Văn chương Việt, một nền văn chương ướt át, lai láng hay nói khác đi: Văn chương Việt, một nền văn chương đái dầm.

"Chân lý đẹp nhất khi trần truồng và sự diễn tả nó càng giản dị bao nhiêu, ấn tượng nó tạo ra sẽ càng sâu sắc bấy nhiêu. Vì nhờ cách [diễn tả] đó mà nó [chân lí] đi được trọn vẹn vào tâm trí người đọc mà không bị gây nhiễu bởi các ý tưởng tản [lãng] mạn


*

“Anh Bường bảo: ‘Đủ rồi đấy, các nhà tình cảm chủ nghĩa. Cứ thế này thì văn học nước ta chẩy nước ra mất’

Mấy thằng bán quán khốn nạn mất dậy chuyên chửi khách, băm chặt khách thì đặt tên quán là Bình Dân với Thanh Lịch! Còn mấy thằng bán thuốc nạo thai đàn bà con gái thì lấy tên Hồi Xuân với Cứu Thế! Văn học nước mình rôm rả thật!”

*

 “Tôi đã đọc đến lần thứ hai, đây là một nố vồ rất nhiều cảm xúc, tôi thực sự bị ấn tượng. Qúa xuất sắc, quá rồ mén tịch …, thật không ngờ. Toàn bộ những số phận đều là những bi kịch vĩ đại. Những tình tiết éo le đẫm nước mắt nhưng không hề bi lụy mà bừng sáng lạc quan cách mạng. Từ đầu tới cuối văn phong thấm đẫm chất thơ… À, cái thằng phong cảnh…chà… phong cảnh trong toàn bộ nố vồ hiện lên với vẻ bi tráng, lâm ly đến thống thiết, ứ tràn cảm xúc …, phong cảnh, thời tiết trong nố vổ  này phải được hiểu như một nhân vật, một số phận đấy oan nghiệt. Đoạn nói về lũ lụt miền Trung đấy thôi… chà.

Tôi đặc biệt tâm đắc với chương bốn và chương sáu. Nếu toàn bộ những chương kia mang dáng vẻ siêu hình, thì hai chương này là đỉnh cao của nghệ thuật hiện hình. Nó có kết cấu đa tầng, đa thanh…, giống …, giống với kết cấu chương hai giao hưởng “Chiến thắng sông Lô” của Betnhettoven.

Tóm lại, có thể nói, đây là một siêu văn bản siêu việt nói lên cái siêu ngã qua đó khẳng định cái siêu tôi. Tuyệt! Tuyệt vời.

*

- Trên đây là ba đoạn trích dẫn. Đoạn 1 là trích từ tiểu luận Bàn về nghệ thuật và phong cách [viết] của nhà tư tưởng (mà tôi rất kính trọng và khâm phục khi đọc ông): Arthur Schopenhauer.

Cũng trong tiểu luận này, ông còn nói rằng lời văn bóng bẩy, dài dòng, rậm rạp (đầy cảm xúc) để thể hiện rất ít ý tưởng hay/hoặc những vấn đề vụn vặt vẩn vơ là một biểu hiện không thể nhầm lẫn của một trí tuệ trung bình kém. Tất cả những khối óc xuất chúng đều tìm được cách diễn đạt những vấn đề phức tạp một cách đơn giản và ngắn gọn nhất.

- Đoạn trích thứ 2 là từ truyện ngắn Những người thợ xẻ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Cả hai mẩu trích đoạn đều trong văn cảnh không có chuyện gì liên quan tới văn chương, nhưng chúng đều được buông thõng những kết luận rất “giật” về văn chương Việt. Đó cũng là một điểm tôi thích ở lối viết Nguyễn Huy Thiệp.

Trong mẩu thứ hai, ông Thiệp không chỉ nói về cái ướt át, ướt đến chẩy nước của văn chương nước nhà, mà ông còn cho độc giả thấy thấp thoáng một nền văn chương đầy dối trá nữa.

- Đoạn văn thứ 3 là lời nhận xét của một nhà phê bình (là anh ruột của tác giả cuốn tiểu thuyết) cho tiểu thuyết của một tay viết mới vào nghề (người em). Lời nhà phê bình ấy được trích từ một truyện ngắn của… tôi. [ặc ặc híc hix] Xin mọi người chớ vội cho rằng tôi chơi trèo, bố láo, dám cả gan mang mình ra xếp với các bậc trưởng thượng. Sự thật là tôi cũng… có hơi láo, nhưng chưa dám và sẽ không bao giờ dám láo tới mức đó. Tôi trích dẫn chính mình trong tình huống này đơn giản bởi tôi thấy nó thích hợp trong hoàn cảnh bài viết. Và (theo tôi, nó) cũng là một cách điểm xuyết gây hài (!?). Hơn nữa, tôi viết bài trong khi không ở nhà, nên không có sẵn tài liệu. Hai đoạn trích trên là tôi viết lại theo trí nhớ của mình, bởi vậy rất có thể chúng không được như nguyên bản. Trích dẫn theo trí nhớ không phải do ẩu tả, mà do tôi tự tin, rằng tôi nhớ chúng gần như thuộc lòng, bởi chúng có ấn tượng đặc biệt với tôi. Riêng đoạn của tôi, là trích dẫn từ nguyên bản, do tôi có lưu một số sáng tác của mình trong hộp thư điện tử. Thấy sẵn “tài liệu” nên cũng liều mạng dùng luôn.

Ở đoạn văn này (đoạn 3), mọi người có thể thấy những lời tán dương rất thù tạc, nhà phê bình nọ sử dụng những ngôn từ cực kì đao to búa lớn (tới mức mơ hồ, thậm chí ngây ngô) nhưng rất chung chung, và hơn hết thẩy, chính ông ta cũng tin rằng, tràn trề cảm xúc, trữ tình, lãng mạn là những ưu điểm có tính quyết định cho một tác phẩm thành công; thậm chí, tác phẩm lớn. Bởi thế nên ông ta luôn nhấn đi nhá lại đặc điểm này.

*

Những ý tưởng trên của tôi vô tình, như một sự a dua, vào hùa với tác giả Nguyễn Tôn Hiệt với bài viết Một nền văn chương giầu cảm xúc trên web tienve. Tôi rất thích thú khi đọc bài viết này, và hầu như đồng ý với tất cả các gạch đầu dòng của bài viết (tác giả Nguyễn Tôn Hiệt đánh số thứ tự), chỉ duy nhất cái gạch đầu dòng cuối cùng, tức ý thứ 20, tôi cho rằng hơi thừa. Thừa bởi phần lớn độc giả Việt Nam, trong đó có cả các siêu độc giả, tức các nhà phê bình, vốn dĩ đã bơi rất giỏi, không cần phải “tập” thêm nữa.

*
Nhắc lại: tôi rất thích thú khi đọc bài Một nền văn chương giầu cảm xúc, nhưng tôi viết bài này hoàn toàn không phải là sự vào hùa, a dua với bài viết đó. Bài viết của tôi xuất phát từ một lí do khác.

Ý tưởng viết bài này của tôi nẩy sinh sau khi đọc Bài diễn văn của ông thợ cạo trong vị thế một nhà độc tài vĩ đại bất đắc dĩ của Charlie Chaplin, bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn trên talawas blog hôm trước, và hôm nay, trên Tiền Vệ.

Quả là một diễn từ tuyệt vời của bậc thiên tài!

Tuyệt vời bởi thời điểm ra đời của những dòng văn trong diễn từ ấy! Tuyệt vời vì những tư tưởng tiến bộ vượt bậc như vậy được viết ra chỉ bởi một diễn viên chứ không do một triết gia hay nhà tư tưởng.

Như vậy, người đời không sai, không ngoa, khi gọi ông, Charlie Chaplin, là một thiên tài!

Trong bài diễn văn khiến tôi đọc như bị hút hồn ấy, có một ý in ngay vào thanh RAM Speed 1970 Mhz trong não tôi, vì nó quá hay, và nó quá ấn tượng: Chúng ta suy nghĩ quá nhiều và cảm nhận quá ít.

Có thể “diễn dịch” ý này cho sát hơn, rằng, chúng ta đang trở nên quá ư duy lí, tâm hồn chai cứng đầy lí tính, mà quên đi phần tư duy cảm tính, đánh mất đi sự xúc cảm trong tâm hồn. Điều này vô cùng đúng trong hoàn cảnh châu Âu lúc đó, là lúc sức mạnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai khiến con người ta trở nên máy móc, xơ cứng.
*
Nhưng ý này của Charlie chỉ đúng với hoàn cảnh châu Âu. Nếu ai đó dại dột, trích dẫn nó để áp vào xã hội Việt Nam ta ngày nay thì thật là khốn [nạn], bởi con người Việt Nam cho tới hôm nay - là lúc mà thế giới đã diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần ba, và đang là kỉ nguyên của công nghệ số – vẫn luôn mơ màng cảm tính mà thiếu trầm trọng tư duy lí tính.

Phải chăng chính vì thế mà dân tộc ta mới là dân tộc thi ca? Phải chăng chính vì thế mà đại thi hào Nguyễn Du viết trong tác tác phẩm (vĩ đại nhất của văn chương Việt, cho tới nay) của mình là “cái tâm kia mới bằng ba cái tài”. Và “chân lí” này cho tới nay vẫn được chúng ta xiển dương nhiệt liệt! Ở đây, rõ ràng “cái tâm” thể hiện cho cảm tính, và “cái tài” là biểu hiện của lí tính.

Tư tưởng coi trọng tình cảm, coi thường lí tính dẫn tới những quan hệ xã hội kém rạch ròi, rất “mờ mờ nhân ảnh”, thường mang cái tình ra cân đo trong nhiều mối quan hệ xã hội từ vi mô đến vĩ mô, và như vậy dẫn tới hậu quả tất yếu là tinh thần thượng tôn pháp luật rất khó bén rễ ở Việt Nam. Không có tinh thần thượng tôn pháp luật, điều đó sẽ dẫn tới những gì, chúng ta không khó hình dung.

Từ xưa, xã hội Việt Nam là một xã hội thuần nông, và, cho tới ngày hôm nay, vẫn thế. Ta chưa hề có một nền công nghiệp căn bản, vẫn chỉ là sự manh mún chắp vá mặc dù ta đã có không ít cơ hội để xây dựng một nền công nghiệp căn bản (và phát triển, tiến lên hiện đại) từ hơn một thế kỉ trước .

Từ ngày đi sứ tới Tây kinh
Thấy việc Âu châu phải giật mình
Kêu gọi đồng bang mau kịp bước
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin
(Phan Thanh Giản -  khoảng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX)

Và nhiều cơ hội từ nữa sau thế kỉ XX (tôi không muốn đi sâu vào từng trường hợp cụ thể trong bài viết này, bởi nó không phải là ý đồ bài viết). Suy cho cùng, cái nền văn chương giầu cảm xúc chính từ đây mà ra.

Và như vậy, tình trạng nghiệp dư (viết dựa hoàn toàn vào cảm xúc) trong văn chương, tính lâm li mùi mẫn, cái ướt át lai láng, sự xúc cảm tràn trề, vẫn sẽ còn ngự trị và được đề cao dài dài, và chưa  biết đến bao giờ cái sự và dài ngoẵng ấy mới kết thúc.

Ôi, Việt Nam tham to.

Có thể kết luận chắc nịch, rằng, cái ý rất hay trong bài diễn văn của Charlie Chaplin mà tôi nói bên trên, chỉ áp dụng/nói được với xã hội/con người Việt Nam nếu ta xoay ngược nó đi 180 độ: Chúng ta cảm nhận quá nhiều và suy nghĩ quá ít.

*
Văn chương của chúng ta đang ở đâu so với thế giới? Câu hỏi này đã ti tỉ các nhà các lều các chòi, toàn bậc hàn lâm khả kính nhăn trán chun mũi hỏi, ấy thế dưng mà hình như tôi chưa thấy có câu trả lời nào thỏa đáng. Riêng tôi thì cho rằng, văn chương của chúng ta cách thế giới cũng tựa như nền công nghiệp/nghệ chúng ta so với thế giới vậy!
*
Thậm chí chò có NHÀ mơ mộng, thậm chí đang manh tâm xúc tiến việc xuất khẩu văn chương

Ối giời là giờ! Thế này thì ông giời quá lắm to bằng cái đít chén

Ở đó mà rung đùi bứt râu nặn trứng cá rồi mơ về chuyện “xuất khẩu văn chương”.

Xin lỗi đi. Nhá!

Thà Goòng - 23/07/09

© Đàn Chim Việt Online