- Trang Chủ
- Điểm Nóng
- Chính trị thế giới
- Bài 6: Chiếc bóng của cuộc tàn sát Thiên An Môn
Bài 6: Chiếc bóng của cuộc tàn sát Thiên An Môn
- Tác Giả Nguyễn Ước
- Đăng ngày 14.10.09
- Chính trị thế giới
Jean-Philippe Béja là nhà nghiên cứu kỳ cựu của Centre Nationale de la Recherche Scientifique (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia) và Center for International Studies and Research (Sicences-Po) (Trung tâm Nghiên cứu và Ðiều nghiên Quốc tế (Khoa học-Chính trị)) tại Paris, hiện có cơ sở tại The French Center for the Study of Contemporary China (Trung tâm Pháp Nghiên cứu Trung Quốc đương đại). Trong số các sách đã xuất bản của ông có A la recherche d’une ombre chinoise: Le mouvement pour la democratie en Chine, 1919-2004 (Nghiên cứu chiếc bóng Trung Quốc: Phong trào dân chủ tại Trung Quốc, 1919-2004), Edition du Seuil, Paris, 2004.
“Cứ giết hai trăm ngàn để có được hai chục năm yên ổn.” Hai chục năm sau cuộc tàn sát tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu năm 1989, lời trích dẫn ấy được qui cho Ðặng Tiểu Bình và dường như nó không lên tới con số lớn lao đó. Chỉ tốn có một ngàn hai trăm người chết để Ðảng Cộng sản Trung Quốc (ÐCSTQ) đạt được nguyện vọng hai thập niên bình lặng. Tuy thế, bên dưới bề mặt ổn định đó, cuộc tàn sát ấy vẫn tác động sâu xa lên các nhà cai trị Trung Quốc (TQ) cũng như phía đối kháng họ. Sự căng thẳng mà các lãnh tụ ÐCSTQ nói tới khi đến gần ngày kỷ niệm năm thứ 20 Thiên An Môn cho thấy rằng, bất chấp mọi nỗ lực tẩy xóa biến cố này của các sử gia chính thức và ký ức của đại chúng, Đảng vẫn còn bị nó ám ảnh.[1]
Khi chiến xa của Quân đội Nhân dân Giải phóng (QÐNDGP) lăn vào trung tâm thành phố Bắc Kinh ngày 4 tháng Sáu để ủi các sinh viên, những kẻ – với sự trợ giúp của các công dân đang cố sức ngăn cản những cuộc chuyển quân – chiếm cứ Quảng trường Thiên An Môn từ trung tuần tháng Năm, ÐCSTQ và lãnh tụ chóp bu Ðặng Tiểu Bình đột nhiên cay nghiệt ném ra một ngọn lửa mới.
Kể từ hành động củng cố quyền lực của mình vào cuối thập niên 1980, Ðặng càng ngày càng có vẻ là một anh hùng đối với hầu hết người TQ. Ông phục hồi nhiều nạn nhân của Mao, cho phép những thanh niên nam nữ bị vị Chủ tịch quá cố phái xuống nông thôn được quay về thành thị, nới lỏng các kiểm soát đối với kinh tế nông thôn và trong cuộc sống hằng ngày, và như thế, ông thu phục được sự ủng hộ của nông dân, trí thức và thanh niên.
Ðặng được đánh giá là người theo chủ nghĩa thực dụng, kẻ dũng cảm đương đầu với những người theo phái tân-Mao-ít, đồng thời muốn cải thiện tiêu chuẩn đời sống của người công dân trung bình. Triệu Tử Dương, người được chính tay Ðặng chọn lựa kỹ càng để làm Tổng Bí thư ÐCSTQ, lúc này nói tới việc đối thoại rộng rãi hơn với xã hội, thậm chí tới việc tách Đảng ra khỏi chính quyền. Trên qui mô lớn, các công dân có cảm giác tự do hơn khi nói lên bất mãn của mình, trong lúc sinh viên và các nhà trí thức đang tranh luận về những viễn cảnh cho một sự dân chủ hóa gia tăng. Những cuộc biểu tình của sinh viên hồi năm 1986 đã gặp phản ứng nhẹ nhàng của chính quyền khiến dường như có thể có một ít bằng chứng cho ý niệm rằng Đảng đã thay đổi và đang được lãnh đạo bởi các nhân vật ít dị ứng với sự bất đồng ý kiến hơn Người Cầm lái Vĩ đại trước đây. Thế rồi, những phát súng bắn ngày 4 tháng Sáu và sự thẳng tay đàn áp tiếp đó đã gây choáng váng tột độ, đảo ngược các ấn tượng vừa kể cũng như các kỳ vọng vào tính bao dung của chế độ.
Liền theo sau biến cố Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu, Ðặng Tiểu Bình chỉ tỏ lòng thương tiếc các bộ đội và viên chức công an đã chết [2], trong khi sinh viên và công dân địa phương từng chống cự QÐNDGP thì bị kết án là “những tên phiến loạn”. Sự tương phản giữa bài diễn văn này và thực tại đã gây sốc tới độ nó giáng một đòn cực mạnh vào tính chính thống của ÐCSTQ mà bản chất của nó dường như không thay đổi, bất chấp mọi cải cách trong thập niên 1980.
Những bản án tử hình và giam cầm dài ngày phát cho “những tên phiến loạn” và những người khác đã dám chống lại quân đội; sự áp dụng những kiểm soát nghiêm ngặt báo chí; và việc giải tán hết thảy các nhóm xã hội dân sự xuất hiện thời thập niên 1980, đã cho thấy Đảng muốn áp đặt sự cai trị của mình bằng vũ lực. Không có vấn đề phát biểu ý kiến bất đồng và chỉ đề cập tới cuộc đàn áp thôi cũng đủ khiến người ta có thể đi tù.
Bài học chính mà Ðặng rút ra từ “cuộc rối loạn” hoặc “cơn bão” năm 1989 là nhu cầu tái xác nhận cái gọi là Bốn Nguyên lý Chủ đạo: Chủ nghĩa xã hội; Tư tưởng Mao-ít Mác-xít Lê-ni-nít; Chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân; và Quyền lãnh đạo của Ðảng CSTQ. Ðối với một người Lê-ni-nít như Ðặng, sự rạn nứt của ÐCSTQ đã là và vẫn còn là mối đe dọa trầm trọng nhất. Triệu Tử Dương, trong khi tiếp tục giữ niềm tin vào việc đối thoại sâu rộng hơn với xã hội, muốn mở những cuộc nói chuyện với sinh viên biểu tình, kể cả sau khi Ðặng Tiểu Bình đã viết trong Nhân dân Nhật báo số ra ngày 26 tháng Tư rằng bọn chúng chẳng hơn gì “một nhúm những tên phản cách mạng.”[3]
Khi Ðặng tuyên bố thiết quân luật vào ngày 20 tháng Năm, Triệu từ chức để phản đối (cũng có hai nguyên soái chống lại việc thiết quân luật), khiến họ Ðặng lo lắng sâu xa về sự nứt rạn trong hàng ngũ cao cấp hơn của Ðảng. Việc Triệu không chịu hứa sẽ tự kiểm điểm hành động của mình khiến ông bị quản chế tại gia cho tới ngày qua đời vào năm 2005.[4] Từ đó, tên ông bị xóa khỏi truyền thông chính thức, kể cả sách giáo khoa sử ký.
Trước biến cố Thiên An Môn, cạnh tranh giữa những người cải cách tập hợp chung quanh Ðặng và những người bảo thủ của Đảng do Trần Vân (Chen Yun) cầm đầu. Kể từ lúc đó, ÐCSTQ sẵn sàng trả bất cứ giá nào để duy trì sự đoàn kết trong Đảng. Rõ ràng là các lãnh tụ lão thành khác nhau từng phân rẽ theo những chính sách khác nhau, nhưng điều quan trọng là không bao giờ được phép đạt tới điểm “tranh chấp giữa hai đường lối”. Sự thôi thúc ÐCSTQ phải siết chặt hàng ngũ và giữ gìn đoàn kết là một trong những di sản chủ yếu của ngày 4 tháng Sáu năm 1989.
Tính chính thống qua sự kết nạp ưu tuyển
Không lâu sau biến cố Thiên An Môn, sự rạn nứt của Liên bang Sô-viết (LBSV) và những tai ương kinh tế làm rung chuyển các nhà nước kế thừa của nó đã cho các lãnh tụ của ÐCSTQ một cơ hội tuyệt vời để lấy lại thế chủ động. Không phải chính sách glasnost (cởi mở) đầy tai họa của Mikhail Gorbachev đã làm vỡ LBSV một thời hùng mạnh thành từng mảnh, khiến ÐCS đánh mất quyền lực sao? Nếu ÐCSTQ làm theo ý muốn của Triệu Tử Dương mà nhượng bộ phong trào dân chủ thì liệu Tây Tạng và Tân Cương sẽ không ly khai, Ðảng sẽ không tuột mất quyền lực và một TQ chia cắt sẽ không tự thấy nó trườn trở lại tình trạng nghèo khổ khủng khiếp? Phải chăng giấc mơ một TQ “hùng cường và thịnh vượng” – giấc mơ không chỉ được chia sẻ bởi các lãnh tụ ÐCSTQ mà còn bởi các thế hệ trí thức TQ từ Chiến tranh Nha phiến vào giữa thế kỷ 19 – đang bị nghiền nát? Chẳng phải cách giải quyết của họ Ðặng trên bề mặt của cuộc xáo trộn thân dân chủ nguy hiểm đã giữ cho TQ thống nhất và cứu nó thoát khỏi những âm mưu đáng ngờ của phương Tây sao?
Bỏ sang một bên lối hùng biện ấy, Ðặng hiểu rất rõ rằng lý do chính khiến LBSV sụp đổ là vì thất bại kinh tế của nó và rằng hành động tăng gấp đôi các kiểm soát mang tính độc tài chuyên chế tự nó không thể giải quyết các vấn đề của TQ. Vì thế ông khắc phục tâm trạng lưỡng lự của các đồng đảng bảo thủ (người Mác-xít chính thống) và phát động một đợt sóng mới gồm những cải cách kinh tế vào năm 1992 [5]. Trong khi đề quyết rằng công tác chủ yếu của ÐCSTQ là làm cho TQ giàu và mạnh, Ðặng thêm rằng các câu hỏi như việc chính sách đã định mang tính “tư bản chủ nghĩa” hay mang tính “xã hội chủ nghĩa” đều lạc đề, vì “phát triển là vấn đề quan trọng nhất”. Ðể đạt được nó, Ðặng nhấn mạnh tầm quan trọng của cởi mở kinh tế, đi theo sự toàn cầu hóa và cho phép người mạo hiểm kinh doanh được làm giàu.
Ðối với giới trí thức từng đóng vai trò lớn trong các cuộc phản đối năm 1989, Ðặng đưa ra cái có nghĩa như một khế ước xã hội mới. Ông có thể phục hồi về mặt phẩm hạnh cho các nhà trí thức ấy bằng cách tuyên bố rằng họ thuộc thành phần giai cấp lao động tính từ năm 1978, nhưng như thế chẳng làm gì cho họ về mặt vật chất. Sau chuyến tuần du phương nam năm 1992, Ðặng cho họ được phép trở thành người mở cơ sở kinh doanh và tích lũy tài sản. Nhiều nhà trí thức nắm lấy cơ hội này và bận rộn túi bụi thành lập công ty dịch vụ hay công nghệ cao. Những kẻ ở lại trong giới hàn lâm được phép liên kết với cộng đồng khoa học quốc tế, và các điều kiện lương bổng, phúc lợi, cơ hội làm việc của họ được cải thiện rất lẹ.
Tóm lại, Đảng đã quyết định kết nạp các loại hạng xã hội có vấn đề nhất, những kẻ từng có mặt ở hàng đầu của phong trào dân chủ. Trái với thập niên 1980 là thời sinh viên miễn cưỡng gia nhập Đảng, tới cuối thập niên 1990, hơn 80% sinh viên nạp đơn xin làm thành viên ÐCSTQ. Như lời mô tả của Giang Trạch Dân, Đảng sẽ nới rộng để tiêu biểu cho các tập thể lớn lao của TQ và cũng sẽ là đại diện cho các lực lượng sản xuất tiên tiến (các doanh gia, kỹ sư và đại loại như thế) và các lực lượng văn hóa tiên tiến nhất (các nhà trí thức đồng ý không đặt vấn đề về sự cai trị của ÐCSTQ). Cái gọi là Ba-đại-diện cùng thao tác, cái này tiếp liền cái kia với nỗ lực kiên quyết ngăn chặn sự xuất hiện của bất cứ thực thể tự trị nào có thể thách đố sự cai trị của Đảng – và ÐCSTQ lấy được sự ủng hộ của những người ưu tú về kinh tế và nhận thức, những kẻ đi theo cái bị nhà nghiên cứu văn học và bất đồng ý kiến Lưu Hiểu Ba gọi là “triết lý con lợn”.[6]
Khi các chính sách phát triển hữu hảo với giới ưu tuyển (elite-friendly) mới mẻ được đưa vào thực hiện, chúng bắt đầu gây phiền nhiễu các công nhân trong công ty quốc doanh và các nông dân chắt bóp bằng việc sụt giá nông trại. Nhằm ngăn chặn tình trạng bất mãn sôi sục giữa các giai cấp bên lề ấy khỏi cô kết thành một phong trào giống như cái đã gây nên cuộc náo động năm 1989, các lãnh tụ Đảng dùng chính sách cây gậy và củ cà rốt.
Các toan tính thành lập nghiệp đoàn tự trị hoặc thậm chí các nhóm hội họp thảo luận thì sẽ gặp cây gậy trong hình thức đàn áp ngay tức khắc. Không được phép xuất hiện trở lại những cái từng nở rộ vào cuối thập niên 1980, những cái tương tự như đàm luận nơi phòng khách (salon), trung tâm nghiên cứu bán tự trị, truyền thông bán tự trị. Năm 1998, khi các nhà hoạt động ra sức thành lập Ðảng Dân chủ Trung Quốc, Giang Trạch Dân ra lệnh “Bóp chết [nó] ngay trong trứng nước”. Thậm chí “các nhóm suy tưởng” vô thưởng vô phạt như Nhóm Nghiên cứu Thanh niên Mới, cả thảy chỉ có tám thành viên cũng trở thành mục tiêu bị đàn áp nặng nề.[7] Các nhà trí thức ra sức giúp đỡ nông dân và công nhân trình bày rõ ràng những khiếu nại của họ đều luôn luôn bị Ðảng xem là ác mộng và được guồng máy công an nội chính chú ý đặc biệt. Việc lập ra những liên kết hoặc móc nối giữa các làng xã hoặc các đơn vị lao động đều bị nghiêm cấm.
[1]Luo Bing. “Min’gan nian tishen jiebei bage yue” (Cảnh giác cao độ trong suốt tám tháng của một năm nhạy cảm). Zhenming. Tháng Tư 2009. 6-7
[2]Deng Xiaoping, “Address to Officers at the Rank of General and Above in Command of the Troops Enforcing Martial Laws in Beijing, June 9, 1989”. Có ở: http:// web.peopledaily.com.en/english/dengxp/vol3/text/c1990.html
[3]Xem “Overtly Oppose the Turmoil” (Qizhi xianmingde fandui dongluan) Nhân dân Nhật báo (Bắc Kinh) 26 tháng Tư 1989.
[4]Xem Zhao Ziyang, Prisoner of the State: The Secret Journal of Zhao Ziyang, dịich và biên tập bởi Bao Pu, Renée Chiang, và Adi Ignatius (New York: Simon and Schuster, 2009), 29.
[5]Suisheng Zhao, “Deng Xiaoping’s Southern Tour: Elite Politics in Post-Tianmen China.” Asian Survey 33 (Tháng Tám 1993): 739-56.
[6]Liu Xiaobo “Zhu de zhexue” (The philosophy of the pig) Dongxiang, tháng Chín 2000, 29-36.
[7]Philip P. Pan, “A Study Group Is Crushed in China’s Grip” Washington Post, 23, tháng Tư 2004; có ở www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2004/04/23/AR2005040206572.html.
“Cứ giết hai trăm ngàn để có được hai chục năm yên ổn.” Hai chục năm sau cuộc tàn sát tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu năm 1989, lời trích dẫn ấy được qui cho Ðặng Tiểu Bình và dường như nó không lên tới con số lớn lao đó. Chỉ tốn có một ngàn hai trăm người chết để Ðảng Cộng sản Trung Quốc (ÐCSTQ) đạt được nguyện vọng hai thập niên bình lặng. Tuy thế, bên dưới bề mặt ổn định đó, cuộc tàn sát ấy vẫn tác động sâu xa lên các nhà cai trị Trung Quốc (TQ) cũng như phía đối kháng họ. Sự căng thẳng mà các lãnh tụ ÐCSTQ nói tới khi đến gần ngày kỷ niệm năm thứ 20 Thiên An Môn cho thấy rằng, bất chấp mọi nỗ lực tẩy xóa biến cố này của các sử gia chính thức và ký ức của đại chúng, Đảng vẫn còn bị nó ám ảnh.[1]
Khi chiến xa của Quân đội Nhân dân Giải phóng (QÐNDGP) lăn vào trung tâm thành phố Bắc Kinh ngày 4 tháng Sáu để ủi các sinh viên, những kẻ – với sự trợ giúp của các công dân đang cố sức ngăn cản những cuộc chuyển quân – chiếm cứ Quảng trường Thiên An Môn từ trung tuần tháng Năm, ÐCSTQ và lãnh tụ chóp bu Ðặng Tiểu Bình đột nhiên cay nghiệt ném ra một ngọn lửa mới.
Kể từ hành động củng cố quyền lực của mình vào cuối thập niên 1980, Ðặng càng ngày càng có vẻ là một anh hùng đối với hầu hết người TQ. Ông phục hồi nhiều nạn nhân của Mao, cho phép những thanh niên nam nữ bị vị Chủ tịch quá cố phái xuống nông thôn được quay về thành thị, nới lỏng các kiểm soát đối với kinh tế nông thôn và trong cuộc sống hằng ngày, và như thế, ông thu phục được sự ủng hộ của nông dân, trí thức và thanh niên.
Ðặng được đánh giá là người theo chủ nghĩa thực dụng, kẻ dũng cảm đương đầu với những người theo phái tân-Mao-ít, đồng thời muốn cải thiện tiêu chuẩn đời sống của người công dân trung bình. Triệu Tử Dương, người được chính tay Ðặng chọn lựa kỹ càng để làm Tổng Bí thư ÐCSTQ, lúc này nói tới việc đối thoại rộng rãi hơn với xã hội, thậm chí tới việc tách Đảng ra khỏi chính quyền. Trên qui mô lớn, các công dân có cảm giác tự do hơn khi nói lên bất mãn của mình, trong lúc sinh viên và các nhà trí thức đang tranh luận về những viễn cảnh cho một sự dân chủ hóa gia tăng. Những cuộc biểu tình của sinh viên hồi năm 1986 đã gặp phản ứng nhẹ nhàng của chính quyền khiến dường như có thể có một ít bằng chứng cho ý niệm rằng Đảng đã thay đổi và đang được lãnh đạo bởi các nhân vật ít dị ứng với sự bất đồng ý kiến hơn Người Cầm lái Vĩ đại trước đây. Thế rồi, những phát súng bắn ngày 4 tháng Sáu và sự thẳng tay đàn áp tiếp đó đã gây choáng váng tột độ, đảo ngược các ấn tượng vừa kể cũng như các kỳ vọng vào tính bao dung của chế độ.
Liền theo sau biến cố Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu, Ðặng Tiểu Bình chỉ tỏ lòng thương tiếc các bộ đội và viên chức công an đã chết [2], trong khi sinh viên và công dân địa phương từng chống cự QÐNDGP thì bị kết án là “những tên phiến loạn”. Sự tương phản giữa bài diễn văn này và thực tại đã gây sốc tới độ nó giáng một đòn cực mạnh vào tính chính thống của ÐCSTQ mà bản chất của nó dường như không thay đổi, bất chấp mọi cải cách trong thập niên 1980.
Những bản án tử hình và giam cầm dài ngày phát cho “những tên phiến loạn” và những người khác đã dám chống lại quân đội; sự áp dụng những kiểm soát nghiêm ngặt báo chí; và việc giải tán hết thảy các nhóm xã hội dân sự xuất hiện thời thập niên 1980, đã cho thấy Đảng muốn áp đặt sự cai trị của mình bằng vũ lực. Không có vấn đề phát biểu ý kiến bất đồng và chỉ đề cập tới cuộc đàn áp thôi cũng đủ khiến người ta có thể đi tù.
Bài học chính mà Ðặng rút ra từ “cuộc rối loạn” hoặc “cơn bão” năm 1989 là nhu cầu tái xác nhận cái gọi là Bốn Nguyên lý Chủ đạo: Chủ nghĩa xã hội; Tư tưởng Mao-ít Mác-xít Lê-ni-nít; Chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân; và Quyền lãnh đạo của Ðảng CSTQ. Ðối với một người Lê-ni-nít như Ðặng, sự rạn nứt của ÐCSTQ đã là và vẫn còn là mối đe dọa trầm trọng nhất. Triệu Tử Dương, trong khi tiếp tục giữ niềm tin vào việc đối thoại sâu rộng hơn với xã hội, muốn mở những cuộc nói chuyện với sinh viên biểu tình, kể cả sau khi Ðặng Tiểu Bình đã viết trong Nhân dân Nhật báo số ra ngày 26 tháng Tư rằng bọn chúng chẳng hơn gì “một nhúm những tên phản cách mạng.”[3]
Khi Ðặng tuyên bố thiết quân luật vào ngày 20 tháng Năm, Triệu từ chức để phản đối (cũng có hai nguyên soái chống lại việc thiết quân luật), khiến họ Ðặng lo lắng sâu xa về sự nứt rạn trong hàng ngũ cao cấp hơn của Ðảng. Việc Triệu không chịu hứa sẽ tự kiểm điểm hành động của mình khiến ông bị quản chế tại gia cho tới ngày qua đời vào năm 2005.[4] Từ đó, tên ông bị xóa khỏi truyền thông chính thức, kể cả sách giáo khoa sử ký.
Trước biến cố Thiên An Môn, cạnh tranh giữa những người cải cách tập hợp chung quanh Ðặng và những người bảo thủ của Đảng do Trần Vân (Chen Yun) cầm đầu. Kể từ lúc đó, ÐCSTQ sẵn sàng trả bất cứ giá nào để duy trì sự đoàn kết trong Đảng. Rõ ràng là các lãnh tụ lão thành khác nhau từng phân rẽ theo những chính sách khác nhau, nhưng điều quan trọng là không bao giờ được phép đạt tới điểm “tranh chấp giữa hai đường lối”. Sự thôi thúc ÐCSTQ phải siết chặt hàng ngũ và giữ gìn đoàn kết là một trong những di sản chủ yếu của ngày 4 tháng Sáu năm 1989.
Tính chính thống qua sự kết nạp ưu tuyển
Không lâu sau biến cố Thiên An Môn, sự rạn nứt của Liên bang Sô-viết (LBSV) và những tai ương kinh tế làm rung chuyển các nhà nước kế thừa của nó đã cho các lãnh tụ của ÐCSTQ một cơ hội tuyệt vời để lấy lại thế chủ động. Không phải chính sách glasnost (cởi mở) đầy tai họa của Mikhail Gorbachev đã làm vỡ LBSV một thời hùng mạnh thành từng mảnh, khiến ÐCS đánh mất quyền lực sao? Nếu ÐCSTQ làm theo ý muốn của Triệu Tử Dương mà nhượng bộ phong trào dân chủ thì liệu Tây Tạng và Tân Cương sẽ không ly khai, Ðảng sẽ không tuột mất quyền lực và một TQ chia cắt sẽ không tự thấy nó trườn trở lại tình trạng nghèo khổ khủng khiếp? Phải chăng giấc mơ một TQ “hùng cường và thịnh vượng” – giấc mơ không chỉ được chia sẻ bởi các lãnh tụ ÐCSTQ mà còn bởi các thế hệ trí thức TQ từ Chiến tranh Nha phiến vào giữa thế kỷ 19 – đang bị nghiền nát? Chẳng phải cách giải quyết của họ Ðặng trên bề mặt của cuộc xáo trộn thân dân chủ nguy hiểm đã giữ cho TQ thống nhất và cứu nó thoát khỏi những âm mưu đáng ngờ của phương Tây sao?
Bỏ sang một bên lối hùng biện ấy, Ðặng hiểu rất rõ rằng lý do chính khiến LBSV sụp đổ là vì thất bại kinh tế của nó và rằng hành động tăng gấp đôi các kiểm soát mang tính độc tài chuyên chế tự nó không thể giải quyết các vấn đề của TQ. Vì thế ông khắc phục tâm trạng lưỡng lự của các đồng đảng bảo thủ (người Mác-xít chính thống) và phát động một đợt sóng mới gồm những cải cách kinh tế vào năm 1992 [5]. Trong khi đề quyết rằng công tác chủ yếu của ÐCSTQ là làm cho TQ giàu và mạnh, Ðặng thêm rằng các câu hỏi như việc chính sách đã định mang tính “tư bản chủ nghĩa” hay mang tính “xã hội chủ nghĩa” đều lạc đề, vì “phát triển là vấn đề quan trọng nhất”. Ðể đạt được nó, Ðặng nhấn mạnh tầm quan trọng của cởi mở kinh tế, đi theo sự toàn cầu hóa và cho phép người mạo hiểm kinh doanh được làm giàu.
Ðối với giới trí thức từng đóng vai trò lớn trong các cuộc phản đối năm 1989, Ðặng đưa ra cái có nghĩa như một khế ước xã hội mới. Ông có thể phục hồi về mặt phẩm hạnh cho các nhà trí thức ấy bằng cách tuyên bố rằng họ thuộc thành phần giai cấp lao động tính từ năm 1978, nhưng như thế chẳng làm gì cho họ về mặt vật chất. Sau chuyến tuần du phương nam năm 1992, Ðặng cho họ được phép trở thành người mở cơ sở kinh doanh và tích lũy tài sản. Nhiều nhà trí thức nắm lấy cơ hội này và bận rộn túi bụi thành lập công ty dịch vụ hay công nghệ cao. Những kẻ ở lại trong giới hàn lâm được phép liên kết với cộng đồng khoa học quốc tế, và các điều kiện lương bổng, phúc lợi, cơ hội làm việc của họ được cải thiện rất lẹ.
Tóm lại, Đảng đã quyết định kết nạp các loại hạng xã hội có vấn đề nhất, những kẻ từng có mặt ở hàng đầu của phong trào dân chủ. Trái với thập niên 1980 là thời sinh viên miễn cưỡng gia nhập Đảng, tới cuối thập niên 1990, hơn 80% sinh viên nạp đơn xin làm thành viên ÐCSTQ. Như lời mô tả của Giang Trạch Dân, Đảng sẽ nới rộng để tiêu biểu cho các tập thể lớn lao của TQ và cũng sẽ là đại diện cho các lực lượng sản xuất tiên tiến (các doanh gia, kỹ sư và đại loại như thế) và các lực lượng văn hóa tiên tiến nhất (các nhà trí thức đồng ý không đặt vấn đề về sự cai trị của ÐCSTQ). Cái gọi là Ba-đại-diện cùng thao tác, cái này tiếp liền cái kia với nỗ lực kiên quyết ngăn chặn sự xuất hiện của bất cứ thực thể tự trị nào có thể thách đố sự cai trị của Đảng – và ÐCSTQ lấy được sự ủng hộ của những người ưu tú về kinh tế và nhận thức, những kẻ đi theo cái bị nhà nghiên cứu văn học và bất đồng ý kiến Lưu Hiểu Ba gọi là “triết lý con lợn”.[6]
Khi các chính sách phát triển hữu hảo với giới ưu tuyển (elite-friendly) mới mẻ được đưa vào thực hiện, chúng bắt đầu gây phiền nhiễu các công nhân trong công ty quốc doanh và các nông dân chắt bóp bằng việc sụt giá nông trại. Nhằm ngăn chặn tình trạng bất mãn sôi sục giữa các giai cấp bên lề ấy khỏi cô kết thành một phong trào giống như cái đã gây nên cuộc náo động năm 1989, các lãnh tụ Đảng dùng chính sách cây gậy và củ cà rốt.
Các toan tính thành lập nghiệp đoàn tự trị hoặc thậm chí các nhóm hội họp thảo luận thì sẽ gặp cây gậy trong hình thức đàn áp ngay tức khắc. Không được phép xuất hiện trở lại những cái từng nở rộ vào cuối thập niên 1980, những cái tương tự như đàm luận nơi phòng khách (salon), trung tâm nghiên cứu bán tự trị, truyền thông bán tự trị. Năm 1998, khi các nhà hoạt động ra sức thành lập Ðảng Dân chủ Trung Quốc, Giang Trạch Dân ra lệnh “Bóp chết [nó] ngay trong trứng nước”. Thậm chí “các nhóm suy tưởng” vô thưởng vô phạt như Nhóm Nghiên cứu Thanh niên Mới, cả thảy chỉ có tám thành viên cũng trở thành mục tiêu bị đàn áp nặng nề.[7] Các nhà trí thức ra sức giúp đỡ nông dân và công nhân trình bày rõ ràng những khiếu nại của họ đều luôn luôn bị Ðảng xem là ác mộng và được guồng máy công an nội chính chú ý đặc biệt. Việc lập ra những liên kết hoặc móc nối giữa các làng xã hoặc các đơn vị lao động đều bị nghiêm cấm.
[1]Luo Bing. “Min’gan nian tishen jiebei bage yue” (Cảnh giác cao độ trong suốt tám tháng của một năm nhạy cảm). Zhenming. Tháng Tư 2009. 6-7
[2]Deng Xiaoping, “Address to Officers at the Rank of General and Above in Command of the Troops Enforcing Martial Laws in Beijing, June 9, 1989”. Có ở: http:// web.peopledaily.com.en/english/dengxp/vol3/text/c1990.html
[3]Xem “Overtly Oppose the Turmoil” (Qizhi xianmingde fandui dongluan) Nhân dân Nhật báo (Bắc Kinh) 26 tháng Tư 1989.
[4]Xem Zhao Ziyang, Prisoner of the State: The Secret Journal of Zhao Ziyang, dịich và biên tập bởi Bao Pu, Renée Chiang, và Adi Ignatius (New York: Simon and Schuster, 2009), 29.
[5]Suisheng Zhao, “Deng Xiaoping’s Southern Tour: Elite Politics in Post-Tianmen China.” Asian Survey 33 (Tháng Tám 1993): 739-56.
[6]Liu Xiaobo “Zhu de zhexue” (The philosophy of the pig) Dongxiang, tháng Chín 2000, 29-36.
[7]Philip P. Pan, “A Study Group Is Crushed in China’s Grip” Washington Post, 23, tháng Tư 2004; có ở www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2004/04/23/AR2005040206572.html.

