Sau khi các nhà cung cấp dịch vụ Internet có thêm nhật ký điện tử (blog) và giới truyền thông có thêm kỹ thuật You Tube, thông tin nói chung, những vấn đề nhức nhối xã hội đương đại Việt Nam nói riêng thực sự bùng nổ. Hàng ngày, chỉ cần bớt chút thời gian vào mạng, chúng ta sẽ nắm bắt được vô số thông tin đề cập đến hầu hết những vấn đề đã, đang gây nhức nhối trong lòng xã hội đương đại Việt Nam: diễn biến các vụ án tham nhũng PMU18, Huỳnh Ngọc Sỹ; tình hình Biển Đông; dự án Bauxite Tây Nguyên; sự ù lì của vô số “lô cốt” đáng nguyền rủa trên các đường phố Sài Gòn; Hà Nội đã từng bơi trong lũ sau khi mở rộng địa giới; tình trạng xuống cấp của hệ thống giáo dục; ứng xử với người dân còn nhiều bất cập; khiếu kiện của nông dân, đình công của công nhân các khu công nghiệp thu hút nhiều người tham gia, kéo dài; bất ổn tại Tu viện Bát Nhã; tuyên bố tự chấm dứt hoạt động của Viện nghiên cứu và phát triển (IDS); …vân vân và vân vân. Nhiều bạn trẻ bị choáng, cho rằng xã hội đương đại Việt Nam chứa đựng nhiều bất ổn, nhức nhối đã đến đỉnh điểm, sắp bị nổ tung. Cũng không ít ý kiến nhận định rằng xã hội chưa đến mức độ bi quan như vậy, xung đột đang được giải quyết có điều khiển. Sự tiến bộ của công nghệ thông tin đã giúp con người mô tả các sự kiện diễn ra nhanh chóng, sâu sắc, đầy đủ, trùng lắp nhiều, nên đọc riết rồi cũng thấy nhức nhối, bức xúc. Để đánh giá khách quan xã hội đương đại Việt Nam, chúng ta cần nghiên cứu những vấn đề mang tính đặc trưng của các xung đột xã hội bao gồm nguồn gốc phát sinh và hệ lụy của nói; xung đột đã được giải quyết như thế nào; luận bàn hướng giải quyết.
 
Nguồn gốc phát sinh xung đột xã hội và hệ lụy

Về nguồn gốc xung đột, ông Ralf Gustav Dahrendorf (1), một trong những nhà xã hội học hàng đầu thế giới trong nửa sau thế kỷ XX là người đã đưa ra lý thuyết sâu sắc nhất. Lý thuyết của ông có nhiều điểm tương đồng với Marx. Nếu như Marx xác định nguồn gốc xung đột xã hội là do phân phối không đồng đều phương tiện sản xuất, thì Ralf Gustav Dahrendorf khẳng định nguồn gốc của xung đột chính là sự phân phối không đồng đều quyền lực và uy tín, nghĩa là chính cơ cấu của xã hội tạo ra các xung đột.

Liên hệ thực trạng xã hội đương đại Việt Nam, chúng ta thấy lý thuyết của Ralf Gustav Dahrendorf phù hợp. Hầu hết những vấn đề gây nhức nhối trong xã hội đương đại Việt Nam nêu trên đều xuất phát từ một cuộc cải cách sâu rộng đã, đang diễn ra tại Việt Nam, trong đó kinh tế là trọng tâm. Cuộc cải cách này được đảng CSVN khởi xướng với tên gọi là “Đổi mới” đã thu được nhiều thanh tựu quan trọng về kinh tế, chính trị và xã hội. Tuy nhiên, tiến trình đổi mới đã làm xuất hiện các mâu thuẫn xã hội.

Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa lợi ích và ổn định. Nếu như thời kỳ đầu Đổi mới, đảng CSVN nhận được sự đồng thận gần như tuyệt đối của các tầng lớp nhân dân. Thì sau hơn hai mươi năm, khoảng cách thu nhập giữa quan chức và người dân ngày càng rộng ra. Những vụ tham nhũng triệu đô từ các dự án của nhà nước như PMU18, đại lộ Đông Tây,… không thể không làm người dân đặt câu hỏi: cải cách kinh tế này thật sự vì ai? Sự đồng thuận bị xói mòn là điều không thể tránh khỏi. Quốc nạn tham nhũng đang tạo ra sự xung đột xã hội tiềm ẩn giữa một bên là dân chúng, những đảng viên chân chính với một bộ phận thiểu số công bộc từ trung ương đến địa phương. Thanh Hương đồng ý với nhận định của anh Trần Huỳnh Duy Thức trong bản tự khai đã được công bố trên mạng. Anh Thức đã nhìn thấy sự nguy hiểm của nhóm này, gọi chúng là những kẻ cơ hội. Họ chỉ là thiểu số so với bộ máy công chức đồ sộ của chính quyền và hàng triệu đảng viên CSVN, nhưng lại nắm giữ cương vị quan trọng trong cơ quan hoạch định chính sách kinh tế, họ có “quyền” để điều khiển tiền vào túi tham của mình. Để có được nhiều tiền, họ đã bất chấp đạo lý, sẵn sàng bán rẻ lợi ích dân tộc cho ngoại bang. Nghị quyết của Đảng CSVN xác định tham nhũng là nguy cơ, là quốc nạn. Chính phủ đã lập ủy ban chống tham nhũng, đích thân Thủ tướng làm trưởng ban. Quốc hội cũng đã nhiều phiên lên tiếng cảnh báo. Nhưng rốt cuộc, đến nay tham nhũng không những không bị đẩy lùi, xem ra ngày càng trầm trọng. Đây là dạng mâu thuẫn tiềm ẩn, rất khó nhìn thấy, hiện tại mang tính chất xã hội, tương lai gần chắc chắn sẽ bùng phát thành mâu thuẫn chính trị đối kháng, đúng như anh Thức đã dự báo.

 Mâu thuẫn khác, đó là hệ thống cơ chế điều chỉnh các xung đột xã hội chưa phù hợp, thiếu bình đẳng. Trong tiến trình thực hiện đổi mới, chính quyền đã chú trọng thực hiện những cải cách thể chế, định chế phân phối quyền lực phục vụ cho cải cách. Tuy nhiên, các định chế này chưa thể hiện được sự công bằng giữa các thành phần kinh tế, các thành phần xã hội, càng về sau càng phức tạp hơn, khó giám sát trực tiếp hơn, người dân mất dần năng lực tự mình biết, bàn và kiểm tra những cải cách thể chế ấy. Trên thực tế, cải cách ngày càng vuột xa khỏi tầm tay của dân chúng. Đọc bài “văn hóa cuốc đất” của tác giả Trung Hiếu đăng trên báo điện tử Thông luận, loạt bài “những lá thư của những đứa con nông dân” của tác giả Quang Thiều trên báo điện tử Vietnamnet, tin rằng mọi người  thấy rõ sự bất công của các định chế, đẩy nông dân xuống đáy xã hội. Nông dân bị mất ruộng canh tác bởi các dự án golf, các đại gia ngày càng phát, sống phè phởn từ các nguồn lợi kinh doanh bất động sản. Qua báo chí, ta được biết “Làng ung thư” xã Thạch Sơn, gần nhà máy hóa chất Lâm Thao, có 105 người chết vì ung thư, 33 người bị trọng bệnh chỉ trong 15 năm. Vụ nhà máy bột ngọt Vê Đan ở Đồng Nai tùy tiện thải độc giết chết sông Thị Vải, nhiều làng nghề của nông dân. Thế mà, chính quyền địa phương đổ lỗi trung ương, trung ương phán địa phương. Ruốt cuộc, nông dân là người gánh chịu hậu quả. Sự kiện đường phố thành phố Hồ Chí Minh bị các “lô cốt” án ngữ, gây ra tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài từ nhiều tháng nay. Báo giới đã tốn bao nhiêu giấy mực cảnh báo. Chính quyền cũng đã can thiệp. Nhưng tắc vẫn hoàn tắc. Bởi những công bộc trực tiếp cấp phép đào đường, trực tiếp thi công đâu có đi xe máy, đâu phải chấp hành chuẩn mực giờ giấc làm việc. Bị kẹt xe, hao xăng, tổn hại sức khỏe là việc của thảo dân. Các ví dụ trên đây, cho thấy sự bất lực của những nhóm bị thiệt thòi trong tiến trình tăng trưởng kinh tế chủ yếu là nông dân, công nhân và các tầng lớp lao động. Ngoài ra, các tầng lớp lao động còn bị thiệt thòi một cách thụ động bởi các định chế xã hội bất bình đẳng gây ra. Nghiên cứu các quy định điều hòa dân số, chúng ta dễ dàng thấy tính xác thực của nhận định này. Khác với công chức, những người lao động tự do, không bị ràng buộc số con sinh ra. Nếu như định chế sinh con bình đẳng, không phân biệt thành phần xã hội, thậm chí nên vận động thành phần lao động chân tay thu nhập thấp nên hạn chế sinh đẻ, thì thanh phần lao động sẽ bớt khổ. Ở Singapore, Chính phủ từng ban bố chính sách khuyến khích những phụ nữ đã tốt nghiệp đại học, hạn chế đối với chị em chưa tốt nghiệp phổ thông trung học sinh con.

Ngoài ra, có không ít vụ xung đột xã hội xuất phát từ những động cơ không trong sáng của những “tế bào xã hội” không như bình thường. Gần đây, dư luận trong nước đặc biệt chú ý vụ TS luật Cù Huy Hà Vũ khởi kiện Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Thoạt đầu, mọi người nghĩ rằng hành động của anh Vũ nhằm cảnh báo Thủ tướng xem xét quyết định cho Trung Quốc khai thác dự án hàng tỉ Mỹ kim là Bauxite Tây Nguyên. Nhưng càng về sau, ngẫm lại thấy rằng việc làm của TS Vũ giống kẻ như háo danh “đốt đèn”. Bởi, hơn ai hết, là TS luật, anh Vũ thừa biết rằng ở Việt Nam chưa có Tòa án Hiến pháp để thụ án đặc biệt đối với các nguyên thủ quốc gia. Thay vì đấu tranh để Việt Nam sớm có Tòa án Hiến pháp như các nước, TS Vũ lại chọn hình thức theo đuổi đến cùng vụ kiện được báo trước là không có kết quả. Trước đó, TS Vũ cũng đã từng viết đơn tự ứng cử chức vụ Bộ trưởng Văn hóa nhưng đã bị đảng “chê”. Tương tự, nhà dân chủ Phương Nam Đỗ Nam Hải ở Sài Gòn đã gửi thư ngỏ công khai yêu cầu Đảng CSVN “hãy trưng cầu dân ý” về thể chế chính trị tại Việt Nam, tạo điều kiện cho người dân được bày tỏ quan điểm đồng ý hay phản đối đa nguyên chính trị tại Việt Nam. Cũng giống như TS Vũ, Phương Nam Đỗ Nam Hải biết rằng yêu sách của mình là không tưởng, Đảng CSVN đã hy sinh biết bao xương máu để có được quyền lãnh đạo xã hội, chẳng lẽ dễ dàng làm theo yêu sách chẳng mảy may có chút áp lực nào của anh ấy. Vậy, tại sao anh ấy đã hy sinh cuộc sống, sự nghiệp để theo đuổi ý tưởng đó xa vời với thực tế đó? Thực ra, đây chỉ là những hiện tượng xung đột xã hội giả tạo và dư luận đã sớm nhàm chán, chỉ đáng thương cho những “tế bào” không bình thường của xã hội mà thôi.
 
Xung đột xã hội đã được giải quyết như thế nào?

Quan điểm giải quyết xung đột xã hội của Ralf Gustav Dahrendorf là dù cho xung đột có tàn bạo và khốc liệt đến đâu cũng không được đàn áp. Vì đàn áp sẽ chỉ làm cho xung đột trở thành bệnh di căn, đầu độc toàn bộ cơ thể xã hội. Vì vậy, ông đưa ra luận thuyết giải quyết xung đột xã hội bằng điều khiển. Thanh Hương cho rằng, muốn điều khiển được xung đột, trước hết cần phải thiết lập được thể chế xã hội độc lập tham gia điều hòa. Ở Việt Nam, các tổ chức được xem là xã hội như công đoàn, hội nông dân, đoàn thanh niên, hội liên hiệp phụ nữ, các hội ngành nghề khác, trên thực tế chưa đủ năng lực để điều hòa những mâu thuẫn xã hội phát sinh từ thấp đến cao. Nhận xét này được chứng minh bằng sự bất lực, chậm trễ trong việc giải quyết những phản ứng ở qui mô cấp địa phương nhưng lại vượt ra ngoài các định chế pháp luật hiện hành: vụ 400 người tấn công cảnh sát nhằm chống việc xây sân golf ở xã Kim Nỗ, ngoại thành Hà Nội (12/2004); trên 100 người chặn xe rác nhiều ngày ở Tràng Cát, Hải Phòng (2004); 300 người bao vây các phóng viên liên quan đến vụ tranh chấp đất đai ở xã Phú Thượng, Hà Nội (10/2005); vụ hàng trăm “dân oan” tụ tập tại văn phòng Quốc hội tại thành phố Hồ Chí Minh có sự xuất hiện của hòa thượng Thích Quảng Độ và các tu sỹ phật giáo Việt Nam thống nhất (6/2007); hàng trăm người dân xã Long Hưng, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai vì bức xúc quyết định giải tỏa đất liên quan đến mồ mả, đã tụ tập, bao vây chiếm trụ sở chính quyền xã, nêu yêu sách (2/2009). Gần đây nhất, dư luận xã hội hết sức quan tâm đến sự kiện nhóm trí thức tên tuổi thuộc Viện nghiên cứu phát triển do giáo sư Hoàng Tụy làm Chủ tịch, tiến sỹ Nguyễn Quang A làm Viện trưởng  tuyên bố tự giải tán để phán đối Chính phủ; xung đột kéo dài giữa 400 tu sinh Phật giáo Làng Mai với thượng tọa Đức Nghi trụ trì Tu viện Bát Nhã ở Lâm Đồng thuộc Phật giáo Việt Nam và hàng ngàn trí thức trong và ngoài nước ký tên kiến nghị Chính Phủ ngưng dự án Bauxite Tây Nguyên. Ngoài ra, dư luận xã hội không thể không chú ý đến các hoạt động bất đồng chính kiến của những người trí thức trước khi nghỉ hưu đã từng giữ cương vị cao trong bộ máy chính quyền, cơ quan của đảng, các viện, trường thuộc Chính phủ; cá biệt có cá nhân khởi kiện và tuyên bố theo đuổi đến cùng vụ kiện Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến dự án Bauxite Tây Nguyên. Hầu hết các cuộc đình công của công nhân các khu công nghiệp trên cả nước, các đợt tụ tập khiếu kiện đông người của nông dân, xung đột trong tôn giáo, phản ứng của anh chị em trí thức, chúng ta không thấy bóng dáng của Hội Nông dân, Liên hiệp Công đoàn, liên hiệp các hiệp hội khoa học kỹ thuật,…Những sự kiện trên cho thấy xuất hiện những dấu hiệu của mâu thuẫn khi xã hội thiếu kênh thỏa hiệp dẫn tới những phản ứng thái quá và chỉ lắng xuống khi chính quyền can thiệp. Chính quyền can thiệp, dĩ nhiên sẽ tạo ra ức chế, xung đột chỉ tạm thời lắng xuống, cá biệt có xung đột trở thành bệnh di căn, điển hình là khiếu kiện của nông dân, đúng như Nam tước Ralf Gustav Dahrendorf đã nêu ra. Mặc dù, trên thực tế, có nhiều xung đột xã hội được chính quyền giải quyết êm thấm, nhưng sự mặc cảm của dân chúng đã khiến kết quả xung đột được giải quyết không đi theo hướng tích cực, mầm bệnh xung đột vẫn còn.
 
Hướng giải quyết xung đột xã hội đương đại Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam đang ưu tiên tập trung cải cách kinh tế theo các cam kết đã ký với tổ chức thương mại thế giới (WTO). Minh bạch trong các hoạt động kinh tế là một trong những nguyên tắc căn bản của WTO. Theo đó, sự bất bình đẳng trong các thành phần kinh tế tại Việt Nam chắc chắn sẽ bị đẩy lùi, triệt tiêu. Nói như vậy, không có nghĩa là sự xung đột xã hội sẽ giảm xuống. Ngược lại, một khi kinh tế càng phát triển, miếng bánh lợi ích càng lớn lên, sự xuất hiện thêm các nhóm lợi ích là tất yếu. Càng nhiều nhóm lợi ích, sự tranh giành nhau càng trở nên quyết liệt, phức tạp hơn. Vì vậy, cuộc cải cách xã hội phải được tiến hành song song với cải cách (đổi mới) kinh tế. Sứ mệnh của chính quyền là điều hòa tổng thể các hoạt động của xã hội, giải quyết các xung đột phát sinh. Theo tôi, hướng giải quyết xung đột xã hội chủ yếu bằng điều khiển mà Nam tước Ralf Gustav Dahrendorf nêu ra là hướng đi phù hợp với xã hội đương đại Việt Nam. Muốn thực hiện tốt sứ mệnh của mình, chính quyền phải nắm bắt được những nguyên nhân, nguyên cớ phát sinh mâu thuẫn tạo ra xung đột xã hội thông qua các thể chế điều hòa xã hội. Như phần trên đã nêu, các thể chế mang tính xã hội hiện hành như Mặt trận tổ quốc, Tổng Công đoàn, Hội Nông Dân, Đoàn Thanh niên CSHCM, Hội liên hiệp thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đều nằm trong hệ thống chính trị của đảng CSVN, điều kiện tiếp cận các đối tượng tạo ra xung đột xã hội bị hạn chế. Vì vậy, cho phép các hội, hay tổ chức xã hội phi lợi nhuận hoạt động song song với các thể chế trên ở Việt Nam nhằm nâng cao năng lực dự báo, phát hiện, định dạng các xung đột xã hội sẽ xãy ra; tham gia hóa giải các xung đột được xem là kinh niên hiện nay là giải pháp tích cực giải quyết xung đột xã hội. Phân chia quyền lực theo xu hướng xã hội hóa các lĩnh vực kinh tế, xã hội đang là chủ trương ưu tiên của chính quyền. Bộ mặt y tế, giáo dục sau khi được xã hội hóa khác xa so với trước đây, người dân có quyền được lựa chọn dịch vụ. Hy vọng, sau khi được xã hội hóa, ngành truyền thông và báo chí ở Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn. Thực tế quản trị xã hội  trong thời gian qua, chính quyền thừa biết không thể bao biện mãi được, cái gì thuộc về xã hội nên chuyển giao cho nhân dân. Hơn ai hết và hơn lúc nào hết, Việt Nam cần có hệ thống viện thăm dò dư luận xã hội học, các giới, phân tích chính sách công,… do tư nhân điều hành; các hội từ thiện tôn giáo, ngành nghề, lĩnh vực, các tổ chức phi chính phủ hoạt động theo quy chế do Nhà nước ban hành. Theo thống kê, hiện nay Việt Nam mới chỉ có vài trăm tổ chức xã hội hoạt động rời rạc. Trong lúc đó, tại Philipine, quốc gia có trình độ xã hội tương đương Việt Nam có đến 14 ngàn tổ chức (2), chênh lệch quá lớn. Sự kiện IDS tuyên bố tự giải tán để phản đối Quyết định 97 của Chính phủ là việc làm đáng tiếc. Thiết nghĩ, trong lúc hầu hết những người bất đồng chính kiến trong nước muốn có được một pháp nhân để công khai bày tỏ quan điểm, tránh bị quy chụp là “phản động”, thì  IDS lại vội vàng tuyên bố tự giải tán. Dẫu vẫn biết, IDS tuyên bố giải tán là hình thức phản kháng Chính phủ, với mong muốn sẽ có nhiều IDS hơn trong tương lai. Giận hờn cá nhân còn có cơ hội làm lành, chứ giận Chính phủ, e rằng IDS đã tự tước bỏ pháp nhân một cách đáng tiếc. Sự tức giận, nóng nãy thường mất tỉnh táo. Tuy nhiên, qua sự kiện IDS, tin rằng Chính quyền cũng cần nghiên cứu hình thức quản lý các tổ chức xã hội và việc ban bố những quy định dưới luật. Muốn quản lý được hoạt động của các tổ chức xã hội, chính quyền nên tổ chức cho họ có điều kiện đăng ký  hoạt động hợp pháp. Có như vậy, người dân được tự do bày tỏ ý kiến, đề đạt hướng điều hòa bức xúc của chính mình cũng như những người xung quanh một cách hợp pháp. Dân chúng càng lên tiếng, chính quyền càng bền vững. Một khi dân im lặng, chính là lúc chính quyền bị đặt vào tình trạng báo động. Khi đó, những xung đột khủng khiếp đang âm ỉ, sẽ bùng phát mạnh mẽ, rất khó điều khiển. Thực tế xã hội Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay, không lúc nào không xuất hiện những người bất đồng chính kiến. Dù không tuyên bố công khai thừa nhận, tin rằng chính quyền đã nghiên cứu rất kỹ các ý kiến khác biệt để không những tìm cách cản trở, vô hiệu, mà còn phục vụ cho sự điều tiết xã hội trên các lĩnh vực. Đó là lời giải cho việc nhiều nhà bất đồng chính kiến viết, in ấn, phát tán nhiều sách ngoài luồng nhưng không bị bắt như nhà văn Lữ Phương, GS Phan Đình Diệu, Đoàn Duy Thành, Nguyễn Đăng Mạnh, nhóm trí thức IDS,… Chính quyền chỉ ra tay khi có bằng chứng những nhà dân chủ hình thành tổ chức, liên kết với nước ngoài đe dọa địa vị lãnh đạo xã hội của họ mà thôi. Vì vậy, xu hướng chính quyền xem xét tạo điều kiện cho số bất đồng chính kiến, phản kháng dân chủ có cơ hội trình bày quan điểm trái chiều của mình qua một tổ chức xã hội hợp pháp là khả thi. Đây là mục tiêu quan trọng, phong trào dân chủ Việt Nam cần tập trung đấu tranh yêu cầu chính quyền sớm ban hành luật lập hội. Đấu tranh dân chủ công khai chỉ có hiệu quả khi phong trào có được một vị thế hợp pháp, tránh bị quy chụp và tìm cớ đàn áp từ phía chính quyền. Chỉ có như vậy, anh chị em trí thức tâm huyết ngoài đảng (số này rất lớn) có điều kiện tập hợp lại, kết hợp với những đảng viên cấp tiến trong đảng CSVN hình thành lực lượng Dân tộc làm hạt nhân lãnh đạo quần chúng, đúng như ước nguyện mà anh Trần Huỳnh Duy Thức kỳ vọng. 
   

Nguyên nhân xung đột xã hội không thể loại trừ được. Đây là  nguyên lý mà Ralf Gustav Dahrendorf đã chỉ rõ. Thanh Hương cho rằng xã hội đương đại Việt Nam hiện nay đang nằm trong trạng thái xung đột  bùng nổ do cải cách kinh tế sâu rộng, cải cách xã hội cũng đang được rốt ráo thực hiện. Xung đột xã hội càng được thể hiện ra, thì mức độ gay gắt càng giảm đi. Vì vậy, chính quyền chẳng có gì phải lo lắng quá mức. Vấn đề quan trọng là, chính quyền cần phải điều hòa các xung đột theo hướng hóa giải, điều chỉnh để phát huy tính tích cực của các xung đột xã hội tạo ra. Vì vậy, bên cạnh giải pháp cho phép các tổ chức xã hội ra đời, hoạt động hợp pháp, chính quyền cần tạo điều kiện tốt nhất cho Mặt trận tổ quốc nhanh chóng hoàn thành dự án xây dựng quy chế thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức tại Hà Nội từ ngày 18 đến ngày 25 tháng 4 năm 2006. Thanh Hương tin tưởng sâu sắc rằng nếu dự án này được triển khai sẽ quy tụ được nhiều nhà bất đồng chính kiến, trí thức tâm huyết ngoài đảng CSVN trong cũng như ngoài nước tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đất nước. Có như vậy, xã hội Việt Nam hiện đại mới được phát triển bền vững. Vì nó được cải cách, cấu trúc lại dựa trên sự đồng thuận cao của các tầng lớp nhân dân.



 Bài do tác giả, một người thuộc "Nhóm Sinh viên Hồng Bàng" gửi.
 
(1)  Nam tước Ralf Gustav Dahrendorf, sinh 1/5/1929 tại Hamburg (Đức) nhà xã hội học nổi tiếng thế giới, qua đời lúc 81 tuổi.
(2) Tham khảo tài liệu Nguyễn An Nguyên (Nghiên cứu sinh kinh tế học Rice University)