Bi kịch.
Tiểu thuyết cũng như đoản thiên nhuốm bi kịch của Tolstoi đều là những tác phẩm thành công, tác giả gây xúc động cho người đọc bằng bi kịch được coi như có nghệ thuật cao và viết bi kịch không phải dễ.
Bối cảnh thời loạn ly của cuộc chiến tranh 1812 đã để lại nhiều bi kịch đau thương cho xã hội, đất nước Nga, đã được Tolstoi làm sống lại trong Chiến Tranh Và Hòa Bình, chúng tôi đề cập một số đọan tiêu biểu.
Sau trận Borodino ngày 26-8-1812 (lịch Nga cũ), quân Pháp và Nga đều bị thiêt hại nặng nhưng Nga vẫn yếu hơn Pháp nhiều không thể chống đỡ được, Tư lệnh Kutuzov cho lui binh về Mạc Tư Khoa, sau đó lại rút ra xa thành phố vì không đủ sức phòng thủ chống lại Pháp. Từ mấy ngày trước tại Moscow dân chúng đã di tản rất nhiều nhưng nay vẫn còn mười nghìn người. Kho đạn, vũ khí, lương thực... trước đây chưa có lệnh chuyển đi khiến người dân tưởng rằng Moscow không bị bỏ ngỏ. Tối 1-9 Bá Tước Rostopchin, tổng đốc Moscow nhận được lệnh của Tướng Kutuzov rút lui qua bên kia Moscow, thay vì lấy súng trong kho phát cho dân để chống địch ông lo di tản thuốc súng, đạn dược, tiền...và bảo thẳng cho dân biết thành phố bỏ ngỏ. Lệnh bỏ vào giờ chót khiến ông bỡ ngỡ choáng váng trước bao nhiêu việc cấp bách, kế họach ông đã sọan thảo kỹ lưỡng cho việc phòng thủ nay phải bị hủy bỏ, ông ra lệnh thả những người điên ở nhà thương điên và các tù nhân...
Lúc quan tổng đốc sắp lên xe ngựa ra khỏi thành phố, một đám đông dân chúng phẫn nộ kéo đến trước tư dinh, họ bảo trước đây ngài ra lệnh phòng thủ Moscow chống giặc Pháp nay lại cho lệnh rút, họ bị phản bội. Viên giám đốc cảnh binh cho biết không điều khiển được đám đông, ông định xin lệnh đàn áp. Quan tổng đốc bèn ra trước cửa dinh chào nhân dân và bảo họ chờ để ngài xử tội một phạm nhân tội phản quốc, người tù này chân mang xiềng xích, hắn bị tòa kết án khổ sai vì tội làm gián điệp nhưng ngài đem hắn ra xử tội để làm dịu sự bất mãn của đám đông, ông sai lính đem hắn ra ngoài rồi bảo:
"Vì tên phản bội Vereshchagin này mà thành phố Mạc Tư Khoa của chúng ta bị thảm hại, ta ra lệnh chém chết nó"
Vereshchagin ngước mặt nói : "Thưa bá tước trên đầu ngài và con có một Thượng Đế". Quan bèn sai lính chém, người lính lấy bề sống kiếm đập lên đầu tội nhân, hắn kêu lên rồi ôm đầu chạy vào đám đông, nhiều người giận dữ xúm lại đánh đập dầy xéo tội nhân cho tới khi hắn nằm vật ra chết. Trong đám đông có người than thở "Ác quá, phải tội chết". Người sĩ quan cảnh sát lôi xác nạn nhân ra khỏi sân.
Quan tổng đốc sau đó lẻn ra cửa sau lên xe ngựa rời thành phố di tản, khi ngồi trên xe ông hối hận về sự tàn các của mình, nhớ lại cảnh đám thanh niên đánh đập nạn nhân, ông nghĩ họ ác như chó sói, nhớ lời nạn nhân : "Thưa bá tước trên đầu ngài và con có một Thượng Đế", Verehchagin chỉ bị tòa xử khổ sai nhưng ông đã ra lệnh chém chết hắn, ông tự bào chữa mình đã làm một công đôi chuyện, trước hết xoa dịu sự căm phẫn của người dân, kế đó xử tội một tên gián điệp, nó là tên phản bội. Ông không thể quên vết hằn trong tim, sự hồi tưởng vấy máu sẽ không bao giờ phai, cái ký ức ghê gớm ấy sẽ nằm trong tâm trí ông mãi mãi, ông còn nhớ mãi lời mình nói "chém chết nó đi", tại sao ta lại nói thế
đáng lý ta không nói thế, ông tự bào chữa ta làm thế vì ích lợi chung.
Cảnh giết người dã man được mô tả kỹ lưỡng, mặc dù chỉ có một người bị đổ máu nhưng ngọn bút linh động của tác giả diễn tả cái chết thảm thương cho ta thấy tội ác phũ phàng ghê tởm của thời chiến tranh, của con người.
Quân Pháp vào Moscow, Pierre ở lại, chàng muốn làm Kinh Kha thời nay, quyết định ám sát Napoléon, chàng đi ra phố nhưng không thể dấu súng dưới áo ngoài được nên mang một con dao găm dấu dưới áo. Chàng cứu một đứa bé trong cơn hỏa hoạn, đánh một tên lính Pháp dựt vòng vàng của một cô gái, Pierre bị lính tuần bắt giam chung với bọn tình nghi đốt nhà vì chúng khám thấy dao găm dưới áo ngoài.
Sau khi tướng Davout thẩm vấn bọn tình nghi, ông ta sai lính dẫn tù đi, Pierre mất tinh thần nghĩ hôm nay là ngày tận số của mình, tù đi qua một khu vườn của tu viện , họ đã đào sẵn hố, đóng cọc. Đội lính hành quyết đã chờ sẵn, tù nhân được xếp theo thứ tự của danh sách, Pierre thứ sáu. Tiếng trống nổi lên khiến Pierre tan nát cõi lòng, y như người mất hồn, chàng muốn nó đem mình đi bắn quách cho rồi, Pierre dớn dác nhìn bọn tù đứng quanh.
Chàng nghe bọn Pháp bàn với nhau bắn từng người hay từng cặp, tên sĩ quan bảo "từng cặp". Một sĩ quan Pháp đến bên phải của bọn tù rồi đọc bản án bằng hai thứ tiếng Nga và Pháp, bốn tên lính tới dẫn cặp phạm nhân hàng đầu tới cái cọc, đôi tử tội thầm nhìn quanh y như con thú bị thương nhìn người thợ săn tiến lại gần, một anh làm dấu liên hồi, anh kia gãi lưng. Bọn lính vội bịt mắt tử tù, lấy túi chụp lên đầu rồi trói họ vào cọc. Mười hai tay súng tiến lên đứng cách cọc tám mét, Pierre ngoảnh mặt không muốn nhìn, tiếng nổ chát chúa vang lên, họ lại bắt hai người kế tiếp trói lại cọc bắn, Pierre lại thấy khói, máu... Họ kéo tên tù thứ năm nhưng chừa Pierre lại, anh này là một công nhân trẻ, mười tám tuổi. Khi lính Pháp vừa đụng tới người, anh ta sợ quá nhẩy sang một bên bám chặt Pierre, chàng đẩy hắn ra, người lính kéo lê hắn đi, anh ta kêu khóc tới khi bị trói vào cọc mới yên.
Biết có kêu khóc cũng vô ích, hắn không ngờ người ta có thể giết mình, chàng thanh niên y như con vật bị thương nhìn quanh dớn dác. Pierre chăm chú theo dõi không chớp mắt, chàng cũng như cả đám đông vô cùng xúc động khi họ hành hình cậu này, anh ta bây giờ yên lặng , họ bịt mắt anh sát cái cọc vấy máu, chàng ta soay sở để dựa lưng cho dễ chịu. Một câu lệnh vang lên, Pierre như không nghe tiếng súng, chàng thấy anh công nhân quị xuống, máu chảy đỏ tươi, đầu hắn nghẹo sang một bên, bọn lính cởi dây trói kéo xác chết đẩy xuống hố, họ lấy xẻng xúc đất lên xác anh.
Bọn lính quay đi, Pierre được đưa đi giam chung với tù binh, họ cho biết chàng được ân xá.
Cuộc hành hình được mô tả kỹ lưỡng, một nghệ thuật tả chân thể hiện tội ác của chiến tranh, của con người. Tolstoi diễn tả sự súc động của lính Pháp khi bắn tử tội mà không thể hiện lòng căm thù quân xâm lược, chỉ nhằm nói lên những bi kịch của con người.
Cái chết của ông hoàng Andrew cũng là một bi kịch đầy tính lãng mạn, có lẽ đây là một áng văn tuyệt diệu nhất của tác phẩm. Công nương Mary được tin anh, Andrew bị thương nặng đang ở cùng với gia đình Rostov tại Yaroslavl, nàng quyết tâm đi thăm anh mặc dù bà dì ngăn cản, đoàn tùy tùng gồm gồm cháu, thầy giáo, quản gia và năm sáu người gia nhân trên ba chiếc xe ngựa. Từ Voronezh sau hai tuần mới tới Yaroslavl, mối tình đầu với Nicholas Rostov khiến Mary hạnh phúc nhưng cũng không xoa dịu nỗi đau khổ khi nghĩ tới hoàn cảnh bi đát của anh nàng. Người ta thấy nàng lo âu, sầu muộn đau khổ, người gia nhân khi tới Yaroslavl đã tìm ra chỗ ở gia đình Rostov.
Phu nhân bá tước Rostov ôm hôn Mary thắm thiết, công nương hỏi " Anh con ra sao? " Phu nhân nói bác sĩ bảo không đến nỗi nào, bà dẫn Mary vào nhà, bá tước ra chào công nương, hồi xưa ông vui vẻ linh hoạt nay lấn cấn trông tội nghiệp, từ ngày mất cơ nghiệp ở Moscow ông như người mất hồn. Mọi người thăm hỏi Mary, cháu Nicholas nhưng nàng chỉ muốn gặp Andrew. Natasha chạy ra đón Mary, họ ôm hôn nhau, Natasha khóc trên vai Mary rồi dẫn nàng lại chỗ Andrew. Mary thấy hiện rõ trên mặt Natasha tình yêu vô bờ cho Andrew, Mary, cho tất cả những kẻ liên hệ với người yêu, đôi mắt Natasha đủ diễn tả hết. Bỗng Natasha lấy tay che mặt khóc nức nở, Mary hiểu ngay, Natasha nói mới đầu chàng bị nóng lạnh, thời gian ở Troika hết bệnh và bác sĩ chỉ sợ bệnh thối thịt, nguy cơ này cũng qua khỏi nhưng tới Yaroslavl vết thương lại làm mủ, rồi lại nóng lạnh, nay càng tệ hơn.
Mary vào phòng Andrew, theo diễn tả của Natasha nàng biết có dấu hiện chàng sắp đi, Andrew nằm trên phản, người gầy xanh, chàng hỏi thăm Mary mấy câu "Tại sao em tới đây được, con anh đâu?" Mary hỏi "Anh có đỡ không?", nàng cầm tay anh, chàng bảo định mệnh đã trói buộc chàng vào Natasha, nàng trông nom chàng luôn. Andrew biết mình sắp chết, chàng còn nói đùa Mary "Em gặp Nicholas Rostov? Chàng quí em đấy, nếu em thích hắn, đó là cuộc hôn nhân tốt cho em". Mary thấy câu nói ấy đối với nàng vô nghĩa nhưng biết rằng chàng không hy vọng sống. Cả ba người yên lặng. Mary hỏi chàng có muốn gặp con không rồi mang bé Nicholas vào. Andrew hôn con, Mary khóc thương cho Nicholas không cha, chàng nghĩ... Chim trên trời không gieo không gặt nhưng Thượng Đế cũng vẫn nuôi", Natasha bế Nicholas ra ngoài, cậu bé khóc, Mary thôi khóc nàng cầu nguyện, hướng tâm hồn về Đấng Bất diệt đang hiện diện trước người hấp hối .
Andrew biết mình sắp chết, chàng cũng biết mình đang chết, chết một nửa rồi... chàng ý thức được sự cao cả vượt lên trên trần thế, sự bất dịch, bất diệt xa vời, không biết tới, chàng đã chứng nhận được luôn luôn trong cuộc đời, nay đang tới gần chàng, chàng cảm nhận được... xưa kia chàng sợ cái chết nhưng nay không còn hiểu được cái sợ ấy nữa. Lần đầu tiên chàng cảm thấy nó khi một quả đạn bay vèo qua trước mặt, chàng nhìn cánh đồng, bụi cây, bầu trời
và biết rằng mình đang đối diện với cái chết. Chàng tỉnh giấc sau khi bị thương và và bông hoa của tình yêu bất diệt đang nở ra trong tâm hồn chàng như giải thoát khỏi nô lệ của cuộc đời, chàng không sợ chết và không còn nghĩ tới nó nữa.
Trong khi cô độc đau khổ, mê sảng chàng.. tiến vào một tình thương vô biên thoát khỏi tình yêu trần thế, thương yêu tất cả mọi người luôn hy sinh cho tình yêu có nghĩa là không yêu riêng một người, không sống đời trần thế. Khi đẵm mình trong tình yêu, chàng tránh đời trần thế và chàng đã phá vỡ cái biên giới-thiếu tình thương- giữa sinh và tử. Sau đêm tại Mytishchi chàng mê man rồi nàng Natasha hiện ra, tình yêu cho một người đàn bà lại kết hợp chàng với cuộc đời trần thế. Khi ấy chàng vẫn quí trọng cuộc đời, vật lộn giữa cái sống và cái chết. Tại tu viện Troitsa, hai người nói chuyện quá khứ, Natasha ngồi đan vớ bên chàng, Andrew cầm tay nàng, họ nói những lời yêu thương tình tứ, chàng nghĩ về cái chết, tình yêu ngăn trở cái chết, tình yêu là cuộc đời, vạn vật tồn tại vì ta yêu, tình yêu là Thượng Đế và chết có nghĩa là ta, một phần tử của tình yêu sẽ trở về cái nguồn vô tận ấy.
Andrew mơ thấy mình ngủ trong một phòng, chàng khỏe mạnh không bị thương tích gì, nhiều người hiện ra, chàng trò truyện với họ.. ra đóng cửa.. tự nhiên sợ chết, Thần chết phá cửa vào, chàng cố sức cản lại nhưng sức yếu, chàng vụng về ra sức đẩy cửa ra nhưng nó mở toang, Thần chết tiến vào, chàng chết thật, Andrew cố gắng thức dậy: Phải ! ta chết và tỉnh dậy! Những giờ phút cuối cùng của chàng trôi qua một cách đơn giản. Mary và Natasha nhận thấy vậy, cả hai không rời chàng. Họ đều thấy chàng chìm xuống từ từ yên lặng, mỗi lúc một chìm sâu hơn và biết nó phải thế.
Andrew xưng tội và được ban lễ, mọi người tới từ giã chàng, khi người ta đem con trai vô, Andrew hôn con, chàng nghĩ mình đã làm hết làm mọi việc phải làm... Mary và Natasha có mặt khi chàng cựa mình lần chót, lúc ấy hồn lìa khỏi xác. Mary nói "nguội rồi" khi người chàng vừa nằm bất động lạnh ngắt. Natasha vuốt mắt cho chàng. Chàng ở đâu? đi đâu? Người ta lau xác Andrew, mặc quần áo, nhập quan... mọi người tới vĩnh biệt và khóc. Phu nhân bá tước, Sonya khóc thương cho Natasha, bé Nicholas khóc vì đau khổ thương cha... Bá tước khóc vì nghĩ ông cũng sẽ phải đi con đường ấy, công nương Mary, Natasha bây giờ cũng khóc không phải vì đau khổ mà bởi một cảm xúc thiêng liêng nhẹ nhàng đã chiếm xâm chiếm tâm hồn và vì nhận thức được sự đơn giản và huyền bí của cái chết diễn ra trước mắt hai nàng
Cái chết của đại tá Andrew gợi lại Cái Chết Của Ivan Ilytch, một truyện ngắn nổi tiếng của Tolstoi, nó cũng cho thấy một nghệ thuật tuyệt vời mô tả cái chết, diễn tả tâm trạng của người hấp hối
giây phút thiêng liêng ấy đã được diễn tả thật sống động, có thể nói ngoài Tolstoi không ai có thể đạt tới một nghệ thuật cao như vậy. Áng văn bi thảm trên diễn tả giây phút lâm chung của người thương bệnh binh, Andrew cũng như Ivan Ilytch khi tới gần cái chết , chàng đã nghĩ tới bông hoa của tình yêu bất diệt đang nở ra trong tâm hồn như giải thoát mình khỏi nô lệ của cuộc đời trần thế. Chàng không còn sợ chết nhưng trước mắt những người ở lại đứng vây quanh thì đó là một bi kịch não nùng, bá tước, phu nhân, Sonya, Nicholas, Mary, Natasha... tới từ giã chàng, đối với Natasha đó là một bi kịch tình yêu, với Mary, Nicholas là của tình máu mủ, với Bá tước, Sonya là bi kịch của đời người. Tại đây sự diễn tả của Tolstoi đã đạt tới tột đỉnh của nghệ thuật mà không gì có thể diễn tả cao hơn thế.
Bi kịch gia đình Rostov cũng như Bolkonski, Bezukov... thể hiện chiều hướng nghệ thuật của Chiến Tranh Và Hòa Bình diễn tả những nỗi khổ đau của đời người, trong đó nhà Rostov gặp nhiều tai ương. Tiểu thư Natasha xinh đẹp tình duyên trắc trở, nàng tự tử vì tình nhưng thoát chết được cứu sống, đau khổ gầy yếu đã làm gia đình tốn kém nhiều tiền thuê thầy chữa chạy. Nàng phục hồi chưa được bao lâu rồi gặp lại người yêu trên đường chạy loạn, sự chứng kiến cái chết lần mòn bi thảm của chàng đã để lại cho Natasha nỗi niềm u uất khôn nguôi.. rồi lại có tin sét đánh cậu út Petya tử trận. Petya chưa tới tuổi vào lính nhưng với lòng yêu nước nồng nàn đã đòi gia đình phải xin cho cậu nhập ngũ, quá hăng say ngoài trận tuyên cậu đền nợ nước khi còn quá trẻ. Tin Petya tử trận tới gia đình Rostov đã khiến bá tước và phu nhân khóc than thảm thiết lại chồng chất thêm nỗi bi ai cho gia đình đau khổ này.
Chiến tranh, hỏa hoạn khiến tài sản của gia đình tại Moscow tiêu tan thành tro bụi, sự quản lý yếu kém của Bá tước, tính tình hào phóng của ông khiến nợ nần ngày càng chồng chất, chi tiêu nhiều hơn thu nhập gấp mấy lần.. Đám cưới Pierre - Natasha là tin vui nhất năm 1813 của gia đình bá tước già Rostov và rồi ông cũng mất trong cùng năm ấy. Những biến cố bi thảm năm trước : Thành Mạc tư Khoa cháy, gia đình chạy lọan, cái chết của ông hoàng Andrew, Natasha đau khổ thất vọng ê chề, cậu út Petya tử trận, phu nhân đau khổ đã khiến ông buồn chán, thất vọng rồi từ giã cõi trần.
Tổ chức đám cưới Natasha có làm bá tước bận rộn một lúc, ông phải tỏ ra vui vẻ. Khi vợ chồng Pierre-Natasha đi rồi ông thầm lặng, than thở, chán đời.. ít ngày sau ngả bệnh nằm liệt giường, phu nhân phải ngồi trên ghế bành bên cạnh săn sóc bá tước nửa tháng. Trước khi lìa trần ông xin lỗi phu nhân đã làm tiêu tan của cải, gia sản. Đám tang đông đảo thân bằng quyến thuộc tiễn đưa. Nicholas Rostov đang đóng ở Paris nghe tin cha mất, chàng xin giải ngũ, vội về nhà mặc dù chưa có lệnh, sau khi bá tước qua đời, nợ nần ông để lại khiến nhiều người ngạc nhiên. Tổng số nợ gấp hai lần tài sản, nhiều người khuyên Nicholas từ chối thừa kế để trốn nợ nhưng chàng cho thế là làm tủi vong linh người quá cố và rồi chấp nhận thừa kế, trả nợ. Chủ nợ trước đây yên lặng vì nể bá tước nay kéo tới đòi tiền. Nicholas bán đấu giá tài sản một nửa giá nhưng một nửa số nợ vẫn còn, Nicholas được Pierre bây giờ là em rể cho vay ba chục ngàn trả nợ, chủ nợ dọa thưa kiện bỏ tù chàng. Nicholas xin một chân làm cho chính phủ, lương không đủ nuôi mẹ, chàng Tolstoi làm sống lại tấn bi kịch gia đình bên nội ông qua hình ảnh nhà Rostov di sản của cơn khói lửa từ đâu tràn tới kinh thành, Chiến Tranh Và Hòa Bình là một bi kịch thể hiện cả khía cạnh bi thảm của đời người qua cơn khói lửa.