
Tin tưởng mãnh liệt vào chính nghĩa và con đường ta đi không có nghĩa là người ta phải diệt trừ hay loại bỏ những ý tưởng khác với mình. Nhất là khi ý tưởng khác biệt với mình lại nằm trong tay phe đối lập có thế lực cầm quyền.

Vào thời Nã phá Luân (Napoleon
Bonaparte) ở Pháp có một họa sĩ vẽ tranh sơn dầu nổi tiếng: Jacques-Louis David
(1748-1825) Ông được ủy nhiệm vẽ hoàng
đế Pháp. Kết quả là năm phiên bản của bức tranh dầu nổi tiếng Vượt Đèo Saint
Bernard ở rặng núi Alpes (Napoleon Crossing the Alps/Le Premier Consul
franchissant les Alpes au col du Grand Saint-Bernard).
Jacques-Louis David là một họa sĩ
tận thiện tận mỹ, thường hay dùng đích thực hiện vật hoặc người mẫu khi họa
tranh, vẽ xong ông trưng bày và thường lẫn tránh gần bức tranh để nghe ngóng
những lời phê bình, họa may có thể thu thập ý kiến, hoàn chỉnh tác phẩm của
mình chăng?
Khi đó, có một anh hàng giầy, bất
kể những lời dèm pha về nhân dáng cao ráo, vẻ đẹp trai của Napoleon hay con
ngựa trắng (1) mà họa sĩ vẽ, chỉ chú trọng vào chiếc giầy của Napoleon, bảo
rằng giầy cỡi ngựa không thể nào có một khuyên sắt (buckle) như thế được. Họa
sĩ David về chữa lại, ngày sau anh hàng giầy lại đến xem tranh, thấy họa sĩ xóa
đi vòng khuyên đúng ý mình, anh huyên thuyên khoe với đám bạn; "Thấy chưa,
tao đã bảo giầy cỡi không thể như thế được..." Ngắm nghía một hồi, anh lại
phê bình, da giầy hia (boot/botte v. bottine) cứng quá, giầy bốt đi núi
(chaussure de montagne) vào mùa Đông không thể cao đến mắt cá, v.v.. Mấy ngày
sau, anh thợ giầy lại dắt bạn đến, mừng như mở cờ khi thấy giầy đã được vẽ đúng
như ý mình bèn huênh hoang phê phán lung tung. Nào là chê trang phục, chê cả mũ
mão của Napoleon, những vật dụng mà ông David hoàn toàn có trong tay do hoàng
đế giao cho. Biết anh thợ giầy nói hươu nói vượn những chuyện ngoài phạm vi
hiểu biết của mình, ông họa sĩ vội bước ra, chỉ vào mặt anh thợ giầy, dõng dạc
nói :
"Này anh hàng giầy, xin anh chớ leo trên nơi hàng giầy dép! ..."

Napoleon Crossing the Alp
Trên đây là một giai thoại đã xảy
ra trên 200 năm nay - nhưng nghiệm lại, rất tương xứng với những hành động và
não trạng quốc-cộng (Bolsavik-công an mạng) đang gây hoang mang, phân tán trong
cộng đồng hải ngoại gần đây.
Trong một thế giới toàn cầu hóa,
chuyện đóng góp ý tưởng, gợi ý tìm một đồng thuận, một tiếng nói hướng về một
giải pháp chung cho hiện trạng Việt Nam, những người viết lách không khỏi bực
mình vì những thái độ thấp kém, nhỏ mọn, những phong thói đố kỵ, quy chụp thiển
cận và nhiều lúc lỗ mãng của những người kém hiểu biết trên những diễn đàn liên
mạng. Người cầm bút nhiều lúc phải cố làm ngơ, vượt qua sự tức bực rất người
của mình, mong tìm đến những tâm hồn trong sáng, những tấm lòng thành mang ý
tưởng xây dựng, bất chấp những oan nghiệt của thân phận Việt trong buổi giao
thời Cộng sản-Tư bản.
Khổ nỗi, những tâm hồn trong sáng,
những người tử tế ở đâu? Hoặc giả, vì ngán ngẩm, họ đã trở thành số đông thầm
lặng? Hay là họ đã rút lui khỏi những sân chơi (diễn đàn) bát nháo, để mặc cho
một số người hung hăng nhất tạo nên một văn hóa kém cỏi, không lành lặn -- sỉ
vả hoặc vuốt ve nhau -- thao túng? Khác với những chủ ý hẹp hòi quá khích,
người viết lách nghiêm túc không ai lại tự cho quan điểm của mình là lời vàng
thước ngọc, yêu cầu người khác phải chấp thuận hay đồng ý.
Chính ra, khi bày tỏ một ý tưởng,
một đề tài gì -- như ông họa sĩ Jacques-Louis David -- họ đều muốn lắng nghe
những lời phê bình, chỉ trích để hoàn thiện hay tự kiểm, xét lại tư duy (có thể
chủ quan) của mình. Ngặt nỗi, trong một bầu không khí nhiễm độc thành kiến hận
thù và một tâm lý chiến bại (phía hải ngoại quá khích), hay do một ác ý dã tâm
nào (phía Cộng sản quyền lực) đã không có một cuộc đối thoại, tranh luận hay
góp ý nào khả dĩ gọi là đứng đắn, thành tâm hay xây dựng.
Đương nhiên, người viết không chủ
trương tìm một vị thế trung dung/trung lập giữa hai cái sai, hầu lẫn tránh
tránh một lập trường phải có của mình. Nói nôm na kiểu Mỹ: 'Two wrongs don't
make a right', hai cái sai không làm
cho ta đúng, nhưng điều đó không có nghĩa là phải từ bỏ một lý tưởng sắt son ta
hằng đeo đuổi bao nhiêu năm nay: một chính nghĩa quốc gia dân tộc, nhằm tìm đến
chuyện công bằng, dân chủ - nhất là cho những người bị chèn ép từ trước đến
giờ. Tin tưởng mãnh liệt vào chính nghĩa và con đường ta đi không có nghĩa là
người ta phải diệt trừ hay loại bỏ những ý tưởng khác với mình. Nhất là khi ý tưởng khác biệt với mình lại nằm trong tay phe đối lập có thế lực cầm quyền. Diệt trừ họ bằng cách nào?
Trong một không gian toàn cầu hóa,
tinh thần nhân bản đang trở thành một lý tưởng phổ cập được tuyệt đại đa số dân
tộc chấp nhận, người ta không thể toan tính, thực hành chuyện vũ lực hay bạo
quyền để đàn áp những dân oan, thấp cổ bé miệng. Người ta lại càng phải tránh
hẳn những lời lẽ thô bạo, ác độc khi chính người ta là thành phần thiểu số,
không có một chút thế lực nào trong tay, ngoài cái mồm to và rỗng toét. Những
chuyện ném đá dấu tay, hô hoán thô tục và bỉ ổi của một số người hải ngoại
nhiều khi chỉ chứng tò sự bất lực, hèn hạ, vô nghĩa lý của mình. Họ phải nhận
thức rõ hai điều:
1) Phần đông cộng đồng không ai
muốn hoặc không thể dùng bạo lực/binh quyền để giành lại nền Cộng hòa cũ hay
bất cứ một chính nghĩa dân chủ, trong sáng mới mẻ nào.
2) Người Việt cần tìm một hướng đi
ngắn nhất, ít đau thương nhất cho dân tộc để mỗi người có thể tự giác góp sức
xây dựng một nước Việt-Nam tươi sáng và dân chủ hơn.
Sau bao nhiêu năm chiến tranh giết
chóc và hận thù, hậu quả là sự ra đi vô tiền khoáng hậu của hơn ba triệu người
Việt trên khắp toàn cầu, tạo nên một hội chứng Cộng sản, chia rẽ trong và ngoài
nước. Nhưng bắt đầu vào đầu thập niên '90, một sự kiện khiến nhiều người Việt
lâm vào một tình huống khó xử và thử thách nhưng cũng mang nhiều hứa hẹn:
chuyện rapprochement (xáp lại gần), bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, chuyện
giao du giữa người trong và ngoài nước. Một khi đã vượt qua được hội chứng
nghiệt ngã này, người Việt hải ngoại phải đương đầu với một chuyện hiển nhiên
không thể chối cãi được:
Việt Nam trong thế kỷ 21 may thay
không phải là Cuba hay Bắc Triều Tiên đã bị loại khỏi vòng hội nhập của thế
giới, Việt Nam dù muốn dù không đã được Hoa Kỳ và thế giới công nhận, và cho dù
chuyện cô lập hóa Việt Nam có đem lại sự xụp đổ của Đảng Cộng sản hay không, cá nhân tôi và tuyệt đại đa số người
Việt hải ngoại không thể thay đổi được chuyện giao thương đã rồi này. Ngưởi ta
không thể bóp cổ 85 triệu người Việt trong nước để mong cắt cổ, làm dãy chết
đảng Cộng sản Việt Nam.
Tuy nhiên, người Việt có thể khẳng
định hai điều: 1) sức ép của người Việt hải ngoại và thế giới dân chủ sẽ chi
phối nhiều nguồn đầu tư của thế giới, 2) Trung quốc và chủ trương bá quyền của
họ không bao giờ phù hợp với quyền lợi của dân tộc Việt-Nam.
Và một điều hiển nhiên nữa ít ai
nói ra: Trào lưu hội nhập giữa người
Việt trong và ngoài nước ̣(theo thiển ý) phần lớn đã mang lại một thay đổi khả
quan cho tiến trình dân chủ và văn minh của đất nước. Cách hành xử biết điều,
lịch sự, tử tế trọng lẽ phải của phần đông Việt kiều khi về nước - cũng như sự
thu thập và hấp thụ những nền văn minh pháp trị và xã hội dân sự qua mạng lưới
toàn cầu/internet hay xuyên qua những những du sinh, những người Việt du lịch
nước ngoài đã góp phần không ít trong chuyện thay đổi tư duy tiệm tiến này.
Hy vọng rằng lập luận trên đây không khiến ai phải thét lên: "Này anh hàng giầy, xin anh chớ leo trên nơi hàng giầy dép! " Nếu có, tôi xin sẵn sàng lĩnh hội cao kiến của quý vị.
© 2008 danchimviet.com