- Trang Chủ
- Điểm Nóng
- Chính trị thế giới
- CIA và các ông Tướng (Phần 7)
CIA và các ông Tướng (Phần 7)
- Tác Giả Trần Bình Nam
- Đăng ngày 02.10.09
- Chính trị thế giới
Đã đăng: Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4 , Phần 5, Phần 6
Với nhan đề: “CIA và các ông Tướng” và liên tiếp trong 6 Phần tôi đã giới thiệu và tóm tắt nội dung một tài liệu mật của Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) nói về mối quan hệ làm việc giữa CIA với các tướng lãnh miền Nam Việt Nam (*) từ tháng 11 năm 1963 sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ cho đến ngày 30/4/1975 khi quân đội Bắc Việt tiến chiếm Sài gòn. Tài liệu đã được giải mật bởi cơ quan CIA ngày 19 tháng 2 năm 2009.
Đọc và tóm tắt tài liệu “CIA và các ông Tướng” (CIA And The Generals) tôi nhận ra rằng những gì đa số chúng ta biết về cuộc chiến Việt Nam và sự kết thúc bi thảm của nó chỉ là những sự việc thấy từ bên ngoài.
Các cựu tướng lãnh quân đội VNCH cũng như một số chính khách đã viết nhiều tập Hồi Ký, hồi ký chiến tranh cũng như hồi ký chính trị, có giá trị và hữu ích cho kho tàng sử liệu Việt Nam. Nhưng đọc xong tài liệu “CIA và các ông Tướng” của cơ quan CIA tôi nhận ra thêm rằng, các cuốn Hồi Ký nói trên đều là những tập sách ghi lại sự việc mà mỗi tác giả trong hoàn cảnh và vị trí riêng đã đóng và đã thấy như là những nhân vật trong một cuốn phim. Và cuốn “CIA và các ông Tướng” là cuốn sách của người đạo diễn, cuốn sách giúp chúng ta hiểu các nhân vật trong cuốn phim. Nó giải thích tại sao vai này hành động thế này, vai kia hành động thế kia.
Trong thời gian 12 năm từ khi ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ cho đến ngày 30/4/1975, mọi việc tại Sài Gòn hầu như đều ở trong tay người Mỹ. Các tướng lãnh xuất hiện trên chính trường miền Nam chỉ để thi hành chính sách của người Mỹ qua tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, chính yếu là Sở phụ trách tình báo CIA. Các tướng lãnh mỗi người một khả năng, một hiểu biết về chính trị khác nhau và có thể có phản ứng khác nhau trước các diễn biến, nhưng nếu không theo đường lối của Hoa Kỳ thì sẽ bị gạt ra ngoài trò chơi.
Các cuộc đảo chánh liên tiếp từ tháng 11/1963 cho đến lúc tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ nhậm chức tổng thống năm 1967 đều là những biến cố chính trị do quyết định của tòa đại sứ Hoa Kỳ nằm trong chiến lược “be bờ” (containment) để chận đứng làn sóng xâm lăng của cộng sản quốc tế do Liên bang Xô viết chủ xướng và yểm trợ, mà bên cạnh sườn là sự đe dọa bành trướng của chủ nghĩa cộng sản từ Trung quốc xuống vùng Đông Nam Á châu.
Trước hết người Mỹ giúp ông Diệm để duy trì một miền Nam không cộng sản. Khi ông Diệm không củng cố nổi một chính quyền vững mạnh được sự hậu thuẩn của nhân dân Nam Việt Nam, người Mỹ muốn gởi quân đến giúp. Ông Diệm không đồng ý. Ông quan niệm một cách hữu lý rằng sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam sẽ làm cho cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam mất chính nghĩa. Và khi ông Ngô Đình Nhu, bào đệ ông Diệm, người cố vấn thân cận của ông gặp riêng đại diện của Hà Nội để tìm một giải pháp giữa người Việt Nam với nhau thì Hoa Kỳ quyết định tổng thống Diệm phải ra đi để thay bằng một nhân vật lãnh đạo khác sẵn sàng cho phép Hoa Kỳ đưa quân đến Việt Nam.
Cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã bố trí sẵn một số tướng lãnh “thân hữu” và chỉ cần bật đèn xanh là các vị tướng này hành động. Và cũng với cung cách như vậy Hoa Kỳ thực hiện các cuộc thay thế lãnh đạo từ năm 1963 cho đến ngày 30/4/1975.
Sau khi đảo chánh ông Diệm, tướng Dương Văn Minh và nhóm “5 tướng” (Minh, Đôn, Xuân, Kim, Đính) có ý liên lạc với Hà Nội để tính chuyện trung lập hóa miền Nam theo đường lối của Pháp thì lập tức nhóm “5 tướng” bị tướng Nguyễn Khánh “chỉnh lý”. Đến khi Khánh cho Đại tá Lê Văn Nhiều (Giám đốc Trung ương Tình báo của Khánh) tiếp xúc với Hà Nội để bàn chuyện chấm dứt chiến tranh thì Khánh phải ra đi.
Tướng Nguyễn Văn Thiệu và tướng Nguyễn Cao Kỳ có lập trường chống cộng sản dứt khoát nên hai tướng Thiệu Kỳ được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Nguyễn Cao Kỳ nếu khéo léo có thể được Hoa Kỳ ủng hộ. Nhưng tính Kỳ bốc đồng, đôi khi tuyên bố “khó hiểu” như muốn đào ngũ ra với người anh em miền Bắc nên Hoa Kỳ nghi ngờ và dồn sự ủng hộ cho Thiệu, và dùng Thiệu kềm chế Kỳ để không xảy ra điều gì đáng tiếc.
Thiệu với lập trường “4 Không”, hoàn toàn đáp ứng chính sách của Hoa Kỳ trong giai đoạn đó. Nhưng đến khi Hoa Kỳ nói chuyện với Bắc Kinh và giải quyết bàn cờ Đông Nam Á một cách khác hơn là chính sách “be bờ” thì Hoa Kỳ không còn cần “4 Không” của Thiệu. Và như một quy luật Thiệu phải ra đi, nhường chỗ cho một nhân vật trước kia Hoa Kỳ đã mời đi chỗ khác là tướng Dương Văn Minh để đóng lại ván bài Việt Nam.
Về mặt quan hệ quốc tế Hoa Kỳ không làm điều gì sai trái vì quốc gia nào cũng có chính sách bảo vệ quyền lợi của mình, và các liên minh liên kết đều có tính cách giai đoạn, nhất là Hoa Kỳ là quốc gia lãnh đạo “Thế giới Tự do” chống lại cuộc chiến tranh “nhuộm đỏ toàn cầu” của Liên bang Xô viết.
Các quốc gia liên kết với Hoa Kỳ trong sách lược thế giới (của Hoa Kỳ) nếu muốn có tiếng nói trong sách lược chung, quốc gia đó cần có 2 điều kiện. Thứ nhất là có tiềm năng kinh tế riêng của mình. Thứ hai là có người lãnh đạo giỏi.
Sau Thế chiến 2, Hoa Kỳ giúp nước Đức, Nhật Bản, và năm 1953 sau khi cứu Nam Hàn khỏi bị Bắc Hàn thôn tính, Hoa Kỳ cũng muốn sai bảo các quốc gia đó như Hoa Kỳ sau này đã từng sai bảo Nam Việt Nam. Nhưng người Đức, người Nhật và người Nam Hàn biết cách tự đứng vững trên đôi bàn chân của mình. Trong một thời gian dài được sự bảo vệ của Hoa Kỳ, các nước Đức, Nhật, Nam Hàn tự tay chấn hưng nền kinh tế quốc gia và đóng góp vào sự phồn thịnh chung của thế giới. Họ có thể nuôi lính, nuôi dân bằng tự lực sản xuất. Và trong tình thế nhờ vả Hoa Kỳ, các nước Đức, Nhật, Nam Hàn có những nhà lãnh đạo xứng đáng với thời cuộc.
Những điều kiện đó, không may miền Nam Việt Nam không có. Chúng ta không có những nhà lãnh đạo giỏi biết dựa vào nhu cầu chiến lược của Hoa Kỳ sau 1954 để xây dựng một miền Nam tự lập, một điều có thể làm được vì miền Nam là đất trù phú và là một vựa lúa thiên nhiên không lúc nào cạn. Sống trên một vựa lúa thiên nhiên mà trong suốt thời gian từ 1963 trở đi Nam Việt Nam phải dùng gạo của Hoa Kỳ! Và khi không nuôi nổi dân, nuôi nổi lính, thì làm thế nào Nam Việt Nam có thể tự trang bị để đương đầu với một cuộc chiến tranh xâm lược bởi người anh em miền Bắc được sự ủng hộ của khối cộng sản quốc tế nếu không dựa vào đôi cánh tay luôn luôn rộng mở của Hoa Kỳ.
Vì không có kinh tế riêng, những người lãnh đạo Nam Việt Nam, dù là xuất thân từ hàng quan lại Nam Triều, từ các trường quân sự và dân sự của Pháp, hay được đào tạo tại Sài gòn và Hà Nội, có bằng tiến sĩ hay chỉ mảnh bằng Tú Tài cũng không thể không vâng lời ông đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn.
Sự vâng lời mỗi người một khác. Tài liệu “CIA và những ông Tướng” cho chúng ta thấy có những ông Tướng hợp tác với tình báo Hoa Kỳ, có người có lương, có người không lương, và mỗi người hợp tác trong một cung cách khác nhau.
Tình báo trong thời đại nào cũng là một nghề nguy hiểm và bị nghi ngờ. Và dư luận thường cho rằng làm việc với CIA là xấu. Điều này không đúng. Hợp tác với tình báo của một nước đồng minh để cùng phục vụ quyền lợi chung của hai nước trong đó phục vụ quốc gia mình là chính thì chẳng những không sai trái mà còn là một công tác mang ý nghĩa một sự hy sinh đáng ca ngợi. Nhưng nếu hợp tác với tình báo nước bạn để phản lại quyền lợi của quốc gia mình thì sự hợp tác đó là một sự hợp tác cần ghi vào sử sách để nhớ.
Tình chiến hữu quốc tế giữa Hoa Kỳ và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không còn thắm thiết khi Hoa Kỳ muốn quyết định tất cả mọi việc theo ý mình tại Paris nhưng ông Thiệu không đồng ý. Ông có đủ sáng suốt để thấy mối nguy cho Nam Việt Nam nếu Hoa Kỳ đồng ý cho Hà Nội để lại quân đội Bắc Việt đã xâm nhập Nam Việt Nam trong bản Hiệp định Paris.
Hoa Kỳ phối hợp hai gọng kềm để áp lực ông Thiệu phải theo ý của Hoa Kỳ để Hoa Kỳ có thể rút quân đội ra khỏi Việt Nam và đòi lại tù binh. Gọng kềm thứ nhất là dọa cắt viện trợ. Gọng kềm thứ hai là dùng những nhân vật cao cấp và cận kề nhất với ông Thiệu để áp lực ông.
Ông Thiệu rất cô đơn trước hai gọng kềm này. Trước gọng kềm viện trợ ông có thể cười, nhưng trước gọng kềm thứ hai từ những người thân tín nhất của mình ông chỉ có thể khóc. Và quả thật ông Thiệu đã hai lần khóc, trong đó có một lần khóc chung với Phó tổng thống Trần Văn Hương. Đó là những giọt nước mắt nóng hổi đổ cho quê hương cần được ghi vào lịch sử.
Về con người chúng ta có nhiều khuyết điểm hơn là ưu điểm. Do giòng giống hay là hậu quả của một nền giáo dục thiếu căn bản quá lâu qua nhiều thế kỷ là câu hỏi dành cho các nhà nghiên cứu. Chúng ta thông minh và là một dân tộc cần cù chịu thương chịu khó, nhưng chỉ thông minh và cần cù cho cá nhân chứ không thông minh và cần cù vì đất nước.
Do đó chúng ta thiếu người lãnh đạo có tầm vóc. Chúng ta có tinh thần vọng ngoại và ít tin tưởng vào chính mình. Chúng ta chạy theo những cái đang lên và coi thường những thế lực đang xuống. Nói đơn giản chúng ta không có cái nhìn xa, và do đó chúng ta không có chính sách.
Vào đầu thế kỷ 20, trước sự du nhập của văn hóa và văn minh cơ khí Tây phương và sự lu mờ của nước Trung Hoa phương Bắc người trí thức Việt Nam chúng ta chỉ biết cóp nhặt văn hóa Tây phương vô điều kiện và chúng ta coi thường “chú chệt” mà không biết rằng “chú chệt” cười cười “nị ngộ” sao cũng được nhưng chú nắm hết kinh tế của Việt Nam trong tay và chú biết văn hóa của chú đã yên vị lâu đời trong đầu mỗi người Việt. Và chỉ chờ thời điểm (như hôm nay) là chú nắm cổ toàn bộ vận mạng của nước Việt Nam.
Lãnh đạo quân sự và chính trị của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam có nhiều khuyết điểm, nhưng chưa chắc quyết định chiến lược can thiệp của người Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam là một quyết định sai lầm. Nhưng phía miền Nam chúng ta – vì thiếu người tài, vì thiếu chí - đã không lợi dụng cơ hội để xậy dựng một miền Nam tự túc về kinh tế và đặt một nền móng cho sự canh tân đất nước. Cho nên khi người Mỹ nhận ra rằng miền Nam không phải là một đồng minh có bãn lãnh họ liên miên thay đổi lãnh đạo và khi nhận ra rằng đồng minh Nam Việt Nam không có ý chí để tự tồn họ phải tìm một sách lược khác và bỏ rơi chúng ta một cách tàn nhẫn theo đúng cung cách của người Tây phương quyết định là làm.
Miền Bắc Việt Nam cũng không khá gì hơn. Hà Nội chạy theo một lý thuyết kinh tế lỗi thời làm thui chột kinh tế miền Bắc, và trước áp lực của Liên bang Xô viết dồn mọi tiềm năng nhân lực cho cuộc chiến bành trướng chủ nghĩa mà họ nhất định phải thắng “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn!”
Miền Bắc toàn thắng. Việt Nam thống nhất trong điêu tàn. Và khi người đồng minh Liên bang Xô viết sụp đổ không đủ sức viện trợ kinh tế như Hà Nội chờ đợi Việt Nam chỉ còn một con đường là lệ thuộc vào Trung Quốc.
Bài học gì người Việt Nam cần rút ra hôm nay, đứng trước thế kỷ 21 mới bắt đầu non một thập niên và hứa hẹn nhiều biến chuyển quan trọng có thể quyết định sự mất hay còn của Việt Nam trên bản đồ thế giới?
Sự hâm nóng của bầu khí quyễn đang thay đổi môi sinh buộc con người, trong đó có chúng ta, phải biến đổi để thích ứng. Con người không đủ khôn ngoan và tự chủ để hủy bỏ vũ khí nguyên tử nên thứ vũ khí nguy hiểm này sẽ trở thành một thứ vũ khí thông thường và thế giới lúc nào cũng ở trong một bầu thuốc súng chỉ chực nổ. Cuộc tranh chấp văn minh Tây phương và văn minh Hồi giáo sẽ là một trong những thực tế của đời sống thế giới sau khi Hoa Kỳ chấm dứt thí nghiệm đưa một người da đen lên làm tổng thống.
Nhưng biến chuyển lớn nhất của thế kỷ là quyết tâm trở thành siêu cường của Trung quốc và cuộc đụng độ khó tránh khỏi giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc. Biến chuyển này sẽ chi phối mọi sinh hoạt chính trị và kinh tế trên toàn thế giới.
Việt Nam nằm ngay trên chiến trường nhỏ là chiến trường Đông Nam Á và nếu không khôn khéo rút bài học cũ chúng ta lại sẽ biến thành một thứ tiền đồn.
Quan sát tình hình Á châu và Đông Nam Á ai cũng đồng ý rằng Việt Nam đang bị Trung quốc đe dọa, và Việt Nam đang rơi vào đôi cánh tay thủ đoạn của Trung Quốc.
Chính sách nào để Việt Nam tồn tại như một quốc gia độc lập? Trong thế kỷ trước mắt Việt Nam không có con đường nào khác hơn là liên kết với các quốc gia trong vùng, nhưng quan trọng hơn hết là liên kết với Trung quốc và Hoa Kỳ. Cả hai khối thế lực này đều cần Việt Nam để chuẩn bị cho cuộc so kiếm thư hùng của thế kỷ.
Nhưng muốn có chính sách trước hết cần hai điều kiện rút ra từ bài học của cuộc chiến vừa qua. Thứ nhất Việt Nam phải có khả năng tự lực trong khung cảnh mới của thế giới. Tự lực đây không phải là chỉ có đầy đủ lương thực để có thể ăn no mặc ấm mà phải có tiềm năng kỹ nghệ và sản xuất.
Thứ hai là phải đào tạo những con người Việt Nam. Vì thiếu bản lãnh chúng ta đã để cuộc tranh chấp ý thức hệ trên thế giới thành một cuộc nội chiến tương tàn. Cần đạo tạo lại một lớp người lãnh đạo có “tâm” và có “hồn” . Cần sửa đổi hệ thống giáo dục, trước hết từ cấp Sơ học cho đến cấp Trung Học hướng về những khái niệm yêu người, yêu đất nước, biết quý trọng những giá trị Việt Nam, những ý niệm sơ đẳng phổ cập về dân chủ, đạo đức và tự do tín ngưỡng, quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc. Và nền giáo dục này cần được làm gương bởi lãnh đạo các cấp. Cấp đại học cần hướng về giáo dục thực tế, liên kết chặt chẽ sinh hoạt đại học với các cơ sở sản xuất lớn để khuyến khích sáng kiến khoa học kỹ thuật và khả năng phát minh. Chính sách của Việt Nam là sẵn sàng làm Thợ để sẽ làm Thầy, và sự chuyển nhượng khoa học kỹ thuật qua các cơ sở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam phải là một chính sách quốc gia.
Dùng thế liên kết Trung quốc và Hoa Kỳ để trước hết bảo vệ lãnh thổ và bảo tồn nền độc lập dân tộc, bảo vệ quặng mõ và túi dầu dưới đáy biển của chúng ta. Chúng ta sẽ học bài học “bầu ơi thương lấy bí cùng”của Đức quốc sau khi thống nhất. Chúng ta sẽ học bài học xây dựng kinh tế của Nhật Bản trong điêu tàn sau Thế chiến 2.
Tài liệu “CIA và Các Ông Tướng”cho chúng ta một bức tranh ảm đảm của một giai đoạn lịch sử Việt Nam, nhưng là một bức tranh rất thật trong bang giao quốc tế “bụng đói đầu gối phải bò”. Nó cho chúng ta những dữ kiện để nhìn lại con người Việt Nam. Chúng ta sẽ không hãnh diện tự mãn với “bốn ngàn năm văn hóa”. Chúng ta cần nghiêm chỉnh tự vấn: Bốn ngàn năm văn hóa ở đâu mà lại làm cho Việt Nam, với đất nước phong phú như vậy, con người thông minh như vậy lại rơi vào hoàn cảnh chỉ chực mất nước hiện nay?
Có những bài học cá nhân cần suy ngẫm:
Với tất cả khuyết điểm về lãnh đạo và nghệ thuật trị quốc, tổng thống Ngô Đình Điệm nhất định không chịu để người Mỹ đưa quân đến Việt Nam mà hậu quả là cái chết của ông và người em là một tấm gương yêu nước và dũng cảm. Và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khóc mà ký bản Hiệp định Paris biết rằng đó là bản văn khai tử Nam Việt Nam là cái khóc đáng thương.
Thế còn ông Hồ Chí Minh? Ông Hồ Chí Minh là một người Việt Nam nổi tiếng trên thế giới hơn bất cứ một người Việt Nam nào trong hậu bán thế kỷ 20. Và không ai chối cãi ông là một nhà chính trị xuất chúng, một nhà tổ chức tài ba. Nhưng gia tài ông để lại là một “nước Việt buồn”. Và mới đây tài liệu “Sự thật Hồ Chí Minh” bằng DVD do linh mục Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo, chủ tịch Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam (TC/PHVN) thực hiện dù không tránh được những khuyết điểm về kỹ thuật và nội dung, nhưng qua sự tham dự đông đảo của đồng bào Việt Nam trên toàn thế giới không trừ một góc trời nào trong những lần ra mắt trình chiếu cho thấy “dân Việt đã bỏ phiếu bằng chân” về chỗ đứng của ông Hồ Chí Minh trong lịch sử Việt Nam. Cụ Hoàng Văn Chí, một người từng làm việc với ông Hồ chí Minh đã phán đoán về ông Hồ một cách ấn tượng trong cuốn sách “Từ Thực Dân đến Cộng Sản” rằng ông Hồ Chí Minh sáng như mặt trời, nhưng nếu mặt trời mang ấm áp đến cho nhân loại thì ông Hồ đem cái sáng đốt cháy nhân dân. Thật là bất hạnh cho dân tộc Việt Nam!
Một vài gương cá nhân trong cuốn “CIA và các ông Tướng” cần được ghi lại:
Út, một người tài xế làm việc cho CIA phút chót đã an toàn trong tòa đại sứ Hoa Kỳ chờ di tản đã liều chết vượt bức tường người đang vây kín tòa đại sứ để tìm những người bạn ông biết cần cứu.
Và tấm gương phục vụ đất nước của đại sứ Graham Martin là một tấm gương sáng cho những nhà lãnh đạo trên thế giới. Để giữ cho Hoa Kỳ khỏi mang tiếng bỏ chạy ông quyết định ở lại chu toàn công việc và quyết định ra đi với những người lính TQLC cuối cùng trên chuyến trực thăng cuối cùng. Ông phải ra đi sớm hơn một chút trước đe dọa bị lính TQLC dùng sức mạnh áp tải lên máy bay do lệnh của tổng thống Hoa Kỳ, Gerald Ford.
Đó là những bài học “Ôn Cố Tri Tân” của cuốn “CIA và Các Ông Tướng”.
Oct. 1, 2009.
Với nhan đề: “CIA và các ông Tướng” và liên tiếp trong 6 Phần tôi đã giới thiệu và tóm tắt nội dung một tài liệu mật của Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) nói về mối quan hệ làm việc giữa CIA với các tướng lãnh miền Nam Việt Nam (*) từ tháng 11 năm 1963 sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ cho đến ngày 30/4/1975 khi quân đội Bắc Việt tiến chiếm Sài gòn. Tài liệu đã được giải mật bởi cơ quan CIA ngày 19 tháng 2 năm 2009.
Đọc và tóm tắt tài liệu “CIA và các ông Tướng” (CIA And The Generals) tôi nhận ra rằng những gì đa số chúng ta biết về cuộc chiến Việt Nam và sự kết thúc bi thảm của nó chỉ là những sự việc thấy từ bên ngoài.
Các cựu tướng lãnh quân đội VNCH cũng như một số chính khách đã viết nhiều tập Hồi Ký, hồi ký chiến tranh cũng như hồi ký chính trị, có giá trị và hữu ích cho kho tàng sử liệu Việt Nam. Nhưng đọc xong tài liệu “CIA và các ông Tướng” của cơ quan CIA tôi nhận ra thêm rằng, các cuốn Hồi Ký nói trên đều là những tập sách ghi lại sự việc mà mỗi tác giả trong hoàn cảnh và vị trí riêng đã đóng và đã thấy như là những nhân vật trong một cuốn phim. Và cuốn “CIA và các ông Tướng” là cuốn sách của người đạo diễn, cuốn sách giúp chúng ta hiểu các nhân vật trong cuốn phim. Nó giải thích tại sao vai này hành động thế này, vai kia hành động thế kia.
Trong thời gian 12 năm từ khi ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ cho đến ngày 30/4/1975, mọi việc tại Sài Gòn hầu như đều ở trong tay người Mỹ. Các tướng lãnh xuất hiện trên chính trường miền Nam chỉ để thi hành chính sách của người Mỹ qua tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, chính yếu là Sở phụ trách tình báo CIA. Các tướng lãnh mỗi người một khả năng, một hiểu biết về chính trị khác nhau và có thể có phản ứng khác nhau trước các diễn biến, nhưng nếu không theo đường lối của Hoa Kỳ thì sẽ bị gạt ra ngoài trò chơi.
Các cuộc đảo chánh liên tiếp từ tháng 11/1963 cho đến lúc tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ nhậm chức tổng thống năm 1967 đều là những biến cố chính trị do quyết định của tòa đại sứ Hoa Kỳ nằm trong chiến lược “be bờ” (containment) để chận đứng làn sóng xâm lăng của cộng sản quốc tế do Liên bang Xô viết chủ xướng và yểm trợ, mà bên cạnh sườn là sự đe dọa bành trướng của chủ nghĩa cộng sản từ Trung quốc xuống vùng Đông Nam Á châu.
Trước hết người Mỹ giúp ông Diệm để duy trì một miền Nam không cộng sản. Khi ông Diệm không củng cố nổi một chính quyền vững mạnh được sự hậu thuẩn của nhân dân Nam Việt Nam, người Mỹ muốn gởi quân đến giúp. Ông Diệm không đồng ý. Ông quan niệm một cách hữu lý rằng sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam sẽ làm cho cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam mất chính nghĩa. Và khi ông Ngô Đình Nhu, bào đệ ông Diệm, người cố vấn thân cận của ông gặp riêng đại diện của Hà Nội để tìm một giải pháp giữa người Việt Nam với nhau thì Hoa Kỳ quyết định tổng thống Diệm phải ra đi để thay bằng một nhân vật lãnh đạo khác sẵn sàng cho phép Hoa Kỳ đưa quân đến Việt Nam.
Cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã bố trí sẵn một số tướng lãnh “thân hữu” và chỉ cần bật đèn xanh là các vị tướng này hành động. Và cũng với cung cách như vậy Hoa Kỳ thực hiện các cuộc thay thế lãnh đạo từ năm 1963 cho đến ngày 30/4/1975.
Sau khi đảo chánh ông Diệm, tướng Dương Văn Minh và nhóm “5 tướng” (Minh, Đôn, Xuân, Kim, Đính) có ý liên lạc với Hà Nội để tính chuyện trung lập hóa miền Nam theo đường lối của Pháp thì lập tức nhóm “5 tướng” bị tướng Nguyễn Khánh “chỉnh lý”. Đến khi Khánh cho Đại tá Lê Văn Nhiều (Giám đốc Trung ương Tình báo của Khánh) tiếp xúc với Hà Nội để bàn chuyện chấm dứt chiến tranh thì Khánh phải ra đi.
Tướng Nguyễn Văn Thiệu và tướng Nguyễn Cao Kỳ có lập trường chống cộng sản dứt khoát nên hai tướng Thiệu Kỳ được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Nguyễn Cao Kỳ nếu khéo léo có thể được Hoa Kỳ ủng hộ. Nhưng tính Kỳ bốc đồng, đôi khi tuyên bố “khó hiểu” như muốn đào ngũ ra với người anh em miền Bắc nên Hoa Kỳ nghi ngờ và dồn sự ủng hộ cho Thiệu, và dùng Thiệu kềm chế Kỳ để không xảy ra điều gì đáng tiếc.
Thiệu với lập trường “4 Không”, hoàn toàn đáp ứng chính sách của Hoa Kỳ trong giai đoạn đó. Nhưng đến khi Hoa Kỳ nói chuyện với Bắc Kinh và giải quyết bàn cờ Đông Nam Á một cách khác hơn là chính sách “be bờ” thì Hoa Kỳ không còn cần “4 Không” của Thiệu. Và như một quy luật Thiệu phải ra đi, nhường chỗ cho một nhân vật trước kia Hoa Kỳ đã mời đi chỗ khác là tướng Dương Văn Minh để đóng lại ván bài Việt Nam.
Về mặt quan hệ quốc tế Hoa Kỳ không làm điều gì sai trái vì quốc gia nào cũng có chính sách bảo vệ quyền lợi của mình, và các liên minh liên kết đều có tính cách giai đoạn, nhất là Hoa Kỳ là quốc gia lãnh đạo “Thế giới Tự do” chống lại cuộc chiến tranh “nhuộm đỏ toàn cầu” của Liên bang Xô viết.
Các quốc gia liên kết với Hoa Kỳ trong sách lược thế giới (của Hoa Kỳ) nếu muốn có tiếng nói trong sách lược chung, quốc gia đó cần có 2 điều kiện. Thứ nhất là có tiềm năng kinh tế riêng của mình. Thứ hai là có người lãnh đạo giỏi.
Sau Thế chiến 2, Hoa Kỳ giúp nước Đức, Nhật Bản, và năm 1953 sau khi cứu Nam Hàn khỏi bị Bắc Hàn thôn tính, Hoa Kỳ cũng muốn sai bảo các quốc gia đó như Hoa Kỳ sau này đã từng sai bảo Nam Việt Nam. Nhưng người Đức, người Nhật và người Nam Hàn biết cách tự đứng vững trên đôi bàn chân của mình. Trong một thời gian dài được sự bảo vệ của Hoa Kỳ, các nước Đức, Nhật, Nam Hàn tự tay chấn hưng nền kinh tế quốc gia và đóng góp vào sự phồn thịnh chung của thế giới. Họ có thể nuôi lính, nuôi dân bằng tự lực sản xuất. Và trong tình thế nhờ vả Hoa Kỳ, các nước Đức, Nhật, Nam Hàn có những nhà lãnh đạo xứng đáng với thời cuộc.
Những điều kiện đó, không may miền Nam Việt Nam không có. Chúng ta không có những nhà lãnh đạo giỏi biết dựa vào nhu cầu chiến lược của Hoa Kỳ sau 1954 để xây dựng một miền Nam tự lập, một điều có thể làm được vì miền Nam là đất trù phú và là một vựa lúa thiên nhiên không lúc nào cạn. Sống trên một vựa lúa thiên nhiên mà trong suốt thời gian từ 1963 trở đi Nam Việt Nam phải dùng gạo của Hoa Kỳ! Và khi không nuôi nổi dân, nuôi nổi lính, thì làm thế nào Nam Việt Nam có thể tự trang bị để đương đầu với một cuộc chiến tranh xâm lược bởi người anh em miền Bắc được sự ủng hộ của khối cộng sản quốc tế nếu không dựa vào đôi cánh tay luôn luôn rộng mở của Hoa Kỳ.
Vì không có kinh tế riêng, những người lãnh đạo Nam Việt Nam, dù là xuất thân từ hàng quan lại Nam Triều, từ các trường quân sự và dân sự của Pháp, hay được đào tạo tại Sài gòn và Hà Nội, có bằng tiến sĩ hay chỉ mảnh bằng Tú Tài cũng không thể không vâng lời ông đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn.
Sự vâng lời mỗi người một khác. Tài liệu “CIA và những ông Tướng” cho chúng ta thấy có những ông Tướng hợp tác với tình báo Hoa Kỳ, có người có lương, có người không lương, và mỗi người hợp tác trong một cung cách khác nhau.
Tình báo trong thời đại nào cũng là một nghề nguy hiểm và bị nghi ngờ. Và dư luận thường cho rằng làm việc với CIA là xấu. Điều này không đúng. Hợp tác với tình báo của một nước đồng minh để cùng phục vụ quyền lợi chung của hai nước trong đó phục vụ quốc gia mình là chính thì chẳng những không sai trái mà còn là một công tác mang ý nghĩa một sự hy sinh đáng ca ngợi. Nhưng nếu hợp tác với tình báo nước bạn để phản lại quyền lợi của quốc gia mình thì sự hợp tác đó là một sự hợp tác cần ghi vào sử sách để nhớ.
Tình chiến hữu quốc tế giữa Hoa Kỳ và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không còn thắm thiết khi Hoa Kỳ muốn quyết định tất cả mọi việc theo ý mình tại Paris nhưng ông Thiệu không đồng ý. Ông có đủ sáng suốt để thấy mối nguy cho Nam Việt Nam nếu Hoa Kỳ đồng ý cho Hà Nội để lại quân đội Bắc Việt đã xâm nhập Nam Việt Nam trong bản Hiệp định Paris.
Hoa Kỳ phối hợp hai gọng kềm để áp lực ông Thiệu phải theo ý của Hoa Kỳ để Hoa Kỳ có thể rút quân đội ra khỏi Việt Nam và đòi lại tù binh. Gọng kềm thứ nhất là dọa cắt viện trợ. Gọng kềm thứ hai là dùng những nhân vật cao cấp và cận kề nhất với ông Thiệu để áp lực ông.
Ông Thiệu rất cô đơn trước hai gọng kềm này. Trước gọng kềm viện trợ ông có thể cười, nhưng trước gọng kềm thứ hai từ những người thân tín nhất của mình ông chỉ có thể khóc. Và quả thật ông Thiệu đã hai lần khóc, trong đó có một lần khóc chung với Phó tổng thống Trần Văn Hương. Đó là những giọt nước mắt nóng hổi đổ cho quê hương cần được ghi vào lịch sử.
Về con người chúng ta có nhiều khuyết điểm hơn là ưu điểm. Do giòng giống hay là hậu quả của một nền giáo dục thiếu căn bản quá lâu qua nhiều thế kỷ là câu hỏi dành cho các nhà nghiên cứu. Chúng ta thông minh và là một dân tộc cần cù chịu thương chịu khó, nhưng chỉ thông minh và cần cù cho cá nhân chứ không thông minh và cần cù vì đất nước.
Do đó chúng ta thiếu người lãnh đạo có tầm vóc. Chúng ta có tinh thần vọng ngoại và ít tin tưởng vào chính mình. Chúng ta chạy theo những cái đang lên và coi thường những thế lực đang xuống. Nói đơn giản chúng ta không có cái nhìn xa, và do đó chúng ta không có chính sách.
Vào đầu thế kỷ 20, trước sự du nhập của văn hóa và văn minh cơ khí Tây phương và sự lu mờ của nước Trung Hoa phương Bắc người trí thức Việt Nam chúng ta chỉ biết cóp nhặt văn hóa Tây phương vô điều kiện và chúng ta coi thường “chú chệt” mà không biết rằng “chú chệt” cười cười “nị ngộ” sao cũng được nhưng chú nắm hết kinh tế của Việt Nam trong tay và chú biết văn hóa của chú đã yên vị lâu đời trong đầu mỗi người Việt. Và chỉ chờ thời điểm (như hôm nay) là chú nắm cổ toàn bộ vận mạng của nước Việt Nam.
Lãnh đạo quân sự và chính trị của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam có nhiều khuyết điểm, nhưng chưa chắc quyết định chiến lược can thiệp của người Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam là một quyết định sai lầm. Nhưng phía miền Nam chúng ta – vì thiếu người tài, vì thiếu chí - đã không lợi dụng cơ hội để xậy dựng một miền Nam tự túc về kinh tế và đặt một nền móng cho sự canh tân đất nước. Cho nên khi người Mỹ nhận ra rằng miền Nam không phải là một đồng minh có bãn lãnh họ liên miên thay đổi lãnh đạo và khi nhận ra rằng đồng minh Nam Việt Nam không có ý chí để tự tồn họ phải tìm một sách lược khác và bỏ rơi chúng ta một cách tàn nhẫn theo đúng cung cách của người Tây phương quyết định là làm.
Miền Bắc Việt Nam cũng không khá gì hơn. Hà Nội chạy theo một lý thuyết kinh tế lỗi thời làm thui chột kinh tế miền Bắc, và trước áp lực của Liên bang Xô viết dồn mọi tiềm năng nhân lực cho cuộc chiến bành trướng chủ nghĩa mà họ nhất định phải thắng “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn!”
Miền Bắc toàn thắng. Việt Nam thống nhất trong điêu tàn. Và khi người đồng minh Liên bang Xô viết sụp đổ không đủ sức viện trợ kinh tế như Hà Nội chờ đợi Việt Nam chỉ còn một con đường là lệ thuộc vào Trung Quốc.
Bài học gì người Việt Nam cần rút ra hôm nay, đứng trước thế kỷ 21 mới bắt đầu non một thập niên và hứa hẹn nhiều biến chuyển quan trọng có thể quyết định sự mất hay còn của Việt Nam trên bản đồ thế giới?
Sự hâm nóng của bầu khí quyễn đang thay đổi môi sinh buộc con người, trong đó có chúng ta, phải biến đổi để thích ứng. Con người không đủ khôn ngoan và tự chủ để hủy bỏ vũ khí nguyên tử nên thứ vũ khí nguy hiểm này sẽ trở thành một thứ vũ khí thông thường và thế giới lúc nào cũng ở trong một bầu thuốc súng chỉ chực nổ. Cuộc tranh chấp văn minh Tây phương và văn minh Hồi giáo sẽ là một trong những thực tế của đời sống thế giới sau khi Hoa Kỳ chấm dứt thí nghiệm đưa một người da đen lên làm tổng thống.
Nhưng biến chuyển lớn nhất của thế kỷ là quyết tâm trở thành siêu cường của Trung quốc và cuộc đụng độ khó tránh khỏi giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc. Biến chuyển này sẽ chi phối mọi sinh hoạt chính trị và kinh tế trên toàn thế giới.
Việt Nam nằm ngay trên chiến trường nhỏ là chiến trường Đông Nam Á và nếu không khôn khéo rút bài học cũ chúng ta lại sẽ biến thành một thứ tiền đồn.
Quan sát tình hình Á châu và Đông Nam Á ai cũng đồng ý rằng Việt Nam đang bị Trung quốc đe dọa, và Việt Nam đang rơi vào đôi cánh tay thủ đoạn của Trung Quốc.
Chính sách nào để Việt Nam tồn tại như một quốc gia độc lập? Trong thế kỷ trước mắt Việt Nam không có con đường nào khác hơn là liên kết với các quốc gia trong vùng, nhưng quan trọng hơn hết là liên kết với Trung quốc và Hoa Kỳ. Cả hai khối thế lực này đều cần Việt Nam để chuẩn bị cho cuộc so kiếm thư hùng của thế kỷ.
Nhưng muốn có chính sách trước hết cần hai điều kiện rút ra từ bài học của cuộc chiến vừa qua. Thứ nhất Việt Nam phải có khả năng tự lực trong khung cảnh mới của thế giới. Tự lực đây không phải là chỉ có đầy đủ lương thực để có thể ăn no mặc ấm mà phải có tiềm năng kỹ nghệ và sản xuất.
Thứ hai là phải đào tạo những con người Việt Nam. Vì thiếu bản lãnh chúng ta đã để cuộc tranh chấp ý thức hệ trên thế giới thành một cuộc nội chiến tương tàn. Cần đạo tạo lại một lớp người lãnh đạo có “tâm” và có “hồn” . Cần sửa đổi hệ thống giáo dục, trước hết từ cấp Sơ học cho đến cấp Trung Học hướng về những khái niệm yêu người, yêu đất nước, biết quý trọng những giá trị Việt Nam, những ý niệm sơ đẳng phổ cập về dân chủ, đạo đức và tự do tín ngưỡng, quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc. Và nền giáo dục này cần được làm gương bởi lãnh đạo các cấp. Cấp đại học cần hướng về giáo dục thực tế, liên kết chặt chẽ sinh hoạt đại học với các cơ sở sản xuất lớn để khuyến khích sáng kiến khoa học kỹ thuật và khả năng phát minh. Chính sách của Việt Nam là sẵn sàng làm Thợ để sẽ làm Thầy, và sự chuyển nhượng khoa học kỹ thuật qua các cơ sở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam phải là một chính sách quốc gia.
Dùng thế liên kết Trung quốc và Hoa Kỳ để trước hết bảo vệ lãnh thổ và bảo tồn nền độc lập dân tộc, bảo vệ quặng mõ và túi dầu dưới đáy biển của chúng ta. Chúng ta sẽ học bài học “bầu ơi thương lấy bí cùng”của Đức quốc sau khi thống nhất. Chúng ta sẽ học bài học xây dựng kinh tế của Nhật Bản trong điêu tàn sau Thế chiến 2.
Tài liệu “CIA và Các Ông Tướng”cho chúng ta một bức tranh ảm đảm của một giai đoạn lịch sử Việt Nam, nhưng là một bức tranh rất thật trong bang giao quốc tế “bụng đói đầu gối phải bò”. Nó cho chúng ta những dữ kiện để nhìn lại con người Việt Nam. Chúng ta sẽ không hãnh diện tự mãn với “bốn ngàn năm văn hóa”. Chúng ta cần nghiêm chỉnh tự vấn: Bốn ngàn năm văn hóa ở đâu mà lại làm cho Việt Nam, với đất nước phong phú như vậy, con người thông minh như vậy lại rơi vào hoàn cảnh chỉ chực mất nước hiện nay?
Có những bài học cá nhân cần suy ngẫm:
Với tất cả khuyết điểm về lãnh đạo và nghệ thuật trị quốc, tổng thống Ngô Đình Điệm nhất định không chịu để người Mỹ đưa quân đến Việt Nam mà hậu quả là cái chết của ông và người em là một tấm gương yêu nước và dũng cảm. Và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khóc mà ký bản Hiệp định Paris biết rằng đó là bản văn khai tử Nam Việt Nam là cái khóc đáng thương.
Thế còn ông Hồ Chí Minh? Ông Hồ Chí Minh là một người Việt Nam nổi tiếng trên thế giới hơn bất cứ một người Việt Nam nào trong hậu bán thế kỷ 20. Và không ai chối cãi ông là một nhà chính trị xuất chúng, một nhà tổ chức tài ba. Nhưng gia tài ông để lại là một “nước Việt buồn”. Và mới đây tài liệu “Sự thật Hồ Chí Minh” bằng DVD do linh mục Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo, chủ tịch Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam (TC/PHVN) thực hiện dù không tránh được những khuyết điểm về kỹ thuật và nội dung, nhưng qua sự tham dự đông đảo của đồng bào Việt Nam trên toàn thế giới không trừ một góc trời nào trong những lần ra mắt trình chiếu cho thấy “dân Việt đã bỏ phiếu bằng chân” về chỗ đứng của ông Hồ Chí Minh trong lịch sử Việt Nam. Cụ Hoàng Văn Chí, một người từng làm việc với ông Hồ chí Minh đã phán đoán về ông Hồ một cách ấn tượng trong cuốn sách “Từ Thực Dân đến Cộng Sản” rằng ông Hồ Chí Minh sáng như mặt trời, nhưng nếu mặt trời mang ấm áp đến cho nhân loại thì ông Hồ đem cái sáng đốt cháy nhân dân. Thật là bất hạnh cho dân tộc Việt Nam!
Một vài gương cá nhân trong cuốn “CIA và các ông Tướng” cần được ghi lại:
Út, một người tài xế làm việc cho CIA phút chót đã an toàn trong tòa đại sứ Hoa Kỳ chờ di tản đã liều chết vượt bức tường người đang vây kín tòa đại sứ để tìm những người bạn ông biết cần cứu.
Và tấm gương phục vụ đất nước của đại sứ Graham Martin là một tấm gương sáng cho những nhà lãnh đạo trên thế giới. Để giữ cho Hoa Kỳ khỏi mang tiếng bỏ chạy ông quyết định ở lại chu toàn công việc và quyết định ra đi với những người lính TQLC cuối cùng trên chuyến trực thăng cuối cùng. Ông phải ra đi sớm hơn một chút trước đe dọa bị lính TQLC dùng sức mạnh áp tải lên máy bay do lệnh của tổng thống Hoa Kỳ, Gerald Ford.
Đó là những bài học “Ôn Cố Tri Tân” của cuốn “CIA và Các Ông Tướng”.
Oct. 1, 2009.
Bài do tác giả gửi đăng.
Ghi chú: (*) Trong bài này các danh từ :
Nam Việt Nam được hiểu là miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống
Bắc Việt Nam được hiểu là miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên
Việt Nam được hiểu là nước Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu
Chúng ta được hiểu là mọi người Việt Nam trong và ngoài nước
Ghi chú: (*) Trong bài này các danh từ :
Nam Việt Nam được hiểu là miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống
Bắc Việt Nam được hiểu là miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên
Việt Nam được hiểu là nước Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu
Chúng ta được hiểu là mọi người Việt Nam trong và ngoài nước
Rỉ Tai
22 Responses to "CIA và các ông Tướng (Phần 7)" 
|
said this on 02 Oct 2009 9:56:46 AM EST
"Nhưng gia tài ông để lại là một “nước Việt buồn” "
Nguoi CS Bac Viet, cung la nguoi VN, nhung doi xu voi nguoi đồng bào miền Nam, sau 1975, man di mọi rợ, thâm độc, đểu cáng gấp bộn lần thuc dan Phap doi xu voi nguoi VN. " Và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khóc mà ký bản Hiệp định Paris biết rằng đó là bản văn khai tử Nam Việt Nam là cái khóc đáng thương. " Neu ong Thieu la nguoi co tu cach thi da tu choi ky hiep dinh Ba Le, 1973, va xin tu chuc. |
|
said this on 02 Oct 2009 12:33:22 PM EST
-Nhieu nguoi benh vuc cho ong Diem noi My lat do ong Diem vi ong Diem khong cho My dua quan vao VN, hoa`n toan sai, nam 1963 che do Diem qua' thoi na't, doc ta`i ap buc dan chu'ng, bat bo+' giam ca^`m tra ta^'n nhung nguoi doi lap khien dan Sai gon rat khiep so+., doc tai gian ac khong thua gi CS, che do Diem khong the ton tai duoc vi mat long dan toi 90%.
-Nam 1965 neu My khong do quan vao VN thi se mat trong 6 thang. -Cuoc chien tranh VN khac cuoc chien Trieu Tien vi CS Bac Viet rat hie^'u chien, cuoc chien nay cung la chien tranh giua CS quoc te va My. -Chinh phu My, cac nha lanh dao VN, cac Tuong Lanh cung da lam het suc mi`nh de giu mien Nam nhung phong tra`o phan chien cua nguoi dan MY da~ la`m dao? lo^.n moi ke hoach chinh tri, quan su cua mien NM va My dua toi sup do mien Nam. -Ong Diem co' to^.i voi dat nuoc nhieu ho+n ong Thieu, ong Diem duoc My giup do tan tinh nhung qua doc doan da khong chong lai duoc cuoc xam lang CS, khong duoc dan chung ung ho, mot ong Tong tho^'ng ma` cuo^`ng tin ve ton giao thi` thu hoi lam duoc cai tro gi? NSG |
|
said this on 03 Oct 2009 12:08:57 PM EST
Chẳng biết Nguoi SG là ai mà sao thù ghét ông Diệm đến thế nhẩy?
Biết thì nói còn không thì thôi, dựa cột mà nghe, mở sách ra mà đọc, Nguoi SG muốn tỏ ra giỏi hơn tác giả Trần Bình Nam và những nhà viết sử hả? |
|
said this on 02 Oct 2009 1:35:07 PM EST
Tôi không đồng ý với đoạn văn dưới đây.
Trích: "Sau Thế chiến 2, Hoa Kỳ giúp nước Đức, Nhật Bản, và năm 1953 sau khi cứu Nam Hàn khỏi bị Bắc Hàn thôn tính, Hoa Kỳ cũng muốn sai bảo các quốc gia đó như Hoa Kỳ sau này đã từng sai bảo Nam Việt Nam. Nhưng người Đức, người Nhật và người Nam Hàn biết cách tự đứng vững trên đôi bàn chân của mình. Trong một thời gian dài được sự bảo vệ của Hoa Kỳ, các nước Đức, Nhật, Nam Hàn tự tay chấn hưng nền kinh tế quốc gia và đóng góp vào sự phồn thịnh chung của thế giới. Họ có thể nuôi lính, nuôi dân bằng tự lực sản xuất. Và trong tình thế nhờ vả Hoa Kỳ, các nước Đức, Nhật, Nam Hàn có những nhà lãnh đạo xứng đáng với thời cuộc." Một sự so sánh khập khễnh. Xin hỏi tác giả: Sau thế chiến thứ hai, ba nước Đức, Nhật và Nam Hàn có bị lâm vào tình trạng chiến tranh giống như trường hợp của miền Nam hay không ? Chả lẽ khi CS chủ trương chiến tranh lại để yên cho miền Nam tư do phát triển hay sao ? Cứ cho rằng miền Nam không có người lãnh đạo tài giỏi thì cũng được đi. Thế thì cả một nước Mỹ với binh lực và vũ khí hùng hậu như vậy mà vẫn không thắng được VC là tại sao ? Miền Nam mất vì có rất nhiều nguyên nhân mà những nguyên nhân ấy nhiều khi không ở trong tầm tay của người lãnh đạo chứ chẳng phải do người lãnh đạo thiếu khả năng, điều đó bây giờ thiên hạ nhiều người đã biết, viết như vậy là thiếu nghiêm túc. Tác giả sẽ trả lời ra sao khi có người nói rằng: "Đám lãnh đạo CSHN đa số ít học, trong khi ở miền Nam những người lãnh đạo tương đối có học hành và được đào tạo đàng hoàng nhưng lại thua". Nếu cứ đổ lổi cho lãnh đạo bất tài, tôi e rằng bài bình luận sẽ trở thành " bình loạn " mất. |
|
said this on 03 Oct 2009 12:18:04 PM EST
Các bác cứ tranh cãi với nhau đi, tôi bảo đảm rằng dù miền Nam có người tài giỏi đến đâu thì cũng phải thua miền Bắc chúng tôi, tại vì miền Bắc rất kỷ luật và bác Hồ rất nhân đạo, sẵn sàng cho đi mò tôm những ai không vâng lời hoặc chống lại đảng, chẳng tha giết lầm còn hơn tha lầm là vậy, ở miền Nam đang phải đương đầu với chiến tranh mà lại bày đặt Nhân đạo với nhân quyền, tha lầm còn hơn giết lầm thì bọn phản động nó gài người phá hoại, chết là cái chắc.
|
|
said this on 02 Oct 2009 2:38:59 PM EST
NHIÊU ĐIỀU CHƯA DÁM NÓI RA...
Cám ơn tác giả Trần Bình Nam đã dựa vào tư liệu vững chắc "CIA và các tuớng lãnh" rút ra nhiều kết luận chính xác đáng cho nguời VN mọi tầng lớp quan tâm. Tầm thuờng nhưng lại tuỡng mình thông minh .Nhìn vào kết quả công trình phát minh tại Đại học , VN là zero trong khi các nuớc khác Dông Nam Á hàng trăm trở lên hàng chục ngàn...Nhìn vào cận Sữ ,VN bị nô lệ Tây phuơng trong khi các nuớc Á Đông khác như Nhật , Thái Lan không bị ... Lý do đuợc chống đõ là vì những "tồn tại khách quan" khác chứ không phải mình (vua chuá , sĩ phu ) u mê dốt nát.. Hèn nhát nhưng lại tuởng mình anh hùng .Nhìn cách Bác Hồ và hàng ngũ lãnh đạo trên duới cuả CSVN đổ trách nhiêm cho kẻ khác , ngay cã việc liệng cơ, bõ đạo đã rành rành (cờ buá liềm,bõ Đạo Mác Lê) trơ trẽn cúi đầu vâng dạ kẻ cưụ thù để xin tồn tại như thế ,xưa tùng cao ngạo oang oang là nhà cách mạng nay không dám sống công bằng với đưá trẻ thơ ! Thế mà vẫn còn lấp liếm tự dối gạt mình, lưà đão thiên hạ rằng nhân dân ta anh hùng là sao? Không dám sống công bằng với kẻ khác , chui rúc len lõi xin ăn xin trợ cấp, rồi xưng hùng xưng bá chống cã nguời trong nhà tới ngoài đuờng mà tuỡng chống Cộng ,ăn trợ cấp SSI ( tư ru ngũ đặt tên là "tiền già).Duới con mắt cuả nguời Mỹ thì đây là loại nguời thua kém xa phẫm chất cuả một nguời undocumented Mexican đúng dọc đuờng xin việc làm hàng ngày . Cái loại đĩ già này không biết xấu hỗ lai bô bô muá mõ trơ trẽn Kỹ sư nọ , tiến sĩ kia ...Đó không phải là hèn nhát ? Còn lăm điều tối tăm chưa tiện nói ra hết... Loại bỏ Cộng Sãn VN ( thực chất là bọn gian hùng ) chỉ là việc truớc mắt .Với những ai trăn trở cho tuơng lai số phân cho cã dân tỗc thì việc xoá bỏ cho đuợc thói hư tật xấu có tính truyên thống như cách sống ích kỹ , giả dối . lưà đão , hèn nhát, khoe khoang khoác lác ,hai mặt , tráo trỡ , hung hăn ,háo thắng ...( thành tích số một là tội ác đủ loại xãy hàng tháng ), là việc cần thành thật mạnh dạn quan tâm bàn luận , nhắc nhỡ trên một diện qui mô và lâu dài... Cách nay không lâu, một sinh viên VN về Sử tai UCLA đuợc hỏi nghĩ gì về đất nuớc và con nguời VN , anh ta không do dự trả lời: ".. something wrong with the whole people ..." |
|
said this on 02 Oct 2009 7:19:06 PM EST
Tôi đồng ý với Trần Thế Thi và xin góp ý với Người SG.về những
hiểu biết thuộc loại "khẩu thuyết vô bằng" của ông. Để lật đổ TT.NĐD.Mỹ chủ động can thiệp cho LHQ.cử một phái đoàn qua điều tra chính quyền VNCH.đàn áp Phật giáo nhưng Bản phúc trình của Liên hiệp Quốc ngày 13-12-1963 kết luận như thế này "Những tố cáo đệ trình lên Đại hội đồng LHQ.nhằm chống chính quyền NĐD.KHÔNG đứng vững sau khi phái đoàn điều tra một cách khách quan...",do đó Mỹ không cho công bố mà hoãn đến 1964 sau khi lật đổ được ông Diệm. Bản phúc trình trên gọi là Report of the United Nations fact finding mission to South-VN. Như vậy những tố cáo độc tài có xuất phát không những từ VC. mà còn từ Mỹ vì cả hai chung 1 mục đích nhưng khác quyền lợi. Xin Người SG.đọc ý kiến sau đây của 1 trí thức thân cộng ở Paris nói về năm bản lề 1963 đăng trên Diễn Đàn số 127 tháng 3 năm 2003 trong bài "40 năm sau nhìn lại 1963" như thế này "Điểm lại những hiểu biết hôm nay về năm bản lề 1963 có lẽ chỉ cần nhấn mạnh một điều :nếu kho lưu trữ ở VN.chưa được mở ra cho các nhà nghiên cứu và ngày nào chưa thực sự mở ra thì lịch sử hiện đại VN.vẫn còn là đôc quyền của các sử gia nước ngoài và ký ức quốc gia của dân tộc ta vẫn còn đắm chìm trong cõi vô minh". |
|
said this on 02 Oct 2009 9:44:52 PM EST
Tại thời điễm 1954-1963 , cụ Ngô Đình Diệm chớ quên rằng ngoài cụ ra miền Nam vẫn còn nhiều nhà chính trị sáng giá
khác như Nguyễn Tuờng Tam, Vũ Hồng Khanh, Phan Khắc Sữu ...Cụ Diêm có nhiêu ưu điễm hơn cã HCM cho dù không tiếng tăm bẳng . Mặc dù từng sống tại Tây phuong vài năm nhưng nhận thức dân chủ (điền nguời Mỹ quan tâmnhất )có vẽ kém xa nhiều so với các nhà chính trị khác cuả miền Nam. Những lời lẽ nịnh hót cuả bọn bộ hạ ,tham nhũng cuả nguời trong gia đình và tay chân , nhũng báo cáo láo, những kỳ thị tôn giao ,mất kiễm soát gần toàn bọ miền Nam bất họp tác với Hoa Kỳ dẫn tới sụp đỗ là tất nhiên... Vài tư liệu và ý kiến cuả hai nhân vật Hoa kỳ sau đây giúp vào nhận định cho nguời Việt : Trong THE GLORY and THE DREAM ,William Manchester viết 1. Greatly taken with Ngo Dinh Diem, he(Pr. L. Johnson) publicly hailed him as “ the Winston Churchill of South Asia.” After the party had left Vietnam, Stanley Karnow, a writer for Saturday Evening Post, asked him wether he really believed that .“ Shit man,” the Vice President replied, he is the only boy we got out here.” (1122) 2. Diem was an archetype of the strong man in power. His title was president , yet he did not think much of democracy. He was more of an Oriental despot, or at any rate an aloof mandarin who firmly believe that it was the duty of his people respect and to obey him. His rivals were sent tp concentration camps. Under him there was no fr êdom of the press and no eal reform. Army officers were political appointees, chosen for their loyalty, not their ability, and though Diem himself was honest, the halls of his palace swarmed with the corrupt and the ambitious.Rigid and inflexible ,he seemed fo feel that Roman Catholics should be priviledged for no other reason than that he himself a Catholic. (1122) 3. Ike (Eisenhower President )this agreement(“ to assist Vietnam in developing and maintaining a strong , viable , capable of resisting subversion , or aggression through military mean”) with the understanding that it would be accompanied “by performance on the part of Vietnam in understaking needed reforms” The purpose of his assurance was to “ discourage any who might wish to impose a foreign ideology on your free people”.(1124) 4.The previous year Diem had easily turned back an attempted coup, and when Vice President Johnson asked him if he wanted some American soldiers, he said he did not. But though round troops were not necessary then, he admitted needing some help.(1126) 5.The situation gets worse almost week by week” ,Theodore H. White wrote to August, 1961 White found that “ guerrilla now control almost all the Southern delta…”(1127) 6….guerrilla captured a provincial capital an executed the governor. Diem ‘s troop were in retreat everywhere.(1127) The Vice President ( Johnson): …the real enemies in Vietnam were” hunger, ignorance, poverty, and disease”…(1127) 7. To arrest the decline in Diem’s fortunes, Kennedy was urged to send him (Diem) a large contingent of American advisers and-more important-American infantry: 8000 at once and more as needed.(1127) 8 .Most important of all, the native population in South Korea wanted American there. In Vietnam they did not. Vietnamese villagers tended to regard U.S. Caucasian troops as a successors to the French, and the Vietcong as heroes. (1128) 9.. Like Eisenhower seven years ago, the President (Kennedy) affirmed the arrangement in a public exchange of letters with Diem(1962). It was not all one- way ; Diem conceded the need for reform s and acknowledge the ne ed for more leadership and better moral in his army. (1128) 10. …He (Diem) represented what might be called the Vietnamese establishment, the conservative, upper-class mandarins who spoke French and worshipped God as Roman Catholics…(1211) Trong COUNSEL TO THE PRESIDENT Clark Clifford (former U,S.Defense Ministry) ( 06-04-09) viết : 1 .We had the reason to feel that.... albeit in somewhat subtler form, were we to stand aside while the communist North sponsored subversion and terrorism in South Vietnam.(p. 404) 2. From its beginning, though, we were constraint by the fact that our South allies were corrupt, inefficient, and poorly motivated. This was critical : in the final analysis, American objectives in Vietnam depend more on the capacities of our allies in Saigon than our own efforts. And the more we did for them, the more dependent and ineffectual the became. It was in this very point that our policy would ultimately fail-although I did not realize it at first. (p.404) 3. Every President from 1950 through 1975- thee Democrats, three Republicans- made mistakes in Indochina, and the Congressi onal leadership of both parties supported almost every key decision. (p.404 ) 4. Our last discussion during the Kennedy years took place on sep. 12-13. 1963 almost a fierce debate over wether or not to encourage a military coup against the increasingly unpopular South Vietnamese government headed by the rigid Catholic strongman, Ngo Dinh Diem. 5. The situation in Vietnam ( 1963) had deteriorated so badly, he ( CIA Director John McCone) told us that we might simply have to pull out entirely. Diem had lost all popular support except from his fellow Catholics, and could not win the war against the communist guerrillas, who were steadily gaining ground.(405 ) |
|
said this on 03 Oct 2009 12:26:40 PM EST
Ông/ bà LUCLAN tin những gì người Mỹ viết về VN thì cứ tin, còn tôi, thú thật, chỉ đọc cho biết mà không quan tâm, dễ hiểu, vì họ muốn lèo lái cuộc chiến VN nên viết những gì thực sự có lợi cho họ, nhà nước VN hiện nay cũng thế, họ chỉ đẽo gọt lịch sử cho vừa chân mình, vì vậy mà tôi đọc với cái đầu suy nghĩ, lý trí sẽ giúp chúng ta có nhận định khách quan và vững chãi hơn.
|
|
said this on 02 Oct 2009 10:59:50 PM EST
Đúng như nhận định trong bài "40 năm nhìn lại 1963",phần lớn những tài liệu ác cảm xuất phát từ Mỹ và từ đó,chúng ta bàn cãi
về chiến tranh VN.đều chủ yếu dựa vào tài liệu MẬT của Mỹ giải mã trong khi tài liêu MẬT từ phía VN.chưa được giải mã ! Dĩ nhiên,TT.NĐD.xuất thân là 1 quan lại triều đình Huế nên cung cách của ông không được bình dân là điều dễ hiểu.Vấn đề chính là ông có khả năng làm 1 nhà cai trị bảo vệ danh dự quốc gia và dân tộc hay không.Ông Diệm độc tài thì đúng nhưng độc tài như thế nào,có hơn những lãnh tụ Á châu khác không và nhất là so với họ,ông phải đương đầu với cuộc chiến tranh du kích do VC. thực hiện nhằm lật đổ chế độ dân chủ còn chập chững của miền Nam.Dân chủ xét theo quan điểm của người Mỹ là thiển cận vào lúc đó,thành thử họ kết án ông Diệm độc tài cũng đúng ! Để dọn đường đem quân vào,Mỹ chuẩn bị cho một loạt những ký giả qua VN.quan sát tình hình theo quan điểm dân chủ của Mỹ, trong đó có những tên còn búng ra sữa như Neehan,Habertam còn "ngựa non háu đá" lẫn háo danh tự do mạt sát chính phủ TT. NĐD.quan liêu,độc tài v.v.và v.v.Ngoài ra,Mỹ cũng gợi ý cho 1 số sử gia Mỹ công kích TT.NĐD.để CHÍNH NGHĨA HÓA việc lật đổ chế độ Đệ I CH.nhằm đưa quân qua trực chiến với VC.Đó là điều tối kỵ theo quan điểm của TT.NĐD.vì Mỹ sẽ làm mất chính nghĩa của công cuộc chống Cộng của VNCH. 1975 đại sứ Mỹ đã "bỏ của chạy lấy người" vì chính sách thiển cận can thiệp thô bạo là một bài học đắt giá.Một thất bại nhục nhã chưa từng có của Mỹ ! |
|
said this on 03 Oct 2009 2:10:37 AM EST
-Toi la nhan chung duoi thoi Ngo Dinh Diem, hoi do toi hoc nam thu 2 Dai Hoc, che do Diem chi? duoc mot so it Cong Giao qua khich va bo.n to^i to+' ung ho^., khong duoc nguoi dan ung ho, che do ap dung chinh sach cong an mat vu, bat bo+' tra tan rat ghe so.
-Nay phong trao phuc hoi che do Ngo dinh Diem duoc to chuc ram ro do mot bon to^i to+' cu~ to chuc rat tro tre~n, bi khinh bi? , phuc hoi de lam gi? de dua con chau nha Ngo ve VN lam Tong Thong? Mot so nguoi cuo^`ng tin u me van lon tieng ca ngoi Ngo Tong Thong muon nam !! NSG |
|
said this on 03 Oct 2009 2:14:15 AM EST
Truoc het, ta hãy cong nhan chinh phu cuaTT Diem co rat nhieu khuyet diem: tương đối độc tài, có phần thiên vị với giới công giáo, quan lại, khinh rẻ đối thủ, thiếu tinh thần dan chu, lối ăn nói trịch thượng, vv... Ong Diem, vi nghe ninh hot, da quen rang neu khong co su giup đỡ cua My thi ong khong làm sao lên làm TT.
Tuy nhien ta cung nen cong nhan TT Diem thanh liem, yeu nuoc, de quyen loi va danh du quoc gia tren quyen loi ca nhan. Những nguoi có lỗi nhất với non sông, khong phai la ong Diem hoac My, ma chinh la nhung phan tu theo Pháp, theo Phat giao, theo phan chien, cac tuong bất tài, thời Phap thuoc còn là trung uy, đai uy... Những phần tử này, thieu thong minh, thieu chiều xâu, thieu hieu biet tinh trang quoc te, khong hieu biet bản chất cua CS quoc te va CS Viet Nam, thieu ky luat, thieu kiên nhẫn, inh oỉ, xuong duong bieu tinh chong ong Diem. Ho khong hieu tinh trang nguy ngap cua mien Nam Viet Nam, truoc su de doa CS Lien Xo + CS Trung Quoc + CS VN Di nhien la chinh phu Diem khá tồi; nhung ma nhung thanh phan chong ong Diem phai hieu rang họ vẫn cần đồng tâm hợp tác với ong Diem de ma gin giu mot mien Nam vung trac truoc su de doa CS Bac Viet; neu khong ung hộ ong Diem thi se mat mien Nam; vậy hãy cùng với ong Diem chống CS đ̃a; sau này ta se thay chinh phu Diem; ý rằng thí con tuong đễ giu con xe. Hơn nữa khong ai thay ngua giua luc sang song ̣( on ne change pas de monture en plein gué ) Những phần tử này cũng nên hieu rằng My khong ung hộ mot cá nhân nao ngoài ong Diem va QLVNCH; nghia la My khong ủng hộ họ. Trong khi phận nuoc nghieng ngửa mà bieu tình với đảo chính cái gì! |
|
said this on 03 Oct 2009 1:08:18 PM EST
Thua qui ban
Mot chinh phu chong CS ma cung doc tai nhu CS thi chong CS cai gi? ai theo? Mot chinh phu khong duoc nhan dan ung ho thi lam duoc cai tro` gi? Mot chinh phu dua het ca gia dinh vao trong chinh quyen thi khong doc tai thi la cai gi? Anh em ong Diem khong phai la nhung nha lanh dao khon ngoan, nha lanh dao khon ngoan phai du+.a vao so dong (thi du CS du+.a no^ng da^n chu khong dua vao dia chu), anh em ong Diem chi dua vao mot thieu so Cong giao ( 10% dan so) trong khi dai da so dan chung la Phat Giao, Cao dai, Hoa Hao... NVV |
|
said this on 04 Oct 2009 3:39:41 AM EST
Tra loi NVV:
"Mot chinh phu chong CS ma cung doc tai nhu CS thi chong CS cai gi? ai theo?" Cái độc tài của chinh phu Diem khong lam 1 trieu nguoi phải nhẩy xuong bien tren nhung con thuyen mỏng manh, bỏ quê huong xứ sở di tim tu do; Cái độc tài của chinh phu Diem không bỏ tù từ ̀5 đến 8 trăm nghìn quân dân mien Nam trong cái mà goi là trại cải tạo, để chết dần chết mòn. Cái độc tài của chinh phu Diem không ra lenh cho vo chong con cai rình mò, dò la và tố cáo nhau với công an phường, và như vậy chà đạp lên nền văn hóa căn bản của dân tộc. Cái độc tài của chinh phu Diem còn dễ thở gấp nhiều lần doc tai cua Nam Hàn dưới su lanh dao cua tướng Park Chung Hee, nguoi da dem lai su mo mang kinh te, su phon thinh va nen tu do cho dân Nam Hàn. Nói tóm lại, không thể so sánh doc tai cua chinh phu Diem voi loại độc tài súc vật của CS Bắc Việt được. "Mot chinh phu dua het ca gia dinh vao trong chinh quyen thi khong doc tai thi la cai gi?" Cái tính tôt đáng quý nhất trong chinh tri Á Đông noi rieng va trong nhan loai noi chung, khong phai la gioi ma la trung thanh; hon nua anh em ông Diem, ô Nhu, ô Thuc, rất trội, va xưng dang giup đỡ ô Diệm trong viec cai tri dat nuoc. "Anh em ong Diem khong phai la nhung nha lanh dao khon ngoan, nha lanh dao khon ngoan phai du+.a vao so dong (thi du CS du+.a no^ng da^n chu khong dua vao dia chu), anh em ong Diem chi dua vao mot thieu so Cong giao ( 10% dan so) trong khi dai da so dan chung la Phat Giao, Cao dai, Hoa Hao..." Lan dau tien o mien Nam VN, sau khi Phap ra di năm 1956, tri thuc quoc gia tu Bac chí Nam đã bỏ cai thai độ chùm chăn va đứng ra ung hô ô Diem. Ô Diem thuong yeu toan dan VN chu khong chia re giai cap, ban co nong, vv... nhu CS Bac Viet. Còn gì dễ bằng chỉ trích; còn gi khó bằng làm! |
|
said this on 04 Oct 2009 12:02:18 PM EST
Nói tới KỶ LUẬT là phải nghiêm khắc, độc tài. Trong một đất nước chiến tranh mà cứ biểu tình chống chính phủ, đòi tự do dân chủ, đòi làm loạn, chống đi lính, thì thua là cái chắc, hãy học hỏi cách cai dân trị nước của miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh, thực phẩm được qui định từng tháng, kinh tế bao vây bao tử, phát ngôn bừa bãi, khác với ý hướng của nhà nước là vô tù, trốn đi bộ đội hả, che dấu hả, cả nhà bị liên lụy, chỉ có thể mới có thể thắng đối phương!
|
|
said this on 05 Oct 2009 11:00:09 AM EST
Chúng tôi, người Việt Nam miền Nam, từ chối và ruồng bỏ cái lối kỷ luật của các ông người Bắc, một loại kỷ luật cưỡng ép, khủng bố của bạo lực.
Cái kỷ luật mà tôi muốn nói,là kỷ luật của người trí thức miền Nam biet tự kiểm soát ̣( self-discipline ) dể đặt danh vong va quyen loi tư dưới quyen loi quoc gia, dan toc. Môt lanh đạo co uy tin, chan ly, chinh nghia, luan ly, dao duc nhu đức Tran Quoc Tuan Hung-Dao Vuong thi chang can ky luat cuong ep ai, toan dan nhu mot, ai cung theo. Tiếc thay, lãnh đạo của ông, mở miệng ra là nói dôi', lừa bịp, thì mới phải ám sát, bỏ tù và gọi đó là kỷ luật. Ông là người Hà Lội mà lại viết "thua là cái chắc" chứ khong viet "chắc chắn sẽ thua" và "vô tù" chứ khong phai " vào tù"; lạ thật. |
|
said this on 03 Oct 2009 2:00:05 PM EST
Theo những nhận định của ông TBN, tôi thấy rằng ông đứng trên quan điểm của một người Mỹ để viết bài, chứ không phải của một người VN. Thật thất vọng! Ông có những phê phán rất "Mỹ" đối với chính quyền miền Nam VN. Ông, một cách vô cùng vô tư, so sánh khấp khểnh tình trạng và chính quyền mien Nam với các chính phủ Tây Đức, Nam Hàn là Nam VN đã không tự lực cánh sinh, đứng trên đôi chân mình trong lãnh vực KT, bla bla bla..., nhưng ông quên phéng đi một điều là các nước kia không phải lâm vào tình trạng xâm lăng của Bắc quân liên tục, ròng rã, không ngơi nghỉ. Bao nhiêu nhân lực của miền Nam dồn vào cuộc chiến đấu tự vệ cho miền Nam còn chưa đủ, lấy đâu mà phát triển hậu phương? Nếu có trách, thì trách từ đầu là bởi cuộc đảo chánh chính quyền tổng thống NĐD. Vì bất kể với những khuyết điểm nếu có của cố TT và cố vấn, hai vị là những nhà lãnh đạo khôn ngoan, yêu dân yêu nước, đã cố gắng hết mình và dùng cả sinh mạng để tránh cho VN trở thành bãi chiến trường cho hai đối cực ý thức hệ Tự do & CS. Tiếc thay, có những bàn tay nhơm nhúa và những cái đầu yếu kém nhưng đầy tham vọng đã gây ra cuộc thảm sát vị tổng thống được chính dân miền Nam chọn lựa và người bào đệ tận tuỵ. Khi miền Nam đã lâm vào chiến tranh với CSBV thì hỏi rằng những người lãnh đạo kế thừa, dù có tài năng chăng nữa, còn lại được bao nhiêu lựa chọn, bao nhiêu cơ hội để chứng tỏ tài năng?
|
|
said this on 03 Oct 2009 3:22:13 PM EST
CÓ CÁI GÌ ÍT NGU HƠN NỮA KHÔNG?
1.- Khi còn phải chống xâm lăng CSVN, lại thay ngữa giữ ghềnh. Ngữa mới lại thứ ngữa thua xa ngữa củ. 2.- Khi Mỹ đã phải dùng tới râu kẽm NCK, thời vừa chủ và tớ cũng một loại như nhau. 3.- Mỹ là một nứơc dân chủ. Có khi nào người Mỹ có thể từơng tuợng có đảo chánh tại Washington không? Như vậy tại sao lại đi đào chánh tại một dân chủ bạn. Bọn vô liêm sĩ. Tuy giàu có. 4.- Có ai tời giúp một nhà ông bạn đang bị cườp lại đi giết ông chủ nhả? Chỉ có Mỹ mới làm cái ấy cho VNCH. 5.- Sau khi giết ông chủ nhà. Đem quân vào và vừa đánh vừa tiểu trong quần. Như vậy giết ông chủ nhà để làm gì? 5.-Có ai muốn bảo vệ một cái nhà khỏi bọn cướp lại cho bọn cướp vào trong nhà mới đánh ( trung lập Lào để CSVN tự do chuyền vủ khí và quân đội). Đánh nhau trong nhà làm sao nhà không tiêu ? 6.- Có ý định bỏ bạn. Lại bắt bạn ký vào bản án tử hính. Thay vì nói với bạn: " Tôi rút thôi. Tôi giúp anh cứu dân và cứu lính qua một cuộc rút lui có yểm trợ và đợi ngày phản công lại". Tại sao không làm thế? |
|
said this on 03 Oct 2009 8:23:03 PM EST
Nì, cái anh chàng Tiếnxỷ HồngNĩnh này đang nói cái thứ tiếng gì mà kỳ dạy? Tiếng Việt chỉ có con ngựa chứ đâu có cái con "ngữa"
nhỉ? Tôi nhớ không nhầm thì tên này chính là cái lão LaGiang Hà Tịnh đây mà? Người ta nói ngựa anh ta lại nghe thành "ngữa", thiệt là "té ngữa" luôn! Nì, ông TiếnXỷ ơi, thằng Mỹ hắn không cần thắng, không cần tình bạnbè đồngminh, đồngchí gì cả, hắn chỉ cần tiền mà thôi, mà muốn có nhiều tiền thì cần phải tiêudùng vũkhí, nghĩa nà súng đạn, máybay, tàungầm, xe tăng, cànông, xăngdầu,.. nhất là bomđạn, mà sau 20 năm chúng đã trút xuống kwá đủ trên cái mảnh đất nhỏ bé của chúngta rồi, thu tiền nhiều rồi nên chúng nghỉ, đi "chơi" chỗ khác, kụ biết chưa ạ??? Kính kụ, TaTon |
|
said this on 05 Oct 2009 3:29:18 PM EST
Xin tra loi Nguoi Ha Noi va NHat Le
-Nguoi Ha Noi, xu+' nga`n nam van hie^'n sao ma an no'i lo^~ ma~ng the^'? -Hai ban Nhat Le va Nguoi Ha Noi co so^'ng duoi thoi Ngo Dinh Diem tai Sai gon Hue vao nhung nam 60, 61, 62, 63 hay khong? neu khong thi xin du+`ng no'i, co la nhan chung thi hay noi' con khong thi thoi, xin la`m on vu+'t bo? nhung tai lieu sach vo benh vuc che do nha Ngo di du`m NSG |
|
said this on 05 Oct 2009 11:12:52 PM EST
Thưa bạn Người SG.
Lẽ ra tôi không muốn trả lời bạn nhưng bạn buộc tôi phải lên tiếng,nên xin góp vài ý kiến. Tôi là người từng sống nhiều năm ở Huế,đã trải qua nhiều biến cố đau thương,nào Tết MThân,Biến động MTrung,Mùa hè đỏ lửa v.v. Nếu nói như bạn rằng phải ở Huế,hay nhân chứng thì nói là sai hoàn toàn.Vậy thì hóa ra đừng tin có chuyện chôn sống tàn ác của VC.ở Huế,chuyện MTrung suýt ly khai khỏi chính quyền trung ương 1966 nếu mình không thuộc 2 loại trên hay sao ? |
|
said this on 07 Oct 2009 11:28:02 AM EST
Tra loi Nhat Le
Thua ban Nhu nay ban thuoc the he nho? hon toi roi Toi khong phu? nhan gia tri tai` lie^u, cac tai lieu ve Mau Than, ve Mua he do lua, ve Bien dong mien Trung... da so^' du'ng va trung thuc, nhung cac tai lieu ca ngo+i gia dinh ho Ngo da so do bon to^i to+' cu~, mot so it Cong giao qua' khich... lam ra de to^ son die^?m pha^'n cho cai che do ma^'t da^.y da bi chon vu`i. -Xin lam on vu+'t bo? vao thu`ng rac nhung tai lieu bop me'o lich su, ca ngoi nha` Ngo^, nhung tai lieu na`y da da^`u doc nhung the he sau. -Ban da doc nhung tai lieu lo^t tra^`n toi ac che do nha` Ngo chua da? tai sao cu phai doc nhung tai lieu ca ngoi Ngo Tong Thong muon nam. -Che do Ngo dinh Diem tot tai sao ngay Cach mang 1-11-63, dan Saigon nha?y ra ngoai duong hoan ho am i~, 90% dan chung mung ro+~. NSG |


Author/Admin)