Phản chiến đã tạo niềm tin cho CSBV, họ chỉ chờ có thế, những năm đầu thập niên 50, biết người dân Pháp lúc ấy quá chán ghét, ghê sợ cuộc chiến tranh Ðông Dương vừa chết người tốn của, CSVN lỳ lợm cố đấm ăn xôi thúc đẩy tâm lý chống chiến tranh tại Pháp trong suốt thời gian 1947-1954 đã có 19 chính phủ Pháp bị đánh đổ vì không giải quyết được cuộc chiến. CS chỉ trông chờ vào phong trào phản chiến để đối phương phải chán ghét rồi bỏ cuộc, chiến lược “cố đấm ăn xôi” của CS đã từng thành công từ thời đánh Pháp nay họ lại đem áp dụng vào cuộc chiến tranh chống Mỹ, một cuộc chiến tranh không cân xứng giữa anh nhà giầu sợ chết và thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi.
Tháng 2 năm 1968 McNamara ra đi để lại di sản thật tai hại cho công cuộc chống Cộng Sản tại VN. Ông được coi là “nhà kiến trúc sư của cuộc chiến tranh VN” mặc dù với những phương tiện kỹ thuật thật tối tân và quyền hạn rộng rãi nhưng đã không chiến thắng được đối phương nghèo nàn lạc hậu. Kế hoạch MacNamara đưa tới sự sa lầy kéo dài chiến tranh gây tổn thất nhân mạng người Mỹ lên cao tới 30 ngàn người cuối năm 1968 thúc đẩy mạnh phản chiến đến chỗ quyết liệt . Từ đó đến nay, các nhà chính trị, quân sự Việt Mỹ, sử gia, ký giả.. đều nhìn nhận phản chiến là nguyên do chính yếu đưa tới thất bại tại VN, những nguyên do khác chỉ là phụ thuộc. Phản chiến đã bắt các nhà lập pháp cũng như hành pháp Hoa Kỳ phải rút quân sau đó cắt giảm viện trợ tới xương tủy cụ thể là tháng 2-1975 VNCH chỉ còn đạn đủ đánh trong một tháng và tháng 4-1975 chỉ còn đủ đạn cung ứng cho hai tuần lễ ( Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối VNCH). Johnson quá mệt mỏi vì cuộc chiến tranh, khác với lần trước hồi tháng 10 năm 1966, lần này ông ép buộc BV phải ngồi vào bàn hội nghị. Tháng 3-1968 ông tuyên bố ngưng oanh tạc phần lớn lãnh thổ BV và đề nghị Hà Nội chấp nhận đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh. Hà nội sợ hãi phải nhận lời, hoà đàm Ba lê bắt đầu ngày 10-5-1968.
Ðầu tháng 4-1969 Ðại tướng Westmoreland cựu tư lệnh Mỹ tại VN công bố phúc trình 347 trang về chiến tranh VN trong bốn năm qua, ông cho biết nếu Mỹ không đổ quân vào VN giữa năm 1965 thì sẽ mất trong 6 tháng , các tướng nhấn mạnh sự bó tay của quân đội Mỹ trước chính sách hạn chế chiến tranh của McNamara và Johnson, không cho đánh qua hậu cần địch tại Miên, Lào. Ðô đốc Sharp cựu tư lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương thời Johnson cũng đăng báo công kích cựu bộ trưởng quốc phòng McNamara không cho oanh tạc phá hủy tiềm lực kinh tế BV mà chỉ cho ngăn xâm nhập nên các cuộc oanh tạc hoá ra vô hiệu.
Ðiều sai lầm cơ bản của chính phủ Johnson là để một người dân sự hoạch định chiến lược quân sự mà đúng lý ra phải do các tướng lãnh đảm nhiệm, vì khoán trắng cho McNamara nên đã đưa tới hậu quả tai hại như trên. Ông Cao Văn Viên nói:
“Thật vậy, gần một phần tư thế kỷ, Cộng sản Việt Nam có được hai ưu điểm lớn hơn phía Tự do: Họ có được sự an toàn ở các căn cứ hậu cần – trong nội địa hay bên quốc gia lân cận – những căn cứ hậu cần đó là nơi họ dưỡng quân sau những cuộc đụng độ để chuẩn bị cho những trận đánh mới mà không sợ bị quấy phá.”
(Những Ngày Cuối VNCH, trang 282)
Và
“Về phía Hoa Kỳ, theo tướng Phillip Davidson (Viet Nam at War, Oxford University Press,1988), cả Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ cùng đô đốc Sharp và đại tướng Wesmoreland, đều có kế hoạch đánh ra vùng bắc khu phi quân sự, cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, đánh phá các căn cứ ở Lào, Cam Bốt, và oanh tạc các mục tiêu quan trọng chung quanh Hà Nội, Hải Phòng. Các kế hoạch trên đều không được tổng trưởng quốc phòng McNamara và tổng thống Johnson (1967) chấp thuận”.
(Những Ngày Cuối VNCH trang 292)
Ông Cao Văn Viên cũng cho rằng VNCH và Hoa Kỳ nằm trong trường hợp chiến thuật đúng nhưng chiến lược sai, trận chiến có thể thắng nhưng chiến tranh sẽ thua. Tướng Hoàng Lạc cho rằng mặc dù Mỹ tiêu diệt được nhiều cán binh BV, VC nhưng cũng giống như cắt cỏ, hết lớp này một thời gian sau lớp khác lại mọc lên mà thực ra phải nhổ tận gốc rễ.
Ðầu năm 1969, Nixon nhậm chức tổng thống thừa hưởng một gia tài chiến tranh đổ nát do McNamara để lại, ông là người mưu lược, bản lãnh cao nhưng cũng không cứu vãn nổi tình thế khi phong trào phản chiến lên quá cao y như nước vỡ bờ, cho dù Khổng Minh tái thế cũng đành phải bó tay.
Năm 1995 McNamara viết hồi ký In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam ( Hồi tưởng, Thảm kịch và những bài học VN)” trên đống tro tàn quá khứ McNamara nói ông và các cộng sự viên đã hoàn toàn sai lầm theo đuổi cuộc chiến tranh như thế (McNamara said he and his senior colleagues were “Wrong, terribly wrong” to pursue the war as they did”).
Sai lầm là do kế hoạch chiến tranh giới hạn của ông đã nuôi dưỡng phản chiến bỏ lỡ cơ hội chiến thắng, ông đã không được các tướng lãnh dưới quyền kính nể. Năm 1984 ông xác nhận.
“Khác với Wesmoreland và các viên chức cao cấp toà Bạch Ốc hồi ấy, ngay từ những năm 1965 và 1966 ông đã tin rằng “không thể chiến thắng bằng quân sự”. Nhưng ông cũng nói thêm “Tôi nói thế không có nghĩa là tôi đúng, họ sai”
(He testified that unlike Westmoreland and senior White House officals at that time, he began to believes as early as 1965 or 1966 that the war “could not be won militarily” But he added “I say this without saying that I was right and they were wrong”)
Hai mươi năm sau ông mới xác nhận là đã biết trước sẽ thua, nếu hồi ấy ông biết thế rồi xin từ chức thì cuộc chiến tranh chống CS sẽ có nhiều cơ hội hơn. Thất bại là do chính ông, do ở Johson sai lầm trầm trọng vì đã giao kế hoạch quân sự to tát vào tay một người dân sự để đưa tới thảm bại. Tháng 11-1969 Wesmoreland ở Mỹ nói tổng thống Johnson sai lầm cho ngưng oanh tạc BV năm 1968, nếu tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi. Năm 1970, 1971 Nixon giúp chính phủ VNCH đánh sang Miên, Lào để phá vỡ hậu cần CS nhưng đã quá trễ vì phong trào phản chiến đã lên tới chỗ quyết liệt. Tại đại học Kent, Ohio ngày 4-5-1970 trong một cuộc biểu tình phản chiến vệ binh quốc gia đã bắn chết bốn người và làm nhiều người khác bị thương, máu đã đổ, hành pháp không còn hy vọng gì cứu vãn tình thế .
Ông Nguyễn Cao Kỳ có nói đúng ra phải Việt Nam hoá chiến tranh từ 1965, thật vậy nếu người Mỹ thực hiện VN hoá chiến tranh sớm hơn thì sẽ không có phản chiến hoặc chỉ ở tầm mức nhẹ vì sẽ không có lính Mỷ không ủm củ tỷ hoặc chỉ có một số ít không đáng kể. Mãi đến 1969, 70 mới thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh nhưng đã quá trễ, như chúng ta đã thấy phong trào phản chiến lên cao, hành pháp bị trói tay không làm gì được.
Trên thực tế Việt Nam hoá chiến tranh đã không được thực hiện chu đáo, hoả lực VNCH không đủ mạnh tương đương với BV và vẫn phải nhờ vào sự yểm trợ của Mỹ như trong trận mùa hè đỏ lửa 1972 , nếu không có sự yểm trợ của 160 máy bay B-52, 20 chiến hạm Mỹ và các máy bay vận tải thì chưa chắc đã giữ được Quảng Trị, Kontum, An Lộc, ông Cao văn Viên đã xác nhận.
“Cuộc công kích của địch quân năm 1972 đã cho thấy nhược điểm của tiến trình Việt Nam hoá chiến tranh. Nếu không được yểm trợ của Mỹ về Không lực và di động tính, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khó có thể giữ được An Lộc, bảo vệ được Kontum và chiếm lại được Quảng Trị . Các phần đất này sẽ bị mất vĩnh viễn bởi vì chúng tôi không có đủ khả năng chiếm lại. Tuy nhiên, lúc nào còn Không lực Mỹ thì cán cân lực lượng vẫn có thể duy trì và Việt Nam Cộng Hoà vẫn còn một cơ hội tốt để sống còn”
Từ thời Ðệ nhất cộng hoà, chính phủ VN đã xin Mỹ cho thiết lập nhà máy chế tạo vũ khí đạn dược nhưng họ không chấp thuận, năm 1968, 1972 VNCH cũng đã hai lần đề nghị Mỹ cho thành lập thêm một sư đoàn tổng trừ bị nhưng họ cũng từ chối.
Năm 1974 về số lượng, không quân VNCH đứng thứ 4 trên thế giới có 2075 máy bay các loại kể cả máy bay cánh quạt, nhiều cái thiếu cơ phận thay thế phải nằm ụ, Thiết giáp có 2200 chiếc trong đó 60% là M-113, 40 % là M-41 và M-48 trong đó chỉ có M-48 là tương đương với T-54 của CS. Pháo binh có khoảng 1500 khẩu trong đó một nửa là súng 105 ly, 25% là 155 ly chỉ có 15% là 175 ly, nếu so với đại bác 130 ly của BV có tầm viễn xạ tối đa 28 cây số thì chỉ có súng 175 ly là tương đương, súng 105 ly viễn xạ tối đa chỉ có 12 cây số và 155 ly là 15 cây số .
McNamara nói thuyết Domino là lý do chính để Mỹ đổ quân vào VN ( Domino theory was the main reason for entering the Vietnam war). Nay nhiều người Mỹ nói chiến tranh VN là một sự sai lầm, nhưng không lẽ chính phủ Hoa Kỳ lại chịu ngồi dương mắt nhìn CS tiến chiếm miền nam. Họ đã phải mất công hất cẳng Pháp để vào Ðông Dương, đã chi cho Pháp hai tỷ bẩy trăm triệu (2 tỷ 7) Mỹ kim viện trợ kinh tế quân sự cho Pháp trong suốt cuộc chiến tranh Ðông Dương không lẽ chịu bỏ cuộc từ đầu. Nói như thế chẳng khác nào một người sau khi đánh ván bạc thua than thở “ Biết thế chẳng đánh cho xong”, nhưng nếu thắng thì sao? Chẳng qua họ đổ quân vào Ðông Dương là vì quyền lợi của họ để ngăn chận làn sóng đỏ tràn xuống Ðông Nam Á. Cuộc chiến đấu chống CS của miền Nam từ 1955-1975 đã khiến cho CS quốc tế chùn bước và người Mỹ đã được hưởng lợi trước mắt, nhờ xương máu của quân dân VNCH họ đã bắt tay được Trung Cộng nhưng nhiều người Mỹ không bao giờ chịu nhìn nhận cái sự thực phũ phàng ấy.
Chúng ta đặt câu hỏi tại sao họ không nói cuộc chiến tranh Iraq là sai lầm? Sao họ không biểu tình chống chiến tranh Iraq như đã chống chiến tranh VN? Vì họ cho rằng thuyết Domino không có giá trị và con ngáo ộp Al Qaeda đe dọa họ ngày đêm, nhất là “cú đấm thôi sơn” 9/11 vẫn là một cơn ác mộng .
Nhân tháng tư đen 2006, cựu bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin R. Laird dưới thời Nixon, đã lên tiếng về cuộc chiến tranh VN sau mấy chục năm im lặng. Khác với Mcnamara, ông nói rằng chiến tranh Việt Nam không thể kết luận là một sự sai lầm, Hoa Kỳ đã chuốc lấy thất bại và bỏ lỡ nhiều cơ hội chiến thắng. Mục tiêu cuộc chiến tranh Việt Nam hồi ấy là để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản tại Á Châu. Cựu bộ trưởng Laird chỉ trích Hoa Kỳ năm 1975 đã bỏ rơi đồng minh Việt Nam, ông nói rằng điều xấu hổ không phải là Hoa kỳ có mặt từ lúc đầu mà là sự phản bội vào giờ phút chót, Quốc hội Hoa kỳ đã ngoảnh mặt làm ngơ trước những lời cam kết với Việt Nam của chính phủ Nixon trước đó. Melvin R. Laird nói rằng Tổng thống Ford, Bộï trưởng ngoại giao Kissingger, Bộ trưởng quốc phòng Schlesinger phải chia xẻ nỗi nhục này, cũng theo ông Quốc Hội là nguyên nhân chính trong việc bỏ rơi Ðồng minh
Ít ra cũng có một người Mỹ còn chút lương tâm đã biết xấu hổ về sự sai lầm của đất nước mình đối với người bạn đồng minh.
Tài liệu tham khảo:
Nguyễn Ðức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Ðức Phương: Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Ðại Nam.
Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003.
Ðoàn Thêm: 1965 Việc Từng Ngày, Xuân Thu xuất bản.
Ðoàn Thêm: 1966 Việc Từng Ngày , Xuân Thu.
Ðoàn Thêm: 1969 Việc Từng Ngày, Xuân Thu.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990.
Ngô Quang Trưởng: Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh Năm 1972, Trung Tâm Quân Sử Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, bản dịch của Kiều Công Cự, 2007.
The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman - General Editor, A Bison-book 1958.
Stanley Karnow: Vietnam, A History, A Penguin Books 1991.
Marilyn B. Yuong, John J. Fitzgerald, A. Tom Grunfeld: The Vietnam War, A history in documents, Oxford University Press 2002.
Thomas W. Lippman: McNamara, Architect of Vietnam War, Dies at 93, Washington Post, July 6-2009.
Viện trợ quốc tế cho miền Bắc trong chiến tranh: BBCvietnamese.com, 10-5-2006.
Nguyễn Quốc Khải: Sau ba mươi năm giữ yên lặng, cựu Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Melvin R. Laird nói gì về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, báo điện tử Talawas, tháng 3-2006.
Ðinh Từ Thức: McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh, nhật báo Sài Gòn nhỏ số 231, thứ sáu, ngày 10-7-2009.
Vương Trùng Dương: McNamara & “Ðứa Con Nhầm Lẫn”, Tuần báo Sài Gòn Nhỏ Dallas số 450, ngày 17-7-2009.
Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam: Người Việt Dallas 21-6-2006 .
Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Ðỗ Cung dịch, Người Việt Dallas số 26-4-2006.
Trung Tướng Lữ Lan: Cuộc Chiến Ba Mươi Năm Nhìn Lại Từ Ðầu, Sài Gòn nhỏ Dallas 28-4-2006.