
1.
Năm
70 tuổi tôi bắt đầu chán viết, người rã ra, đọc sách cũng nằm, đọc được mười
lăm phút chữ nghĩa đã loè nhoè, chả rõ mình đang đọc cái gì. Rồi ngủ. Ngủ như
chim, một chớp mắt đã tỉnh, tiếp tục đọc nốt cái nửa trang đọc dở vẫn cứ lờ mờ
vì chả còn nhớ họ viết cái gì trong cái nửa trang vừa đọc. Cũng năm ấy tôi được
trao giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 2. Mừng thì rất mừng
nhưng tôi đã nhận ra ngay đây là tấm bia mộ sang trọng cắm lên một đời văn đã
tới hồi phải kết thúc. Thế là lại buồn, ra vào ngẩn ngơ cả tháng.
Rồi
quyết định ra chơi ngoài Bắc, trở lại quê ngoại là nơi tôi đăng ký tòng quân
năm 1946, cũng là nơi tôi tập tọng viết những bài báo kháng chiến đầu tiên in
litô vào năm 1949. Nó mở đầu cho nhiều chục năm tiếp theo, vừa là anh bộ đội
vừa là nhà báo nhà văn. Cái thị xã quạnh quẽ, tơi tớp, tối tăm, toàn một màu
xanh và đen những năm nào, giờ đã biến hoá thành một quận của Hà Nội hay Sài
Gòn hôm nay. Lại nhớ tới những dãy phố ngắn ngủi, nhà thấp, hè hẹp, rợp bóng
nhãn, mặt người hiền lành, dáng đi thong thả, thị xã như cái làng lớn, đi một
đoạn đường phải chào hỏi không biết bao nhiêu là người vì toàn người quen cả.
Năm chục năm sau,
trở lại cái thị xã của tuổi mới trưởng thành, mà là trở về lần thứ ba (hai lần
trước cách đây đã hơn hai chục năm) , cái mảnh đất thân thuộc đã hoá ra xa lạ.
Đạp xe cả ngày chả gặp người quen nào, hoặc có gặp nhưng đã là hai ông già ở tuổi
bảy mươi làm sao nhớ lại gương mặt của nhau cái thời mới mười tám đôi mươi. Lần
về thứ hai vẫn còn ba người quen cũ, một người là Thuận, đại tá về hưu, một
người là Tùng, trung đội phó, một người là Mễ, tiểu đội trưởng là những cấp chỉ
huy đầu tiên của tôi trong cuộc sống quân ngũ.
Lần này về gặp
anh Thuận, cũng là ông chủ báo đầu tiên của tôi, anh hơn tôi vài tuổi. Còn hai
người kia đều mới mất ở tuổi ngoài bảy mươi cả. Đường phố không quen, mặt người
không quen, còn lại một ông bạn thân tối ngày đi họp, đủ các thứ hội hè để ông
đến họp, vẫn là cái khát khao của người đã già, đã nghỉ hưu có dịp gặp lại bạn
cũ, trò chuyện là chính, nhắc lại chuyện ngày xưa là chính, rồi than thở, đủ
thứ than thở, chuyện nhà chuyện nước. Cũng buồn nhỉ ? Chuyện người già có vui
bao giờ, người đã xong một việc có làm gì cũng không thể vui.
Vì tôi là người
có gốc địa phương nên tỉnh uỷ có gặp và mời ăn một lần cho phải phép. Nhưng
nhìn những gương mặt quan chức của tỉnh hôm nay mà kinh ngạc. Mặt người nào
cũng đầy những múi thịt, sần sùi, nói nhiều, cười to, lời lẽ nhạt nhẽo, dung
tục, và không bao giờ nhìn thẳng vào mặt mình để nói, cứ như là đang nói với
một ai khác ngồi cạnh mình hoặc ngồi sau mình.
Bữa
sắp về Hà Nội, bí thư tỉnh uỷ lại mời gặp, không phải là gặp chính thức mà là
cùng ngồi ăn sáng với ông vì ông cũng đang bận. Buổi gặp vừa hình thức vừa khó
chịu vì chỉ có người lãnh đạo của tỉnh nói, nói như người rao hàng, mắt nhìn
đâu đâu, bụng nghĩ đâu đâu. Tôi chỉ còn nhớ một chuyện, có một ông tướng, là
danh tướng, người địa phương, có đem một giống hoa lạ từ Hà Nội về, tự tay ông
trồng ở vườn hoa của tỉnh uỷ vì phải chọn đúng ngày, đúng giờ, cả đúng hướng
nữa mới đem lại thịnh vượng, hạnh phúc cho dân trong tỉnh. Thật vậy sao ?
Trong
mấy ngày xuống xã vừa vui vừa buồn. Ai cũng giàu có hơn trước, nấu cơm bằng nồi
cơm điện, tối xem tivi mầu, giờ rảnh thì xem phim bộ. Mỗi xóm đều có cửa hàng
cho thuê băng vidéo, có gái điếm cho ngủ chịu đến mùa trả bằng thóc, có cờ bạc,
có hút thuốc phiện và chích heroin, thành phố có gì ở làng quê đều có, cả hay
lẫn dở, dở nhiều hơn hay. Tôi về một xã, xã cho tôi ở nhà một anh bưu tá, lúc
rảnh rỗi hỏi chuyện gì anh cũng bảo không biết. Ở xã ba ngày, đảng uỷ, uỷ ban
không ai tiếp cả.
Có
một buổi tối có một anh chàng to béo đến chơi với gia đình, cả vợ lẫn chồng nhà
chủ ăn nói thưa gửi, bộ điệu khúm núm. Anh ta ngồi ưỡn người trên ghế tựa, hai
chân xoạc rộng, hai bàn tay đặt lên bụng, nói hỏi trống không, thỉnh thoảng đưa
mắt nhìn tôi nhưng không hỏi gì, chào cũng không, mắt nhìn cứ lừ lừ, mà hắn chỉ
đáng tuổi con tuổi cháu. Tôi cứ nghĩ tay này hẳn là dân buôn bán ở tỉnh có họ
hàng gì với anh chủ nhà, tạt qua chốc lát rồi đi. Nhưng anh bưu tá lại bảo đó
là ông chủ tịch xã. Lại một ngạc nhiên
nữa !
Mấy
ngày sau lại về một xã thuộc phía Bắc tỉnh. Cách đây đã ba chục năm tôi đã đi
đi về về xã đó khoảng một năm để viết về một anh chủ tịch xã chưa tới ba mươi
tuổi trong cái thời có cao trào lập hợp tác xã nông nghiệp. Ngồi chơi ở phố
huyện kề liền xã bất ngờ lại gặp người quen cũ của mấy chục năm trước. Hiện giờ
ông ấy đã ngoài sáu chục tuổi, có cửa hiệu chụp ảnh ở ngay phố, to béo, rềnh
ràng, chuyện gì cũng biết, lại biết cách thuật lại về mọi cái biết của mình một
cách sống động, tươi rói, nghe chuyện mà tưởng như chính mình cũng được chứng kiến.
Nhà văn mà gặp được một người như thế là có thể nghĩ ngay một cuốn sách sẽ
viết, viết cũng nhanh thôi, vì mọi vật liệu đã sẵn sàng. Bao nhiêu chuyện xui
xẻo, buồn bã của chuyến đi bất thần được đền bù quá hậu hĩ nhân một lần gặp lại
người quen cũ.
Đang
mừng khấp khởi liền bị mấy ông xã nhảy vô phá đám, đi một bước có trưởng công
an xã theo một bước, vừa là người hướng dẫn vừa là người bảo vệ. Chỉ được trò
chuyện với người đã được xã giới thiệu và ăn ngủ tại nhà ông bí thư xã. Nhưng
tôi đâu có chịu thua hoàn toàn. Xuống cái xã bị ghẻ lạnh thì tôi chơi với dân,
viết về một ông nông dân bị giời hành, được bạn bè khen là rất khá. Về cái xã
được chiều chuộng quá mức tôi viết được cái bút ký “Mất toi một cuốn sách”.
Sang tuổi 70, mọi hoạt động của con người đều chậm, đều kém, riêng cái chuyện
viết lách của tôi vẫn giữ được phong độ gần như xưa, vẫn viết rất nhanh, riêng
cái nhìn thì trào lộng nhiều hơn, ngậm ngùi nhiều hơn. Nó là thứ hương vị thơm
ngát chắt ra từ hơn bảy mươi năm được làm người.
2.
Tôi
là một đứa trẻ khi bước vào đời có nhiều điều thua thiệt nhưng tôi đã biết níu
chặt lấy thời thế mà leo dần lên. Tôi nói thế chả phải vì cái thói cơ hội, thời
này có mấy ai thích nói mình thành tài là nhờ cách mạng. Nhưng có nhiều người
được cách mạng ôm hẳn vào lòng nâng niu, vỗ về mà vẫn không nên người thì sao ?
Là vì họ còn thiếu một yếu tố nữa, thiếu cái đó dầu họ có được bước trên thảm
đỏ, kẻ nâng người dắt một đời vẫn không ra con người tử tế. Mà tôi thì có, có
dư thừa. Ấy là cái tính hài hước bẩm sinh, trước hết là biết giễu mình, theo
dõi từng bước đi, từng câu nói của chính mình bằng cái nhìn của người khác vừa
nghiêm khắc vừa bỡn cợt. Sau mình đến người, tôi cũng hay nhìn ra cái khía cạnh
buồn cười ở người khác dầu họ xuất hiện dưới cái vỏ trang trọng đến thế nào.
Cái
buồn cười là cái trái nghịch trong cùng một người, kẻ vô luân nói chuyện đạo
đức, tên ăn cắp dạy dỗ phải bảo vệ của công, người hống hách lại là tên nịnh bợ
bậc nhất. Nếu tán rộng ra thì còn vô vàn chuyện buồn cười mà ta bắt gặp ở mọi
nơi, trong mọi thời gian của cuộc sống. Anh dốt thường làm ra vẻ thông thái,
thằng nhát rất thích xuất hiện như người anh hùng, một chính khách đầu óc rỗng
tuếch luôn tỏ ra uyên bác bằng những lời nói vô nghĩa. Nếu những người đó có
được một chút hài hước, có khả năng tự ngắm mình trong khi diễn trò thì họ sẽ
biết cách tự kiềm chế trong một giới hạn nào đó.
Muốn
có cái mình không thể có không chỉ là chuyện buồn cười mà còn là căn bệnh không
thể cứu chữa của nhân loại. Các triết gia, giáo chủ cũng không thoát khỏi cái
trò cười ấy. Họ muốn cho nhân loại cái họ không thể có, muốn cứu nhân loại bằng
những phương tiện nhiều lắm chỉ đem lại mê say tự huyễn hoặc mà thôi. Học
thuyết xã hội hay tôn giáo khôn ngoan phải là học thuyết mở, có thể là thế này
mà cũng có thể là thế khác, luôn luôn biến hoá, lấy sự biến hoá của thời thế và
con người làm mục tiêu tối thượng để tự điều chỉnh.
Học
thuyết là do con người làm ra, một trí tuệ sáng láng nhất vẫn cứ bị ràng buộc
bởi nhiều vòng tự giác và không tự giác của thời thế, của cuộc đời. Bởi vì họ
không thể là Thượng Đế để biết hết vô vàn nguyên nhân những tác động qua lại,
uốn éo, bất ngờ của nó đưa đẩy mọi sự vật tới những thay đổi rất nhỏ, không mấy
ai chú ý, cuối cùng là những biến thiên cực lớn. Chả có học thuyết nào dự đoán
đúng những gì sẽ xảy ra trong tương lai và cũng chẳng thể dự đoán được cái kết
cuộc của nhiều sự việc đang xảy ra trong hiện tại. Mọi lời tiên tri đều có tính
mê sảng, đồng cốt. Dành cả một thời thanh xuân để tin vào những lời tiên tri
ấy, về già nhìn lại cái tài sản tinh thần thâu góp một đời chỉ là một cái kho
chứa đủ tạp nham chẳng có một chút giá trị gì.