong khi đó, sự thách đố của Trung Quốc đối với tổ chức Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF) đã đến mức nghiêm trọng. Riêng rẽ trong số các cường quốc kinh tế của thế giới, Trung Quốc bác bỏ sự thông qua chính sách tỷ giá hối đoái mềm dẻo, một chính sách khuyến khích sự điều chỉnh cho vị trí của cán cân thanh toán quốc tế (tài khoản dùng để thanh toán giữa các quốc gia buôn bán với nhau- balance of payments -QD) và ngăn ngừa sự tích tụ của mất cân đối trầm trọng. Theo những quy định của IMF, Trung Quốc có quyền ghìm hãm đồng tiền tệ -- nhưng Trung Quốc không có quyền can thiệp một cách ồ ạt vào thị trường hối đoái thế giới để giữ cho tỷ giá nhân dân tệ thật thấp và nhờ đó giúp sức cho vị trí cạnh tranh trên thế giới như Trung Quốc đã làm trong 5 năm qua. Như thế đã vi phạm một trong những quy định căn bản nhất của IMF, Những Điều Khoản Cam Kết của IMF yêu cầu các thành viên “không được thao túng tỷ giá hối đối … để ngăn ngừa sự điều chỉnh có ảnh hưởng trong cán cân thanh toán hoặc để dành được lợi thế trong sự cạnh tranh không cân bằng.” Trung Quốc cũng đã vi phạm nhiều phần trong nguyên tắc hoạt động của IMF một cách rõ ràng, trong đó tuyệt đối cấm xử dụng “kéo dài, phạm vi rộng lớn đơn phương” của những can thiệp (vào thị trường hối đoái-QD) để duy trì dưới mức trị giá cho sự cạnh tranh.

Những kết quả đó chưa từng xảy ra cho một cường quốc về mậu dịch. Mức thặng dư trong tài khoản vãng lai của Trung Quốc hiện nay lên đến 11-12% so với GDP (của Trung Quốc-QD). Trong năm tới, tổng số thặng dư toàn cầu hằng năm có thể sẽ lên đến 500 tỷ dollar, tương đương với trị giá thâm thủng trong tài khoản vãng lai của Hoa Kỳ. Khối dự trữ ngoại hối vượt quá 1,6 nghìn tỷ đô la Mỹ và nhiều hơn bất kỳ khối dự trữ của cường quốc nào trên thế giới có được. Những bất cân đối và nguồn tài khoản chưa từng có này của thế giới đổ vào Trung quốc có thể châm ngòi cho sự sụp đổ của đồng đô la và nền kinh tế toàn cầu bị “rơi vào tình trạng suy thoái”, một cách trầm trọng hơn khi hòa lẫn với tình trạng khủng hoảng tài chánh hiện nay trên thế giới.

Những quốc gia có nhiều thặng dư mậu dịch trước kia như Đức trong thập niên 1960, 1970 và Nhật Bản trong thập niên 1970, 1980 cũng đã chống lại sự điều chỉnh cần thiết và không thể tránh được sự kìm hãm lại đồng tiền của họ. Nhưng cán cân mất cân xứng đó chưa bao giờ giống như của Trung Quốc hiện thời trong mối tương quan phần nào của GDP Trung Quốc. Hơn nữa, sau đó Nhật Bản và Đức đã tuân theo những luật lệ của thế giới. (đọc giả có thể tìm hiểu thêm vấn đề này với bài Giải Nghĩa Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Nhật Bản )

Cho đến ngày nay, tuy nhiên, Trung Quốc phản kháng lại tất cả những thỉnh cầu về sự thay đổi thái độ của Trung Quốc. Trung Quốc tuyên bố tiến hành “sử dụng thả nổi tỷ lệ hối đoái dựa trên mức cung và cầu của thị trường” vào tháng Bảy 2005 vẫn chưa đạt được mức gia tăng đáng kể trong trị giá cán cân mậu dịch của đồng nhân dân tệ, mặc dù đã có những gia tăng tốc độ nâng cao trị giá của đồng nhân dân tệ gần đây so với đô la, mà cũng không ngăn chận được mức thặng dư quá cao trong tài khoản nước ngoài của Trung Quốc. Số lần can thiệp vào thị trường tiền tệ mà Trung Quốc cam đoan để ngăn chận nhanh hơn mức tăng giá trị của đồng nhân dân tệ, tối thiểu là gấp đôi từ khi đó.

Thật sự Trung Quốc có chất vấn về khái niệm căn bản của sự hợp tác thế giới trong phương cách xử lý với những vấn đề này, họ lập luận rằng tỷ giá hối đoái của một quốc gia là “vấn đề chủ quyền của quốc gia đó” (hơn là sự quan tâm của quốc tế một cách thuần túy trong đó các đương sự nước ngoài đều có quyền lợi bình đẳng như nhau). Trung Quốc phản đối ngay cả các vấn đề liên quan đến việc cứu xét của IMF. Những hành động của Trung Quốc tạo nên một đe dọa ngấm ngầm là Trung Quốc có thể sẽ khuyến khích thành lập Quỹ Tiền Tệ Châu Á, xói mòn thêm chức năng toàn cầu của IMF trong tương lai , và có thể cố gắng tìm kiếm vai trò chủ động trong khu vực hoặc ngay cả trên toàn cầu cho đồng tiền của Trung Quốc trong dài hạn. Bước đi trong lãnh vực tiền tệ này làm tăng sự thách đố với hệ thống mậu dịch thế giới bởi vì khoảng cách chênh lệch trong tỷ giá hối đoái quá to lớn là một khả năng thúc đẩy cho chính sách bảo hộ mậu dịch tại các nước thâm thủng mậu dịch, hiện tại cho thấy nhiều dự luật của Quốc Hội (Hoa Kỳ- QD) nhắm vào vấn đề tiền tệ của Trung Quốc với những sắc luật về mậu dịch.


 
 Nguồn (image creadit: Milwaukê Journal Sentinel)
Đối với vần đề năng lượng (trong thời gian ngắn nữa Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia tiêu thụ năng lượng nhiều nhất trên thế giới), Trung Quốc đưa ra sự thách đố ít trực diện bởi vì không có những văn bản chủ trương thỏa hiệp hiện hành trên thế giới, luật lệ và cơ quan tổ chức. Có ít nhất hai tổ chức về năng lượng mâu thuẩn nhau, (có tính tác động định kỳ) tổ chức liên kết các nhà sản xuất dầu hỏa độc quyền trong Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Lửa (OPEC) và giới tiêu thụ chống liên kết các nhà độc quyền trong Cơ Quan Nghiên Cứu Năng lượng Quốc tế (IEA) (rất lỏng lẻo và thiếu khả năng cạnh tranh). Trung Quốc tạo ra khó khăn cho cả 2 tổ chức này với nổ lực để được “ bảo đảm nguồn cung ứng” xuyên qua các hợp đồng lâu dài với một số các quốc gia sản xuất có chọn lọc. Trung Quốc miễn cưởng tùy thuộc một cách lẻ loi vào cơ cấu thị trường, ngay cả trên cơ bản, để cố gắng bảo đảm chính nó chống lại sự gián đoạn của cả hai nguồn cung ứng bởi các nhà sản xuất và khả năng thị trường của giới tiêu thụ tầm cở khác.

Hẳn nhiên, Trung Quốc không chỉ có thái độ duy nhất như thế. Họ còn thúc đẩy phía sau thị trường hàng hóa tiêu thụ trên thế giới, quốc gia này có một quan tâm cá biệt (và có trách nhiệm cho) trong việc đáp ứng phương pháp nhắm mắt lao đầu vào hơn là cố gắng cắt xén ra những ngoại lệ và những đặc quyền cho chính nó. Trung Quốc hình như không nhận biết những chiến lược như thế trong quá khứ hoặc là thất bại chua cay hoặc là Trung Quốc có sự tin tưởng rằng đám mây đương thời sẽ đủ để duy trì cho những thỏa thuận hợp đồng ngay cả trong những thời điểm khó khăn, và nó theo đuổi những chiến lược đó có liên quan đến những mặt hàng nguyên liệu khác như dầu hỏa và khí đốt.

Trên phương diện viện trợ nước ngoài, Trung Quốc có thể đã trở thành quốc gia quyên góp lớn nhất (tùy thuộc vào định nghĩa của “viện trợ” như thế nào), và nó đưa ra một thách đố trực tiếp cho những quy định phổ biến bằng cách loại bỏ những điều kiện mà đã được tiến triễn trong vòng một phần tư thế kỷ qua. Bắc Kinh loại trừ tất cả những tiêu chuẩn về xã hội (nhân quyền, điều kiện cho người lao động, và môi trường) đã trở thành phổ biến và cũng là những tiêu chuẩn về kinh tế (như là xóa đói giảm nghèo và quản trị tốt) mà ngày nay hầu như tất cả các cơ quan viện trợ song phương và nhiều phía dùng nó như những thủ tục quy định. Đi chung với các tiêu chuẩn mậu dịch và hàng hóa tiêu thụ, Trung Quốc đặt ra “những điều kiện” cho viện trợ hầu như chính trị hóa hoàn toàn: nhất định các nước nhận viện trợ phải hổ trợ vị trí của Trung Quốc trong các vấn đề toàn cầu, tại Liên Hiệp Quốc và những nơi khác, và là hệ thống chuyển tải nguồn cung cấp sản phẩm chính đáng tin cậy cho Trung Quốc.


Những Quy Luật Mới Của Trò Chơi


Những chính sách này giải thích rằng ý tưởng toàn cầu của Trung Quốc không đi đôi với sự lớn mạnh kinh tế của nó. Trung Quốc tiếp tục hành động như một nước nhỏ tác động rất ít vào hệ thống toàn cầu có tầm vóc lớn và từ đó cũng ít có trách nhiệm. Yếu kém trong nhận thức như thế là điều dễ hiểu, đặc biệt khi những người lãnh đạo bảo thủ của Trung Quốc vẫn còn đi theo hướng lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình là duy trì hình tượng khiêm tốn trên thế giới. Sức đẩy trung tâm trong chính sách ngoại giao hiện hành của Trung Quốc là không phải không nắm một vai trò lớn trên thế giới nhưng muốn tránh xa những vướng mắc của thế giới mà có thể sẽ phá vỡ khả năng tập trung của quốc gia vào các thách đố to lớn tại nội địa. Hơn nữa, sự trổi dậy của Trung Quốc với một vận tốc nhanh như thế là một khó khăn ngay cả những nhà quan sát giàu kinh nghiệm cũng khó mà hiểu được. (Kiểu mô hình tương tự đi kèm với sự phát triển của Nhật Bản trong đầu thập niên 1970 kéo dài đến thập niên 1980, khi đó chỉ cần đài khí tượng mọc lên cũng làm cho cả thế giới có những phản ứng, trong khi đó Tokyo vẫn duy trì tính thụ động và vị trí phản ứng lại với tất cả các vấn đề toàn cầu.)

Ngay cả những người bào chữa mạnh nhất trong hệ thống thương mại thế giới cũng phải thừa nhận một số chỉ trích Trung Quốc là có cơ sở vững chắc. Nổi bật nhất, vòng đàm phán Doha Round chỉ đạt được rất ít cho tự do hóa mậu dịch thế giới sau một gần một thập niên cố gắng, IMF đã thất bại khi tuân thủ chính các điều luật của nó và đang bị co rút tầm hoạt động. Tổ chức Ngân Hàng Thế Giới (the World Bank) mất hướng đi sáng sủa. Nhóm liên kết 7 cường quốc công nghiệp (G-7) [Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, Mỹ & Gia nã Đại - -ĐànChimViệt] cùng thông qua cho hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau trong các quốc gia thành viên của nhóm này, làm cho nhóm này bị những chỉ trích đến từ bên ngoài như Trung Quốc cho rằng nhóm G-7 là đạo đức giả. Bởi vì thất bại trong việc thích nghi những cấu trúc quản lý theo sự thay đổi đột ngột trong mối quan hệ kinh tế trong số các quốc gia này , các tổ chức kinh tế thế giới đã mất đi nhiều tính hợp pháp của họ. Sự thật thái độ một số người Trung Quốc có thể hiểu được và một số người Trung Quốc quan tâm đến tính hợp pháp không làm giảm đi phần lớn của sự thách đố hơn là đề nghị một số bộ phận hợp lý của sự đáp ứng khéo léo khôn ngoan.

Để giải quyết tình trạng này, Hoa Thịnh Đốn nên thay đổi một cách khéo léo và cơ bản về chiến lược trong chính sách kinh tế đối với Bắc Kinh. Thay vì tập trung vào những vấn đề trên quan hệ song phương hạn hẹp, Hoa Thịnh Đốn nên kiếm một giải pháp phát triển đối tác thật sự với Bắc Kinh để có thể cung cấp sự liên kết lãnh đạo hệ thống kinh tế toàn cầu. Chỉ có con đường đi đến như là “G-2” sẽ được nhìn thấy và thực thi công lý tư pháp đối với vai trò mới của Trung Quốc như là một cường quốc kinh tế trên thế giới và thật sự như một cấu trúc mang tính hợp pháp và đại biểu của một trật tự kinh tế toàn cầu .

Hiện tại Hoa Kỳ cố gắng lôi kéo Trung Quốc tham gia vào tổ chức kinh tế toàn cầu hiện hữu. Sự mềm dẻo của Hoa Thịnh Đốn cho tình trạng nguyên thủy này được hiểu như là một thành công cơ bản và vai trò nổi bậc phù hợp với hoa Thịnh Đốn. Tuy nhiên Trung Quốc thì một cách rất đơn giản không thoải mái gì với quan điểm hòa nhập vào một hệ thống mà nó không có vai trò gì để có sự tiến triển hơn. Cả quan chức Trung Quốc và các học giả trí thức đang bàn thảo một cách tích cực cho một cơ cấu khác sẽ do Trung Quốc sáng tạo ra. Tại một điểm tranh chấp đặc biệt trong vòng đàm phán vào WTO, đại sứ Trung Quốc la hét lên, “Chúng tôi hiểu bây giờ chúng tôi phải chơi trò chơi của các vị, nhưng trong vòng 10 năm chúng tôi sẽ là người đưa ra luật chơi!”. Hơn nữa, hệ thống kinh tế hiện hành đang ngày càng trở nên như căn bệnh xương sơ cứng, và đó có thể là cách duy nhất của sự phản khán mạnh mẽ để thay đổi toàn bộ nền tảng (biểu lộ trong vị trí như sự từ chối của Châu Âu giảm bớt những hạn nghạch quá thừa và từ bỏ một số ghế trong hội đồng giám đốc của IMF).

Hiện nay chính sách của Hoa Kỳ cũng mang ý nghĩa bao gồm sự đo lường mức tuân thủ luật lệ khắt khe để trừng phạt sự không hợp tác. Hoa Thịnh Đốn đưa Bắc Kinh ra WTO để hòa giải sự tranh chấp trong một số lần và huy động IMF cùng với G-7 để trừng phạt Trung Quốc về tỷ giá đồng tiền thấp. Tuy nhiên những chỉ trích của Hoa Thịnh Đốn đối với Bắc Kinh không được chuyển thành những áp lực trả đũa nghiêm trọng bởi vì có nhiều người Mỹ nhận được nhiều lợi ích từ các quan hệ thật sự hay trong tương lai với Trung Quốc, không muốn những nhà soạn thảo chính sách Hoa Kỳ làm nguy hại đến mối quan hệ đó và bởi vì một số quốc gia trọng yếu khác cũng không thiện ý đối đầu với Trung Quốc. Từ bỏ quan điểm hiện tại và làm theo hướng tiến tới với ít sự đối đầu có thể là cách duy nhất để Trung Quốc hợp tác.

Công Thức G+2

Phần nào, chiến lược đề nghị ở đây để giải quyết những vấn đề xưa cũ bằng những phương cách mới, tính giải lại các mâu thuẫn như những cơ hội cho sự tiến triển. Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể đồng ý xây dựng những thỏa hiệp mậu dịch trong khu vực của họ theo cung cách của sự hổ trợ để kéo theo tự do hóa quan hệ đa phương, và ngay cả cho phép liên kết giửa các thực thể của khu vực trong tương lai thay vì làm trở ngại nó. Những đề nghị thất bại cho cơ hội của một thị trường rộng mở tại vòng đàm phán Doha Round nên nhắm tới không phải là thái độ mang tính hợp pháp hóa thương mại nhưng là những đe dọa cho WTO đưa đến nguy hại đầu tư kinh doanh trong một thị trường rộng mở cho cả hai quốc gia. Những mất thăng bằng trong cạnh tranh tỷ giá tiền tệ  nên được xem như là độ lệch tiêu chuẩn của IMF mà gây tổn hại đến tất cả các đối tác mậu dịch, nhất là các quốc gia nghèo. Hoa Thịnh Đốn nên thừa nhận những sai sót trong chính sách tài chánh của mình đã góp phần tăng tỷ giá đồng đô la quá cao, cũng như Bắc Kinh nên thừa nhận tỷ giá quá thấp của đồng nhân dân tệ làm phản hồi sự mất cân xứng của mức cầu trong nội địa Trung Quốc và những can thiệp mạnh bạo của chính phủ. Hoa Kỳ nên hộ tống Trung Quốc đến với IEA để giúp tổ chức có câu trả lời đến với các quốc gia tiêu thụ vì giá dầu hỏa cao.

Những bước tiến xa hơn nữa có thể liên quan đến việc thành lập các quy định toàn cầu và thỏa hiệp của các tổ chức nhằm quản lý những vấn đề quan trọng mà chưa đạt được các nguyên tắc hiện nay, như là vấn đề trái đất bị hâm nóng và quỹ đầu tài chánh thịnh vượng thuộc chủ quyền quốc gia (SWFs). Cho đến hôm nay, lập trường bác bỏ của Trung Quốc là kiên định ngay cả khép lại dự án tránh giảm bớt chất thải khí nhà kính của mình.Thế là Hoa Kỳ cũng vậy, nhưng lập trường đó sẽ thay đổi ngay sau bầu cử tổng thống vào tháng 11 tới đây, không cần biết ai sẽ thắng cử. Tuy nhiên, tổ chức quản lý chất thải sẽ dẫn đến việc thành lập một rào cản mậu dịch tại một số nước tham gia chống lại hàng hóa sản phẩm có cường độ của hóa chất carbon nhập từ các quốc gia không tham gia tổ chức này. Hơn nữa, vấn đề trái đất bị hâm nóng không thể đưa ra nếu không có Trung Quốc tham dự, bởi vì Trung Quốc là quốc gia có lượng chất thải ô nhiểm cao nhất trên thế giới. Trừ phi Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh cùng hợp tác để có phương pháp giải quyết vần đề này, kết quả có thể là một cuộc chiến mậu dịch giữa đôi bên và hoặc chút ít hoặc không có hành động gì về vấn đề môi trường.

Trung Quốc đã biểu lộ sự hoài nghi việc chấp nhận những đường lối chỉ đạo mới cho cơ cấu và hoạt động đầu tư của SWFs , ngay cả đó là tình nguyện và không ràng buộc. Nhưng Hoa Kỳ đang đấu tranh cho những điều lệ để cho phép tiếp tục nguồn đầu tư ngoại quốc và ngăn chặn sự rủi ro của những phản ứng đến từ chính sách bảo hộ mậu dịch trong nội địa . Từ khi nền kinh tế của Hoa Kỳ tùy thuộc một cách đặc biệt vào số vốn của Trung Quốc, nếu không có những thỏa thuận mới thì mâu thuẫn trực diện có triển vọng xảy ra trên vấn đề này, gây nên bởi sự bác bỏ của Trung Quốc về đề nghị của những đường lối chỉ đạo mới hoặc bằng sự bác bỏ của Hoa Kỳ cho những đầu tư của Trung Quốc tại các khu vực quan trọng.

Dù đối phó với vấn đề cũ hay mới, sáng kiến căn bản nên phát triển công thức G-2 giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để cùng lèo lái phương pháp quản lý toàn cầu. Những cường quốc khác như Liên Hiệp Châu Âu, và Nhật Bản trong một số vấn đề dĩ nhiên sẽ rất muốn tham gia vào. Những quy định, điều lệ mới, hoặc những quy tắc mới nên được thường xuyên bổ sung qua các tổ chức đa phương hiện hành, như IMF và WTO. Một số đó có thể hoạt động tốt hơn xuyên qua những tổ chức mới được thành lập có tầm vóc quốc tế để giải quyết những vấn nạn mới, như tổ chức lo về môi trường toàn cầu để điều hành chính sách biến đổi khí hậu. Những hệ thống phòng thủ có hiệu quả để chống lại những thách đố kinh tế có tầm vóc quốc tế hôm nay phải bắt đầu bằng sự hợp tác năng động giữa hai cường quốc kinh tế: Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Dĩ nhiên, nếu Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh xử dụng công thức “G-2” một cách công khai thì thật là thất sách đối với những nhạy cảm của các cường quốc khác. Tuy nhiên, nếu muốn chiến lược này đạt được Hoa Kỳ phải thật sự dành ưu tiên với Trung Quốc như là một đối tác chính trong vấn đề quản lý nền kinh tế thế giới, trong phạm vi nào đó thế chổ cho Châu Âu. Không còn gì hơn là hấp dẫn Trung Quốc hoặc lôi kéo Hoa Kỳ để có nên sự lãnh đạo mà thế giới quá cần đến.

Những bước khởi sắc ban đầu đã được tiến hành. Sau khi tôi cổ động sáng kiến của công thức G-2 vào cuối năm 2004, Robert Zoellick, trong chức vụ mới là thứ trưởng của bộ ngoại giao vào tháng Hai 2005, khởi đầu những thảo luận với người đương nhiệm của Trung Quốc. Tổng Trưởng Tài Chánh Henry Paulson xúc tiến cho cam kết được gọi là Hoa Kỳ- Trung Quốc Đối Thoại Của Vị Trí Chiến Lược Kinh Tế (U.S.-China Strategic Economic Dialogue), bao gồm khoảng 10 trụ sở lãnh đạo tại mỗi nước. Những bước đầu trong khuôn khổ các cơ quan làm việc của công thức G-2 đã được thực thi, và những mô hình hợp tác được khai trển trong những đề tài như là môi trường và tài chánh thế giới. Nhưng đó cũng chưa đủ cho Trung Quốc được thấy như là “một cổ đông có trách nhiệm”. Nó phải được nhận ra một cách cụ thể và phù hợp với tất cả quyền hạn như một lãnh đạo thật sự.

Mối quan hệ giữa quốc gia đã phát triển giàu có và quốc gia nghèo đang phát triển như thế chưa từng nghe thấy trong lịch sử loài người – khi có một cường quốc kinh tế còn nghèo, như là Trung Quốc vậy. Đủ những dẫn chứng tương tự cho sự hợp tác trên những vấn đề tiêu biểu, tuy nhiên, cho đề nghị sự thay đổi những tranh chấp của Hoa Kỳ-Trung Quốc để thành hệ thống quản trị các vấn đề được cực kỳ hiệu quả. Vào những năm cuối của thập niên 1970, thí dụ, Hoa Kỳ đã áp dụng luật thuế chống bán phá giá vào khối lượng hàng hóa của Brazil, bởi vì trợ giá xuất khẩu của Brazil chiếm gần một nửa giá trị của tất cả hàng hóa bán ra nước ngoài. Tấn công trực diện vào sự trợ giá là điều không thể chấp nhận về mặt chính trị tại Brazil, nhưng hai nước đồng ý có những đàm phán kỹ lưỡng cho một luật lệ trợ giá mới được gọi là Thỏa hiệp Tổng Quát Về Mậu Dịch và Quan Thuế (tiên phong cho các quy định của WTO sau này): sự thỏa thuận này trở thành một định chế đương thời của sự thành công trong các đàm phán mậu dịch Tokyo Round, một căn bản đóng góp thêm vào những điều khoản thiệt hại cho luật thuế bù đắp của Hoa Kỳ, và nền tảng cho sự rút lui dần chính sách trợ giá của Brazil.

Như vậy Hoa Kỳ và Trung Quốc sẵn sàng cho một sự tái định hướng đáng kể? Washington nên chấp nhận Trung Quốc như một đối tác thật sự để điều hành những vấn đề kinh tế toàn cầu, sự phát triển của những quan hệ làm việc mật thiết với quốc gia Châu Á hơn là truyền thống với đồng minh Châu Âu, và sự cộng tác xây dựng đến với một chính quyền độc đoán hơn là dân chủ. Tất cả các thay đổi này sẽ cho thấy những thử thách quan trọng cho những nhà làm chính sách của Hoa Kỳ và có thể sẽ gặp phải những phản ứng chính trị từ nội địa.

Trung Quốc đang tiến đến một cách nhanh chóng của thời điểm khi lựa chọn chiến lược cho sự hòa nhập vào nền kinh tế thế giới sẽ bắt buộc nó gia tăng thêm cái trách nhiệm của sự thành công trong chức năng với nền kinh tế đó. Trong một cách nói khác, những quyền lợi riêng của Trung Quốc sẽ dẫn nó chấp thuận sự kêu gọi của Hoa Kỳ để giúp lèo lái một hệ thống với phương hướng chấp nhận lẫn nhau. Người Trung Quốc hôm nay  đang tranh luận một cách kịch liệt là quốc gia của họ có nên tiến triển theo kiểu đơn phương hay trong một hệ thống toàn cầu, và đề nghị của một đối tác thật sự có thể làm lệch đi một kết quả của sự tranh luận đó mang tính quyết định và xây dựng, trồi lên khả năng rằng Trung Quốc có thể tiếp tục hành trình đi lên mà không gây khó chịu cho các mâu thuẫn khi những cường quốc trổi dậy trước kia đã có.

Nếu cho là Trung Quốc bất đắc dĩ để đến gần với Hoa Kỳ-- vì tiếp tục bàn cãi về các vấn đề an ninh – dĩ nhiên có những thỏa hiệp lựa chọn khác. Có công thức của G-3 với thành viên Liên Hiệp Châu Âu, một nhóm của các siêu cường kinh tế trên thế giới hiện nay. Công thức G-5 là khả năng có thể xảy ra, được thành lập gần đây bởi IMF để điều khiển những tiến hành tư vấn đa phương rộng lớn, thêm vào đó có sự tham gia của Nhật Bản và Saudi Arabia (đại diện cho các nước sản xuất dầu hỏa). Sự cần thiết trung tâm là trói chặt Trung Quốc vào trong phạm vi của một tổ chức lãnh đạo mới và hiệu quả dưới ánh sáng của vai trò nghiêm trọng của nền kinh tế toàn cầu và mang tính hợp pháp để được gài chặt trong hệ thống quản trị tất cả các giai đoạn thích đáng của sự tiến triển.

Trong 7 đời tổng thống, Hoa Kỳ đã lựa chọn để lôi kéo Trung Quốc, hơn là đối đầu, có động thái nhạy bén một cách nổi bật chỉ gây khó chịu cho những chạm trán không cần thiết sẽ đi ngược lại một đáng lo lắng với những quyền lợi của Hoa Kỳ. Những báo hiệu cho thấy nền kinh tế của Trung Quốc sẽ tiếp túc tiến tới, những đề nghị hợp lý Hoa Thịnh Đốn nên cố gắng trong mọi khả năng để lôi kéo Bắc Kinh trở thành một đối tác thật sự trong việc lèo lái những vấn đề của nền kinh tế toàn cầu. Ở mức độ tối thiểu, thành lập công thức G-2 sẽ giới hạn bớt nguy cơ leo thang của tranh cải song phương và  gián đoạn quan hệ của Hoa Kỳ- Trung Quốc và lan rộng đến nền kinh tế toàn cầu. Ở mức độ tối đa, nó có thể bắt đầu sự tiến triển mà phát sinh sự tin cậy cao và thông hiểu lẫn nhau để tạo ra một thỏa hiệp tích cực trên những vấn đề cốt yếu.

Bây giờ, sự tiến triển một thỏa hiệp tích cực như thế là không chắc chắn. Nhưng thêm vào những khác biệt, hai quốc gia chia sẽ nhiều quyền lợi chung, và vị trí kinh tế trên thế giới của họ hội điểm lại hơn là phân rẽ. Con đường xây dưng một đối tác theo kiểu trình bày ở đây sẽ không dễ dàng và sẽ cần nhiều thời gian và cố gắng. Nhưng những vấn đề đang bị đe dọa rất quan trọng và ngay cả nếu thành công một phần nào đó cũng đáng giá, và chỉ một cách đo lường cho sáng kiến này có thực hiện được hay không là thử nghiệm nó. Những đàm phán kế tiếp để thành lập nên một chiến lược chống lại vấn đề trái đất bị hâm nóng là đề nghị cho một cơ hội hấp dẫn của sự thử nghiệm đó.



Nguồn:  http://www.foreignaffairs.org/20080701faessay87404/c-fred-bergsten/a-partnership-of-equals.html


© 2008 danchimviet.com