II. Biên giới lịch sử và biên giới pháp lý 1) Đường biên giới tại ải Nam Quan dưới thời nhà Nguyễn Vào lúc thực dân Pháp bắt đầu quá trình xâm lược nước ta, nhà Nguyễn vẫn chưa đạt tới trình độ vẽ bản đồ ngang với phương Tây. Giữa nhà Nguyễn với nhà Thanh cũng chưa ký kết các hiệp định về biên giới theo quan niệm của thời hiện đại. Tuy vậy, giữa nước ta và Trung Quốc đã hình thành một đường biên giới rõ rệt, một đường biên giới hiện thực được cả hai bên công nhận. Dọc theo biên giới, một hệ thống các ải đã hình thành từ tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) cho đến tận Lào Kay. Và giữa các ải đó, người ta đã dùng nhiều biện pháp để xác định đường biên giới, mặc dù vẫn còn khá thô sơ. Như phần trên đã trình bày, chỉ riêng trong tỉnh Lạng Sơn thời đó đã có đến 12 ải mà trung tâm là ải Nam Quan. Trong quyển XXIV của bộ Đại Nam nhất thống chí (nói về tỉnh Lạng Sơn), có cả một phụ lục về “địa giới” giúp chúng ta hiểu được người xưa đã dùng cách nào để phân định đường biên giới. Qua phụ lục này, chúng ta được biết: ở những nơi là “núi rừng”, người ta lấy sống núi (tức đường phân thủy) làm ranh giới; ở những nơi là “núi đất”, người ta lấy sống núi hoặc bia đá, bờ tre làm giới mốc. Ngoài ra, người ta còn dùng các biện pháp khác như: rào gỗ, đường đất hoặc đắp tường đất, trồng tre, đóng vào gỗ, v.v… Trong bài bút ký công bố năm 1888, bác sĩ P. Neis có kể rằng ngoài ải Nam Quan, phần lớn các ải ở vùng Lạng Sơn đều không xây cửa quan mà nhiều khi chỉ là một hàng giậu (palissade). Trong ĐNNTC cũng có kể tên ải Quì Ma, một cửa ải ở tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) “không đặt nơi phòng thủ sở”, nghĩa là không canh gác. Mặc dù vậy, tất cả các ải đó đều được tôn trọng, đều được coi là mốc biên giới. Một hệ thống các đồn và bảo được thiết lập để canh giữ các ải. Chính điều đó giải thích tại sao người Pháp và nhà Thanh lại có thể xác định được đường biên giới Việt-Trung. Trong tác phẩm của P. Neis, có đoạn văn sau đây: "Sau hơn hai tháng rưỡi tranh cãi không dứt, sau hai lần cắt đứt các cuộc hội nghị và hỏi ý kiến các chính phủ liên quan, sau cùng người ta thỏa thuận những cơ sở sau đây: người ta sẽ bắt đầu bằng việc thừa nhận đường biên giới cũ, mà đối với chúng tôi là đường biên giới duy nhất đang hiện hữu, rồi sau đó người ta sẽ thỏa thuận với nhau về những sửa đổi chi tiết có thể thực hiện, và người ta chỉ đặt ra những đường phân giới sau khi đã hoàn thành hai động tác nói trên." Đường biên giới cũ (l'ancienne frontière) mà P. Neis nói đến chính là đường biên giới mà nhà Nguyễn và nhà Thanh đã công nhận trong thực tế. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là: đường biên giới tại khu vực Ải Nam Quan có từ lúc nào? Và đường biên giới đã thay đổi bao nhiêu lần kể từ đó đến nay? Một số tài liệu sử học nêu tên ải Nam Quan trong những giai đoạn rất sớm. Trong bộ sử rất thông dụng có tên là Việt Nam sử lược, học giả Trần Trọng Kim nêu tên Ải Nam Quan ngay từ đời nhà Trần, trong thời kỳ quân Mông Cổ (nhà Nguyên) âm mưu xâm lược nước ta. Như trong đoạn văn sau đây: "Sài Thung đưa bọn Trần Di Ái đến gần ải Nam Quan, có tin phi báo về Kinh đô. Nhân Tông liền sai tướng dẫn một đội quân lên đón đường đánh lũ nghịch thần. Sài Thung bị tên bắn mù một mắt, trốn chạy về Tàu, còn lũ Trần Di Ái bị bắt, phải tội đồ làm lính." Nếu đọc trực tiếp bộ Đại Việt sử ký toàn thư, ở đoạn liên quan đến sự kiện này, chúng ta không hề tìm thấy tên “Nam Quan”. Ngay cả câu chuyện rất nổi tiếng liên quan đến cuộc đời Nguyễn Trãi, Trần Trọng Kim cũng nêu tên ải Nam Quan: "Ông Nguyễn Trãi là con ông Bảng nhãn Nguyễn Phi Khanh. Đời nhà Hồ, ông đã thi đỗ tiến sĩ (1400). Khi ông Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt về Kim Lăng, ông theo khóc, lên đến cửa Nam Quan không chịu trở lại. Ông Phi Khanh bảo rằng: 'Con phải trở về mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?' Từ đó ông trở lại, ngày đêm lo phục thù. Nay ra giúp Bình Định Vương bày mưu định kế để lo sự bình định." Thật ra, căn cứ vào các bộ sử cổ, chúng ta không tìm thấy cái tên “ải Nam Quan” trong giai đoạn này mà chỉ thấy cái tên “ải Pha Lũy”. Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (thường gọi tắt là Cương mục) được biên soạn vào đời vua Tự Đức và công bố vào đời vua Kiến Phúc (1884), có lời chua (chú) ở quyển XII, tờ 14 như sau: “Pha Lũy quan: ở xã Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn, nay là Nam Quan”. Điều đáng ngạc nhiên trong khi các nhà sử học - tác giả của bộ Cương mục, kết luận Pha Lũy là tên cũ của ải Nam Quan thì trong bộ sách địa lý quan trọng nhất của thời nhà Nguyễn (tức bộ Đại Nam nhất thống chí, ĐNNTC), cũng được soạn vào thời Tự Đức, lại không thấy ghi điều này. Như vậy, ải Pha Lũy có phải là ải Nam Quan hay lại là một cửa ải hoàn toàn khác, vẫn còn là một vấn đề cần tiếp tục làm rõ. Theo ĐNNTC, hai chữ “Nam Quan” được nhắc đến lần đầu tiên là vào đời nhà Mạc: "Sử chép: 'năm Nguyên Hòa thứ 8, Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là bọn Nguyễn Như Khuê qua Trấn Nam Quan, đến mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng'. Đến đây mới thấy Sử chép tên Trấn Nam Quan." Đây là một thời kỳ mà nội bộ của nước ta bị phân hóa trầm trọng. Vào năm 1522, Mạc Đăng Dung làm đảo chính lật đổ vua Lê Chiêu Tông, đưa hoàng đệ (em vua) tên là Xuân lên làm vua. Mùa đông năm Bính Tuất (1526), Mạc Đăng Dung cho người giết Lê Chiêu Tông và năm sau (1527), lật đổ hoàng đệ Xuân, chính thức cướp ngôi vua của nhà Lê, tự xưng là hoàng đế. Những người ủng hộ nhà Lê tìm con cháu của nhà Lê để tái lập ngôi vua, dựng ngọn cờ chống lại nhà Mạc. Nguyễn Kim (cha của Nguyễn Hoàng - người sau này xây dựng nên cơ nghiệp của nhà Nguyễn ở phía Nam) trốn sang Lào, lập căn cứ ở châu Sầm Nưa, lập con trai của Chiêu Tông lên làm vua vào năm 1533, đặt niên hiệu là Nguyên Hòa (tức là vua Lê Trang Tông). Vua Lê cho người sang Trung Quốc cầu cứu nhà Minh. Nhà Minh cử Mao Bá Ôn và Cừu Loan tập trung hơn 20 vạn quân kéo sang đánh nước ta. Sợ hãi trước đạo quân của nhà Minh, Mạc Đăng Dung đầu hàng vào năm 1540 (tức năm Nguyên Hòa thứ 8). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại sự kiện này như sau: "Mùa đông, tháng 11, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ Chế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh, qua Trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Lại xin ban cho chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn coi giữ việc nước và chờ lệnh thay đổi hay quyết định khác. Lại sai bọn Văn Minh và Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh." Qua đoạn văn trên, chúng ta biết mạc phủ (tức bộ tư lệnh) của nhà Minh do Mao Bá Ôn chỉ huy đóng gần ải Nam Quan. Như các tác giả của ĐNNTC đã nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên tên của ải Nam Quan được nhắc đến trong sử ký của nước ta. Theo ước đoán của đốc trấn Nguyễn Trọng Đang, ải Nam Quan “hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hòa nhà Lê nước ta)”. Niên hiệu Gia Tĩnh kéo dài từ 1522 đến 1566, trong khi niên hiệu Nguyên Hòa nhà Lê (đời Lê Trang Tông) ở nước ta kéo dài từ 1533 đến 1548. Mặt khác, tên của ải Nam Quan xuất hiện lần đầu trong sử ký vào năm 1540. Do đó, chúng ta có thể phỏng đoán thời gian xây dựng ải Nam Quan là từ 1533 đến trước năm 1540. Việc nhà Minh xây dựng cửa ải ở Nam Quan vào thời điểm đó chứng tỏ phía Trung Quốc mặc nhiên thừa nhận vị trí của cửa ải chính là đường biên giới giữa hai nước. Trước đó, có thể hai bên (nhất là phía Trung Quốc) chưa đồng ý với nhau về đường biên giới tại khu vực này. Mặc dù sử ký của nước ta không nói đến, nhưng Minh sử (Sử ký của nhà Minh) có ghi rõ: vào năm Hồng Vũ thứ 29 (tức năm 1396), Hoàng Quảng Thành, thổ quan tri phủ Tư Minh - một phủ giáp giới với Lạng Sơn, đã tâu với vua Minh rằng người Giao Chỉ (tức người Việt Nam) đã nhân cơ hội Trung Quốc loạn lạc vào cuối đời nhà Nguyên, đem quân cướp 5 huyện thuộc phủ Tư Minh. Ông này cho rằng đất Đồng Đăng thực ra là đất của phủ Tư Minh và đề nghị vua nhà Minh đòi lại vùng đất ấy. Minh Thái Tổ đã sai hai viên quan sang để đòi đất, nhưng “bàn luận qua lại mãi không quyết, việc bèn thôi”. Như vậy là suốt thế kỷ 15, phía Trung Quốc vẫn còn chưa hoàn toàn từ bỏ tham vọng giành lấy vùng Đồng Đăng và mãi đến thập niên 30 của thế kỷ 16, họ mới chấp nhận đường biên giới dừng lại ở ải Nam Quan. Có thể nói từ khi nhà Minh cho xây dựng ải Nam Quan, một thứ hiệp định không thành văn về đường biên giới tại khu vực này đã được ký kết. Người Mãn Châu sau khi chiếm Trung Nguyên, thành lập nên nhà Thanh, cũng mặc nhiên thừa nhận điều đó. Theo ĐNNTC, vào năm Ung Chính thứ 3 nhà Thanh (1725), án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai đã cho tu bổ lại cửa quan này. Vào năm Ung Chính thứ 6 (1728), nhà Thanh đã cho treo một tấm biển ở cửa ải, đề ba chữ “Trấn Nam Quan”. Đến năm Tân Sửu (1781) đời vua Càn Long nhà Thanh, lại cho treo một tấm biển trên trùng đài, đề 4 chữ “Trung ngoại nhất gia”, có nghĩa là “trong ngoài một nhà”. Vào năm 1813, đại thi hào Nguyễn Du có dịp đi sứ sang Trung Hoa. Nhân đi qua ải Nam Quan, ông có làm bài thơ trong Bắc hành tạp lục trong đó có hai câu như sau: Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm…
Nghĩa là: Hai nước chia đều nhau bởi mặt chiếc lũy lẻ loi
Một cửa quan oai hùng trấn giữa muôn quả núi…
“Mặt chiếc lũy lẻ loi chia đều hai nước” mà Nguyễn Du nói đến chính là bức tường xây hai bên sườn núi (người Pháp gọi là la Muraille de Chine, bức Trường thành của Trung Hoa), có cửa quan (tức ải Nam Quan) nằm ở giữa. Như vậy, có thể nói từ thập niên 30 của thế kỷ 16 cho đến khi thực dân Pháp xâm lược Bắc Kỳ, trong khoảng 3 thế kỷ rưỡi, đường biên giới ở vùng này được xác định ngay tại vị trí của ải Nam Quan. Nó được đánh dấu bằng cửa ải và bức tường xây ở hai bên cửa ải. Không hề có “vùng đệm” hoặc “hai cửa khẩu” như người thời nay thêu dệt. Nếu nhìn vào tấm ảnh trên đây (ảnh 9) và xóa đi cái cửa nhỏ và bức tường gắn liền với nó, chúng ta có thể hình dung ra cảnh tượng mà Nguyễn Du đã miêu tả trong bài thơ nói trên.Trong một bài trả lời phỏng vấn vào đầu năm 2008, ông Vũ Dũng – lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, tuyên bố một cách chắc nịch: “Tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, theo các văn bản pháp lý lịch sử, đường biên giới luôn nằm phía nam Ải Nam Quan. Trấn Nam Quan do Trung Quốc xây dựng vẫn thuộc Trung Quốc, chứ không phải đường biên giới đi qua Ải Nam Quan như một số người vẫn hiểu.” Nếu dựa trên văn bản pháp lý (tức là văn bản ký kết giữa nước Pháp và nhà Thanh) thì có thể nói đường biên giới nằm ở phía nam ải Nam Quan. Nhưng nếu dựa trên những văn bản lịch sử như trên vừa trình bày thì đường biên giới “đi ngang qua ải Nam Quan” chứ không nằm ở phía nam của cửa ải. Chỉ những người tin vào sử Tàu mà không tin vào sử Việt mới cho rằng đường biên giới lịch sử nằm ở phía nam ải Nam Quan. Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi đã xác lập quyền thống trị trên toàn bộ lục địa Trung Hoa vào năm 1949 đã “bê nguyên xi” luận điệu của nhà Thanh vào quan niệm sử học và địa lý học của họ. Trong khi đó, những người cộng sản Việt Nam không hiểu do đâu mà trở nên mơ hồ, mù mờ, thay vì dựa vào sử liệu của tổ tiên lại thừa nhận luận điểm của phía Trung Quốc, thậm chí coi đó là luận điểm chính thống của mình?