- Trang Chủ
- Điểm Nóng
- Chính trị Việt Nam
- Chiến tranh Việt Nam thời McNamara
Chiến tranh Việt Nam thời McNamara
- Tác Giả Trọng Đạt
- Đăng ngày 05.08.09
- Chính trị Việt Nam
Cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ McNamara qua đời ngày 6-7-2009, thọ 93 tuổi, ông là nhà chính khách mà người Việt trước 1975 tại Sài Gòn không ai là không nghe nói tới tên tuổi ông qua công trình “Hàng rào điện tử MacNamara”, ông cũng là người giữ chức vụ bộ trưởng quốc phòng lâu nhất, từ 1961 tới tháng 2-1968. Báo Washington Post ngay sau đó đăng bài McNamara, Architect of Vietnam War, Dies at 93 (MacNamara, Kiến Trúc Sư Chiến Tranh Việt Nam, mất thọ 93 tuổi) của Thomas W. Lippman tường thuật cuộc đời của ông bộ trưởng nổi tiếng này. Mỗi khi nói đến chiến tranh Việt Nam cũng như nhiều người Mỹ khác, Thomas W. Lippman trên đống tro tàn quá khứ cũng không quên khóc than cho số phận của 58 ngàn lính Mỹ chết thảm trong cuộc chiến (..When the war is over, 58,000 Americans were dead and the national social fabric had been torn asunder) và nhất là họ không quên nói xấu chê bai đồng minh thối nát (A failed effort by the world greatest superpower to prevent a communist takeover of a weak and corrupt ally).
Họ không nói đến lỗi lầm của họ vì không thắng được Cộng sản mà phải rút chạy khiến cho hằng trăm ngàn người bạn đồng minh phải lầm than khốn khổ trong các trại tù khổ sai Cộng Sản (CS), hằng mấy trăm ngàn người phải chết oan trên đường vượt biển… nhưng chỉ than khóc cho những người lính Mỹ ủm củ tỷ từ gần 40 năm qua. Theo tài liệu Liên Xô người Nga đã bị thiệt mạng 20 triệu người trong cuộc Thế chiến thứ hai (trong đó một nửa là dân và một nửa là lính) nhưng theo một cuốn phim tài liệu của Anh Mỹ chiếu trên đài PBS thì tổn thất của Nga là 27 triệu người. Mặc dù tổn thất nhân mạng khủng khiếp như thế nhưng người Nga cũng không khóc than não nùng như người Mỹ qua tổn thất tại chiến trường Việt Nam. Thật là mâu thuẫn và ngược đời, họ muốn làm anh hùng, muốn làm trùm thế giới nhưng lại sợ chết.
Sau Hiệp định Genève chia đôi đất nước, năm 1954 miền Bắc bị tàn phá vì chiến tranh Việt Pháp, nay không được tiếp tế lúa gạo từ trong Nam ra phải mua của Miến Ðiện do Nga viện trợ. Năm 1957 Thủ tướng Bắc Việt gửi thư cho ông Ngô đình Diệm xin hiệp thương hai miền Nam - Bắc , văn thư viết rất trịnh trọng: Kính thưa tổng thống… nhưng bị từ chối, sau đó họ biết không thể dùng mánh khoé chính trị được nên phải dùng bạo lực xâm lăng miền Nam, sống chết cũng phải chiếm cho được vựa lúa miền Nam.Trong hai năm 1955, 1956 Bắc Việt (BV) phát động phong trào cải cách ruộng đất, giết hại khoảng 50 ngàn người và cầm tù hằng trăm ngàn người khác. Năm 1956 VNCH khám phá được 274 hầm vũ khí của Cộng sản để lại, năm 1957 họ đã bắt đầu giết các trưởng ấp, xã trưởng bằng dao găm, mã tấu rất dã man, tổng cộng có gần 500 cán bộ quốc gia bị sát hại tại các tỉnh, năm 1959 khoảng 5,000 cán bộ tập kết được đưa vào Nam hoạt động. Từ 1959 đến 1961 số nạn nhân bị CS giết tăng từ 1,200 đến 4,000 người mỗi năm. Lê Duẫn vào Nam hai, ba lần từ 1958-59 để thẩm định tình hình, năm 1960 được Hồ Chí Minh cho làm bí thư thứ nhất đảng. Năm 1959 và 60 Việt Cộng (VC) có vào khoảng 10 ngàn địa phương quân và 3,000 chính qui, ngày 20-12-1960 Nguyễn Hữu Thọ thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một công cụ của Hà Nội. Năm 1961 VC có 27 tiểu đoàn và 43 đại đội địa phương quân.
Chiến tranh mở rộng hơn trước, Kiến Hoà bị tấn công đầu tiên, ngày 19-9-1961 500 VC tấn công Phước Thành, tỉnh trưởng bị giết, ngày 18-10-1961 Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) ban hành tình trạng tổ quốc lâm nguy khi VC đánh cấp trung đoàn. Lực lượng VC gia tăng nhanh từ 5,500 ngàn người đầu năm 1961 đến đến 25,000 cuối năm 1961, theo tiết lộ của Viện Lịch sử quân sự CSVN trong phiên họp ngày 15-4- 2006 tại Sài Gòn (BBC.com) : Giai đoạn 1955-60 CS quốc tế đã viện trợ cho BV 49,585 tấn hàng trong đó 4,105 tấn hàng hậu cần và 45,480 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật. Trước tình hình CS gia tăng áp lực, tổng thống Kennedy cho gia tăng quân số VNCH từ 170 ngàn người lên 200 ngàn người năm 1961, tăng cố vấn quân sự lên 3,200 người, viện trợ 2 chi đoàn thiết giáp M-113, ba đại đội trực thăng , 16 phi cơ vận tải C-123.. nhờ viện trợ quân sự của Hoa Kỳ chính phủ đã bình định được miền nam.
Tháng 5-1962 McNamara viếng thăm VN lần đầu tiên, ông tuyên bố lạc quan. Sang năm 1963 VNCH bị thất bại về quân sự, VC tấn công các trại lực lượng đặc biệt, trong sáu tháng đầu năm 1963 lực lượng đặc biệt chạm địch gần 400 lần, 94 lần VC pháo kích vào các trại. Ðầu thập niên 60 người Mỹ tỏ vẻ khinh địch cho rằng đây chỉ là một cuộc xâm lăng rẻ tiền, họ sẽ giúp miền Nam bình định sớm nhưng sự thực không đơn giản như thế, BV được Nga, Trung Cộng viện trợ tiếp tục chuyển vận người, vũ khí vào Nam đánh phá khắp nơi.
Bất đồng ý kiến giữa hai chính phủ Việt - Mỹ trước đây thân thiết đã đưa tới cuộc đảo chính ngày 1-11-1963, mùa hè năm 1964 lợi dụng tình hình chính trị miền Nam rối bời vì các tôn giáo tranh giành ảnh hưởng, tướng lảnh tranh quyền , Bắc Việt (BV) thừa cơ nước đục thả câu chuyển nhiều đơn vị chính qui vào Nam. Ngày 3-2-1964 VC tấn công các đơn vị VNCH tại Tây Ninh, căn cứ Mỹ tại Kontum, ngày 4-7 VC tràn ngập trại lực lượng đặc biệt Polei Krong, Bắc Kontum , ngày 2-8 tầu Maddox bị tấn công, hai ngày sau phi cơ hải quân trả đũa, quốc hội Mỹ chấp thuận nghị quyết Vịnh Bắc Việt trao toàn quyền hành động quân sự cho tổng thống Johnson.
Ngày 1-11-64 pháo kích và đột nhập phi trường Biên Hoà khiến 5 người Mỹ chết và 76 người khác bị thương, 5 oanh tạc cơ B-57 bị phá huỷ, 8 chiếc khác bị hư hại, ngày 7-12 -1964 VC mở mặt trận thung lũng Lào, gia tăng khủng bố đặt chất nổ tại Sài Gòn . Cuối năm 1964 VC tấn công chiếm làng Bình Giả, sư đoàn 9 VC (do 2 trung đoàn 271, 271 hợp thành) chận đánh quân tiếp viện . CS đã đánh lên cấp trung đoàn, thay thế chiến thuật đánh rồi rút bằng đánh chiếm giữ trong nhiều ngày, tháng 12-1964 một trung đoàn BV xâm nhập Pleiku. BV chỉ đạo , thay đổi chiến tranh đưa chủ lực quân vào miền Nam. Trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế đã viện trợ cho BV tổng cộng 70,295 tấn gồm:230 tấn hàng hậu cần và 70,065 tấn vũ khí và trang bị kỹ thuật (BBC.com).
Ngày 28-1-1965 thủ tướng Trần Văn Hương rút lui sau vài tháng cầm quyền, hai tuần sau bác sĩ Phan Huy Quát lên làm thủ tướng vào ngày 16-2-1965. Hội đồng an ninh quốc gia Hoa Kỳ đưa ra chính sách áp lực, đe dọa vừa phải để hy vọng BV sẽ phải lên bàn hội nghị thương thuyết thuận lợi cho Mỹ. Sau đó Tổng thống Johnson cho áp dụng chính sách, đánh cầm chừng, “đánh cho nó sơ.” để phải chịu tương thuyết trên bàn hội nghị. Ngày 3-2-1965 VC tấn công trại Holloway căn cứ tiểu đoàn Mỹ khiến 7 người chết, hằng trăm người bị thương, ngày 7-2 phi cơ từ hạm đội vào oanh tạc trả đũa BV , mấy ngày sau VC đặt bom chung cư Mỹ tại Qui Nhơn. Ngày 13-2-1965 Tổng thống Johnson chấp nhận kế hoạch oanh tạc BV dài hạn lấy tên Rolling Thunder kéo dài từ tháng 3-1965 cho tới tháng 11-1968, đã thực hiện được 304 ngàn phi vụ chiến thuật và 2,380 phi vụ B-52 thả 643 ngàn tấn bom lên BV. Tính đến ngày 22-10-1968 đã phá hủy được khoảng 77% các kho đạn, 65% căn cứ kho nhiên liệu, 60% các nhà máy phát điện, 55% cầu cống , 39% các cơ sở bảo trì xe hoả…BV đã phải huy động hơn 600 ngàn dân quân vào công tác sửa chữa, phòng không .
Mặc dù có một số thắng lợi quân sự nhưng Mỹ mất chính nghĩa đã bị các nước nhất là Âu châu biểu tình chống đối cùng với phong trào phản chiến trong nước lên cao. Mục đích của kế hoạch oanh tạc BV để nâng cao tinh thần quân dân miền nam VN, trừng phạt hành động xâm lược cũng như làm suy giảm cường độ xâm nhập người và vũ khí vào Nam đồng thời cho BV thấy cái giá họ phải trả để buộc họ phải vào bàn hội nghị nhưng trên thực tế không đạt được kết quả mong muốn. Ngày 16-2-1965 trực thăng phát hiện tầu lạ tại Vũng Rô, hải lục không quân VNCH phối hợp tiêu diệt địch.
Ngày 9-6-1965 thủ tướng Phan Huy Quát bị tôn giáo chống đối giao chính quyền lại cho quân đội, ngày 19-6-1965 thành lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch và Ủy ban hành pháp trung ương do thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch. Một sự trái ngược nhau giữa hai nước đồng minh hồi ấy là tại VNCH các ông tướng ra làm chính trị trong khi tại Hoa Kỳ những nhà chính trị gia như Johnson, McNamara lại ban kế hoạch chiến lược quân sự tại chiến trường miền nam VN .
Giữa năm 1964 quân số Mỹ tại VN là 23,000, cuối năm 1965 tăng lên thành 184,000 người, giữa năm 1965 trung bình một tuần VNCH mất một quận, nếu Mỹ không đổ quân vào miền Nam sẽ mất trong vòng 6 tháng (Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Trận Chiến Trong Mùa Lễ Phục Sinh). Theo tài liệu do Trung Cộng công bố sau này, tại miền Bắc từ tháng 6-1965 đến tháng 12-1968 Trung Cộng đã đưa 7 sư đoàn công binh vào miền Bắc để xây dựng công sự, đường giao thông, họ cũng đưa 16 sư đoàn phòng không để bảo vệ, đến cuối tháng 3-1969 họ rời VN, các đơn vị này đã bắn rơi 1,707 phi cơ Mỹ, làm hư hại 1,608 chiếc khác.
Cuộc chiến ngày càng mở rộng hơn, Mỹ đổ thêm quân vào thì BV cũng gia tăng xâm nhập y như trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, nước dâng lên bao nhiêu thì núi cũng lên cao bấy nhiêu. Các trận Phụng Dư , Ðồng Xoài, Ðức Cơ, Bố Ðức…khiến VNCH bị thiệt hại. Cuối tháng 6-1965 chiến dịch lùng và diệt địch (Search and Destroy) ra đời. Hai tháng sau, trận Vạn Tường (hành quân Starlite) với sự tham dự nhiều tiểu đoàn Thủy quân lục chiến (TQLC) Mỹ đã tiệu diệt 700 VC tại bán đảo Batangan . BV xử dụng những đơn vị chính qui mới xâm nhập tấn công các trại lực lượng đặc biệt quanh Pleiku, họ dự định chiếm thị xã, kiểm soát cao nguyên và cắt đôi VNCH theo trục Pleiku, An Khê, Qui Nhơn nhưng thất bại. Tháng 11-1965 Mỹ và VC đụng độ hai trận lớn tại Ðất Cuốc (cách Biên Hoà 30 cây số) và Bầu Bàng Thủ Ðầu Một. Trong khi Mỹ gia tăng đưa quân sang VN những cuộc biểu tình phản chiến tại Mỹ đã bắt đầu.
Ðầu năm 1966 BV gửi thêm quân xâm nhập, Mỹ và các nước đồng minh Ðại Hàn, Úc , Tân Tây Lan, Thái Lan… cũng tăng thêm quân nhưng Mỹ là chủ lực , các nước khác chỉ có tính cách tượng trưng để hỗ trợ cho chính nghĩa bảo vệ đồng minh của Mỹ. Tháng 3 1966 tại Huế, Ðà Nẵng và một số tỉnh miền Trung xẩy ra liên tiếp những cuộc biểu tình, đình công, bãi thị… chống chính phủ Nguyễn Cao Kỳ và bài Mỹ. Phong trào ngày càng lên cao gây nhiều khó khăn cho tình hình khiến cho người Mỹ bắt đầu chán nản. Ngày 28-3-1966 Phó tổng thống Hoa Kỳ Humphreys tuyên bố với báo Newsweek: chỉ có ông Trời mới lật được thế cờ ở Việt Nam, một xứ có quá nhiều chuyện rắc rối phức tạp, Hoa Kỳ sẵn sàng xét lại đường lối, thừa nhận VN không liên kết và có thể chấp nhận cuộc tổng tuyển cử tự do cho dù Cộng sản thắng trong cuộc tuyển cử này… Mỹ gia tăng quân số tại VN năm 1966 tổng cộng có 385 ngàn người nhưng trên thực tế chỉ có khoảng 5 hay 10 phần trăm là thành phần tác chiến thuộc 59 tiểu đoàn bộ binh và 24 tiểu đoàn TQLC còn lại là những đơn vị yểm trợ, tiếp liệu, quân y, binh lương, hành chánh.. . Họ theo nguyên tắc một người tác chiến có năm người yểm trợ, bộ máy quân sự của Mỹ nói chung cồng kềnh không thích hợp với chiến trường hồi ấy. Toàn bộ lực lượng BV tại miền Nam được ước lượng khoảng 280 ngàn người.
Qua năm 1966 người Mỹ nhận thấy các cuộc oanh tạc BV không có kết quả vì Cộng quân vẫn tiếp tục xâm nhập, yểm trợ cho miền Nam với mức độ không thay đổi. Trong báo cáo ngày 14-10-1966, McNamara nói các phúc trình về tổn thất của CS cho biết một năm Cộng quân tử thương khoảng 60 ngàn người nhưng người ta không thấy có dấu hiệu gì họ suy sụp tinh thần vì vẫn tiếp tục gửi quân xâm nhập. Như thế kế hoạch “đánh cầm chừng” hay “đánh cho nó sợ” của McNamara và Johnson không có hiệu quả. Quân Mỹ vẫn tiếp tục lùng và diệt địch trong khi chính phủ Johnson gia tăng ngoại giao thương thuyết với BV. Các cuộc đụng độ lớn giữa Mỹ và BV diễn ra tại các vùng duyên hải, cao nguyên, giới tuyến, biên giới Việt Miên…
Người Mỹ mở những cuộc hành quân phía Bắc Quảng Trị, biên giới Việt Miên, rừng Bời lời, Hố Bò cùng các chiến khu C, D vùng Tam giác sắt, các cuộc hành quân càn quét các mật khu nổi tiếng của VC. Cuối tháng 10-1966 Tổng thống Johnson triệu tập Hội nghị Malina với chính phủ VNCH để tìm một giải pháp khác, Johnson đề nghị Mỹ và Bắc Việt cùng rút quân ra khỏi VN nhưng không được CS đáp ứng và hai bên vẫn tiếp tục tăng cường lực lượng. Mỹ áp dụng chiến lược đánh hao mòn địch như họ đã làm trong thế chiến thứ hai với quân Ðức và quân Nhật dựa trên ưu thế về hoả lực và sức mạnh kỹ thuật nhưng tại VN ï không đạt được kết quả mong muốn.
Tháng 2-1967 Tổng thống Johnson cho phép đánh phá 16 mục tiêu xung quanh Hà Nội, cuối tháng 2 -1967 hải quân Mỹ được lệnh dùng thủy lôi phong toả các đường biển dưới vĩ tuyến 17. Ngày 18-3-1967 Tướng Wesmoreland đề nghị gia tăng thêm 200 ngàn quân nâng tổng số quân Mỹ tại VN từ 470 lên 670 ngàn và mở những cuộc hành quân đánh vào hậu cần địch tại Miên, Lào, gia tăng oanh tạc BV và đổ bộ lên phía bắc khu phi quân sự (bên trên sông Bến Hải). Hai phe dân sự và quân đội tranh chấp, các sĩ quan cao cấp trong bộ Tham mưu Liên quân Mỹ doạ từ chức hàng loạt nếu yêu cầu của quân đội không được chấp thuận. Tổng thống Johnson đồng ý cho tăng quân nhưng chỉ cho tăng thêm 45 ngàn và cho oanh tạc 52 mục tiêu , ngày 28-3-1967 phi cơ Mỹ được lệnh oanh tạc ngay Hà Nội. Tháng 10 năm 1967 liên danh Thiệu Kỳ đắc cử tổng thống VNCH, chấm dứt nạn biểu tình tuyệt thực kéo dài mấy năm qua. Khoảng gần cuối 1967 McNamara thực hiện kế hoạch lập hàng rào điện tử phía dưới khu phi quân sự để ngăn chận sự xâm nhập của CSBV, đây là một Vạn Lý Trường Thành thời nay, kế hoạch tốn kém gần 2 tỷ Mỹ kim nhưng không đạt hiệu quả vì BV chuyển xâm nhập qua ngả Ai Lao và Cam Bốt.
Trong ba năm 1965, 66, 67 BV đã bị thiệt hại khoảng gần 350 ngàn người nhưng họ vẫn tiếp tục gia tăng nhân lực từ 180 ngàn năm 1964 lên tới 261 ngàn trong năm 1967, họ thay thế được số thiệt hại mà còn gia tăng thêm quân số. Mặc dù bị oanh tạc dữ dội ngoài Bắc cũng như trên các tuyến đường xâm nhập, bị thiệt hại nặng trong các cuộc giao tranh nhưng BV vẫn lì lợm cố đấm ăn xôi đẩy thanh niên vào chỗ chết. Người Mỹ bắt đầu lo âu trước tinh thần lì lợm của BV, họ ước lượng nếu BV mất từ 600 ngàn cho tới một triệu cán binh thì Mỹ sẽ phải mất khoảng 50 ngàn quân hoặc hơn thế, thực tế cho thấy BV sẵn sàng đánh tới bao giờ cũng được bất kể tổn thất là bao nhiêu. Sau này có nguồn tin cho biết Lê Duẫn đã từng nói sẵn sàng “nướng” thêm một, hai triệu thanh niên để đạt chiến thắng cuối cùng và như vậy người Mỹ sẽ phải mất 100 ngàn quân hay hơn thế nữa. Theo cựu đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng VNCH giai đoạn này hai bên bất phân thắng bại, theo cựu thiếu tướng Hoàng Lạc BV bị thiệt hại nhiều vì hoả lực Mỹ ồ ạt, chính xác khiến họ không dám đánh trực diện với đồng minh. Tuy nhiên điều không thể phủ nhận được là tổn thất của BV lên rất cao thường là gấp 10 hoặc 16 lần so với Mỹ và gấp 5 hoặc 6 lần VNCH. Nhân kỷ niệm hai mươi năm ngày chiến thắng 30-4-1975, CSVN đã phải nhìn nhận có một triệu 100 ngàn cán binh tử trận như vậy so với 58 ngàn người Mỹ thì tỷ lệ là 16 đổi một. BV lệnh cho cán binh CS giết cho nhiều người Mỹ để thúc đẩy phong trào phản chiến.
Chiến tranh hạn chế của McNamara và Johnson coi như thất bại, đó chỉ là sự đánh hù dọa, răn đe khiến cho cuộc chiến tranh kéo dài thêm, vô tình nuôi dưỡng phong trào phản chiến lên cao làm tiêu tan mọi nỗ lực đưa tới sụp đổ dần dần . Theo tin báo Times tháng 6-2009: năm 1965 có 1,300 lính Mỹ tử trận tại VN , năm sau 1966 tăng lên 5,000, năm 67 lên 9,300, năm 68 lên 14,000, số lính Mỹ “ủm củ tỉ” lên cao được truyền hình và báo chí Mỹ thổi phồng đổ dầu vào lửa khiến phong trào phản chiến ngày càng quyết liệt hơn. Kế hoạch đánh vào hậu cần địch, mở rộng oanh tạc BV của Westmoreland và các nhà quân sự không được thi hành mặc dù đúng chiến thuật chiến lược có thể sớm chấm dứt chiến tranh, Johnson đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng. Trong giai đoạn 1965-1968 CS quốc tế đã viện trợ cho Hà Nội 517,393 tấn hàng gồm: 105,614 tấn hàng hậu cần và 411,779 tấn hàng vũ khí trang bị kỹ thuật (BBC.com), như thế viện trợ giai đoạn này gấp bẩy lần giai đoạn trước (1961-1965).
Cuối năm 1967 Wesmoreland cho biết tình hình VN lắng dịu , Mỹ có thể rút quân trong năm tới nhưng ngày 21-1-1967 BV vờ pháo kích Khe Sanh dữ dội, một tuần sau đưa 100 tiểu đoàn (84 ngàn người) vào trận tổng công kích Tết Mậu Thân. Mặc dù bị thiệt hại nặng, 70% bị giết, 11% bị bắt làm tù binh so với VNCH tỉ lệ 10 đổi một nhưng họ đã đạt thắng lợi lớn về chính trị, phản chiến tại Mỹ lên cao hơn bao giờ hết, nước Mỹ tan nát vì biến động bên trong nội bộ. Nghe lời khuyên của các nhà thông thái, cuối tháng 3-1968 Johonson tuyên bố không ra tái tranh cử, ông đã viết trong hồi ký như sau.
“Lo ngại lớn nhất của tôi không phải là vấn đề Việt Nam … mà chính là sự chia rẽ bi quan tại Mỹ.. Tôi dùng bài diễn văn sắp đến như một cơ hội để lấy lại sự cân bằng cũng như mở rộng một sự hiểu biết tốt đẹp hơn. Tôi biết rõ ràng rằng sự sụp đổ của mặt trận tại đất nhà là những gì Hà Nội mong chờ”
Họ không nói đến lỗi lầm của họ vì không thắng được Cộng sản mà phải rút chạy khiến cho hằng trăm ngàn người bạn đồng minh phải lầm than khốn khổ trong các trại tù khổ sai Cộng Sản (CS), hằng mấy trăm ngàn người phải chết oan trên đường vượt biển… nhưng chỉ than khóc cho những người lính Mỹ ủm củ tỷ từ gần 40 năm qua. Theo tài liệu Liên Xô người Nga đã bị thiệt mạng 20 triệu người trong cuộc Thế chiến thứ hai (trong đó một nửa là dân và một nửa là lính) nhưng theo một cuốn phim tài liệu của Anh Mỹ chiếu trên đài PBS thì tổn thất của Nga là 27 triệu người. Mặc dù tổn thất nhân mạng khủng khiếp như thế nhưng người Nga cũng không khóc than não nùng như người Mỹ qua tổn thất tại chiến trường Việt Nam. Thật là mâu thuẫn và ngược đời, họ muốn làm anh hùng, muốn làm trùm thế giới nhưng lại sợ chết.
Sau Hiệp định Genève chia đôi đất nước, năm 1954 miền Bắc bị tàn phá vì chiến tranh Việt Pháp, nay không được tiếp tế lúa gạo từ trong Nam ra phải mua của Miến Ðiện do Nga viện trợ. Năm 1957 Thủ tướng Bắc Việt gửi thư cho ông Ngô đình Diệm xin hiệp thương hai miền Nam - Bắc , văn thư viết rất trịnh trọng: Kính thưa tổng thống… nhưng bị từ chối, sau đó họ biết không thể dùng mánh khoé chính trị được nên phải dùng bạo lực xâm lăng miền Nam, sống chết cũng phải chiếm cho được vựa lúa miền Nam.Trong hai năm 1955, 1956 Bắc Việt (BV) phát động phong trào cải cách ruộng đất, giết hại khoảng 50 ngàn người và cầm tù hằng trăm ngàn người khác. Năm 1956 VNCH khám phá được 274 hầm vũ khí của Cộng sản để lại, năm 1957 họ đã bắt đầu giết các trưởng ấp, xã trưởng bằng dao găm, mã tấu rất dã man, tổng cộng có gần 500 cán bộ quốc gia bị sát hại tại các tỉnh, năm 1959 khoảng 5,000 cán bộ tập kết được đưa vào Nam hoạt động. Từ 1959 đến 1961 số nạn nhân bị CS giết tăng từ 1,200 đến 4,000 người mỗi năm. Lê Duẫn vào Nam hai, ba lần từ 1958-59 để thẩm định tình hình, năm 1960 được Hồ Chí Minh cho làm bí thư thứ nhất đảng. Năm 1959 và 60 Việt Cộng (VC) có vào khoảng 10 ngàn địa phương quân và 3,000 chính qui, ngày 20-12-1960 Nguyễn Hữu Thọ thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một công cụ của Hà Nội. Năm 1961 VC có 27 tiểu đoàn và 43 đại đội địa phương quân.
Chiến tranh mở rộng hơn trước, Kiến Hoà bị tấn công đầu tiên, ngày 19-9-1961 500 VC tấn công Phước Thành, tỉnh trưởng bị giết, ngày 18-10-1961 Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) ban hành tình trạng tổ quốc lâm nguy khi VC đánh cấp trung đoàn. Lực lượng VC gia tăng nhanh từ 5,500 ngàn người đầu năm 1961 đến đến 25,000 cuối năm 1961, theo tiết lộ của Viện Lịch sử quân sự CSVN trong phiên họp ngày 15-4- 2006 tại Sài Gòn (BBC.com) : Giai đoạn 1955-60 CS quốc tế đã viện trợ cho BV 49,585 tấn hàng trong đó 4,105 tấn hàng hậu cần và 45,480 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật. Trước tình hình CS gia tăng áp lực, tổng thống Kennedy cho gia tăng quân số VNCH từ 170 ngàn người lên 200 ngàn người năm 1961, tăng cố vấn quân sự lên 3,200 người, viện trợ 2 chi đoàn thiết giáp M-113, ba đại đội trực thăng , 16 phi cơ vận tải C-123.. nhờ viện trợ quân sự của Hoa Kỳ chính phủ đã bình định được miền nam.
Tháng 5-1962 McNamara viếng thăm VN lần đầu tiên, ông tuyên bố lạc quan. Sang năm 1963 VNCH bị thất bại về quân sự, VC tấn công các trại lực lượng đặc biệt, trong sáu tháng đầu năm 1963 lực lượng đặc biệt chạm địch gần 400 lần, 94 lần VC pháo kích vào các trại. Ðầu thập niên 60 người Mỹ tỏ vẻ khinh địch cho rằng đây chỉ là một cuộc xâm lăng rẻ tiền, họ sẽ giúp miền Nam bình định sớm nhưng sự thực không đơn giản như thế, BV được Nga, Trung Cộng viện trợ tiếp tục chuyển vận người, vũ khí vào Nam đánh phá khắp nơi.
Bất đồng ý kiến giữa hai chính phủ Việt - Mỹ trước đây thân thiết đã đưa tới cuộc đảo chính ngày 1-11-1963, mùa hè năm 1964 lợi dụng tình hình chính trị miền Nam rối bời vì các tôn giáo tranh giành ảnh hưởng, tướng lảnh tranh quyền , Bắc Việt (BV) thừa cơ nước đục thả câu chuyển nhiều đơn vị chính qui vào Nam. Ngày 3-2-1964 VC tấn công các đơn vị VNCH tại Tây Ninh, căn cứ Mỹ tại Kontum, ngày 4-7 VC tràn ngập trại lực lượng đặc biệt Polei Krong, Bắc Kontum , ngày 2-8 tầu Maddox bị tấn công, hai ngày sau phi cơ hải quân trả đũa, quốc hội Mỹ chấp thuận nghị quyết Vịnh Bắc Việt trao toàn quyền hành động quân sự cho tổng thống Johnson.
Ngày 1-11-64 pháo kích và đột nhập phi trường Biên Hoà khiến 5 người Mỹ chết và 76 người khác bị thương, 5 oanh tạc cơ B-57 bị phá huỷ, 8 chiếc khác bị hư hại, ngày 7-12 -1964 VC mở mặt trận thung lũng Lào, gia tăng khủng bố đặt chất nổ tại Sài Gòn . Cuối năm 1964 VC tấn công chiếm làng Bình Giả, sư đoàn 9 VC (do 2 trung đoàn 271, 271 hợp thành) chận đánh quân tiếp viện . CS đã đánh lên cấp trung đoàn, thay thế chiến thuật đánh rồi rút bằng đánh chiếm giữ trong nhiều ngày, tháng 12-1964 một trung đoàn BV xâm nhập Pleiku. BV chỉ đạo , thay đổi chiến tranh đưa chủ lực quân vào miền Nam. Trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế đã viện trợ cho BV tổng cộng 70,295 tấn gồm:230 tấn hàng hậu cần và 70,065 tấn vũ khí và trang bị kỹ thuật (BBC.com).
Ngày 28-1-1965 thủ tướng Trần Văn Hương rút lui sau vài tháng cầm quyền, hai tuần sau bác sĩ Phan Huy Quát lên làm thủ tướng vào ngày 16-2-1965. Hội đồng an ninh quốc gia Hoa Kỳ đưa ra chính sách áp lực, đe dọa vừa phải để hy vọng BV sẽ phải lên bàn hội nghị thương thuyết thuận lợi cho Mỹ. Sau đó Tổng thống Johnson cho áp dụng chính sách, đánh cầm chừng, “đánh cho nó sơ.” để phải chịu tương thuyết trên bàn hội nghị. Ngày 3-2-1965 VC tấn công trại Holloway căn cứ tiểu đoàn Mỹ khiến 7 người chết, hằng trăm người bị thương, ngày 7-2 phi cơ từ hạm đội vào oanh tạc trả đũa BV , mấy ngày sau VC đặt bom chung cư Mỹ tại Qui Nhơn. Ngày 13-2-1965 Tổng thống Johnson chấp nhận kế hoạch oanh tạc BV dài hạn lấy tên Rolling Thunder kéo dài từ tháng 3-1965 cho tới tháng 11-1968, đã thực hiện được 304 ngàn phi vụ chiến thuật và 2,380 phi vụ B-52 thả 643 ngàn tấn bom lên BV. Tính đến ngày 22-10-1968 đã phá hủy được khoảng 77% các kho đạn, 65% căn cứ kho nhiên liệu, 60% các nhà máy phát điện, 55% cầu cống , 39% các cơ sở bảo trì xe hoả…BV đã phải huy động hơn 600 ngàn dân quân vào công tác sửa chữa, phòng không .
Mặc dù có một số thắng lợi quân sự nhưng Mỹ mất chính nghĩa đã bị các nước nhất là Âu châu biểu tình chống đối cùng với phong trào phản chiến trong nước lên cao. Mục đích của kế hoạch oanh tạc BV để nâng cao tinh thần quân dân miền nam VN, trừng phạt hành động xâm lược cũng như làm suy giảm cường độ xâm nhập người và vũ khí vào Nam đồng thời cho BV thấy cái giá họ phải trả để buộc họ phải vào bàn hội nghị nhưng trên thực tế không đạt được kết quả mong muốn. Ngày 16-2-1965 trực thăng phát hiện tầu lạ tại Vũng Rô, hải lục không quân VNCH phối hợp tiêu diệt địch.
Ngày 9-6-1965 thủ tướng Phan Huy Quát bị tôn giáo chống đối giao chính quyền lại cho quân đội, ngày 19-6-1965 thành lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch và Ủy ban hành pháp trung ương do thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch. Một sự trái ngược nhau giữa hai nước đồng minh hồi ấy là tại VNCH các ông tướng ra làm chính trị trong khi tại Hoa Kỳ những nhà chính trị gia như Johnson, McNamara lại ban kế hoạch chiến lược quân sự tại chiến trường miền nam VN .
Giữa năm 1964 quân số Mỹ tại VN là 23,000, cuối năm 1965 tăng lên thành 184,000 người, giữa năm 1965 trung bình một tuần VNCH mất một quận, nếu Mỹ không đổ quân vào miền Nam sẽ mất trong vòng 6 tháng (Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Trận Chiến Trong Mùa Lễ Phục Sinh). Theo tài liệu do Trung Cộng công bố sau này, tại miền Bắc từ tháng 6-1965 đến tháng 12-1968 Trung Cộng đã đưa 7 sư đoàn công binh vào miền Bắc để xây dựng công sự, đường giao thông, họ cũng đưa 16 sư đoàn phòng không để bảo vệ, đến cuối tháng 3-1969 họ rời VN, các đơn vị này đã bắn rơi 1,707 phi cơ Mỹ, làm hư hại 1,608 chiếc khác.
Cuộc chiến ngày càng mở rộng hơn, Mỹ đổ thêm quân vào thì BV cũng gia tăng xâm nhập y như trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, nước dâng lên bao nhiêu thì núi cũng lên cao bấy nhiêu. Các trận Phụng Dư , Ðồng Xoài, Ðức Cơ, Bố Ðức…khiến VNCH bị thiệt hại. Cuối tháng 6-1965 chiến dịch lùng và diệt địch (Search and Destroy) ra đời. Hai tháng sau, trận Vạn Tường (hành quân Starlite) với sự tham dự nhiều tiểu đoàn Thủy quân lục chiến (TQLC) Mỹ đã tiệu diệt 700 VC tại bán đảo Batangan . BV xử dụng những đơn vị chính qui mới xâm nhập tấn công các trại lực lượng đặc biệt quanh Pleiku, họ dự định chiếm thị xã, kiểm soát cao nguyên và cắt đôi VNCH theo trục Pleiku, An Khê, Qui Nhơn nhưng thất bại. Tháng 11-1965 Mỹ và VC đụng độ hai trận lớn tại Ðất Cuốc (cách Biên Hoà 30 cây số) và Bầu Bàng Thủ Ðầu Một. Trong khi Mỹ gia tăng đưa quân sang VN những cuộc biểu tình phản chiến tại Mỹ đã bắt đầu.
Ðầu năm 1966 BV gửi thêm quân xâm nhập, Mỹ và các nước đồng minh Ðại Hàn, Úc , Tân Tây Lan, Thái Lan… cũng tăng thêm quân nhưng Mỹ là chủ lực , các nước khác chỉ có tính cách tượng trưng để hỗ trợ cho chính nghĩa bảo vệ đồng minh của Mỹ. Tháng 3 1966 tại Huế, Ðà Nẵng và một số tỉnh miền Trung xẩy ra liên tiếp những cuộc biểu tình, đình công, bãi thị… chống chính phủ Nguyễn Cao Kỳ và bài Mỹ. Phong trào ngày càng lên cao gây nhiều khó khăn cho tình hình khiến cho người Mỹ bắt đầu chán nản. Ngày 28-3-1966 Phó tổng thống Hoa Kỳ Humphreys tuyên bố với báo Newsweek: chỉ có ông Trời mới lật được thế cờ ở Việt Nam, một xứ có quá nhiều chuyện rắc rối phức tạp, Hoa Kỳ sẵn sàng xét lại đường lối, thừa nhận VN không liên kết và có thể chấp nhận cuộc tổng tuyển cử tự do cho dù Cộng sản thắng trong cuộc tuyển cử này… Mỹ gia tăng quân số tại VN năm 1966 tổng cộng có 385 ngàn người nhưng trên thực tế chỉ có khoảng 5 hay 10 phần trăm là thành phần tác chiến thuộc 59 tiểu đoàn bộ binh và 24 tiểu đoàn TQLC còn lại là những đơn vị yểm trợ, tiếp liệu, quân y, binh lương, hành chánh.. . Họ theo nguyên tắc một người tác chiến có năm người yểm trợ, bộ máy quân sự của Mỹ nói chung cồng kềnh không thích hợp với chiến trường hồi ấy. Toàn bộ lực lượng BV tại miền Nam được ước lượng khoảng 280 ngàn người.
Qua năm 1966 người Mỹ nhận thấy các cuộc oanh tạc BV không có kết quả vì Cộng quân vẫn tiếp tục xâm nhập, yểm trợ cho miền Nam với mức độ không thay đổi. Trong báo cáo ngày 14-10-1966, McNamara nói các phúc trình về tổn thất của CS cho biết một năm Cộng quân tử thương khoảng 60 ngàn người nhưng người ta không thấy có dấu hiệu gì họ suy sụp tinh thần vì vẫn tiếp tục gửi quân xâm nhập. Như thế kế hoạch “đánh cầm chừng” hay “đánh cho nó sợ” của McNamara và Johnson không có hiệu quả. Quân Mỹ vẫn tiếp tục lùng và diệt địch trong khi chính phủ Johnson gia tăng ngoại giao thương thuyết với BV. Các cuộc đụng độ lớn giữa Mỹ và BV diễn ra tại các vùng duyên hải, cao nguyên, giới tuyến, biên giới Việt Miên…
Người Mỹ mở những cuộc hành quân phía Bắc Quảng Trị, biên giới Việt Miên, rừng Bời lời, Hố Bò cùng các chiến khu C, D vùng Tam giác sắt, các cuộc hành quân càn quét các mật khu nổi tiếng của VC. Cuối tháng 10-1966 Tổng thống Johnson triệu tập Hội nghị Malina với chính phủ VNCH để tìm một giải pháp khác, Johnson đề nghị Mỹ và Bắc Việt cùng rút quân ra khỏi VN nhưng không được CS đáp ứng và hai bên vẫn tiếp tục tăng cường lực lượng. Mỹ áp dụng chiến lược đánh hao mòn địch như họ đã làm trong thế chiến thứ hai với quân Ðức và quân Nhật dựa trên ưu thế về hoả lực và sức mạnh kỹ thuật nhưng tại VN ï không đạt được kết quả mong muốn.
Tháng 2-1967 Tổng thống Johnson cho phép đánh phá 16 mục tiêu xung quanh Hà Nội, cuối tháng 2 -1967 hải quân Mỹ được lệnh dùng thủy lôi phong toả các đường biển dưới vĩ tuyến 17. Ngày 18-3-1967 Tướng Wesmoreland đề nghị gia tăng thêm 200 ngàn quân nâng tổng số quân Mỹ tại VN từ 470 lên 670 ngàn và mở những cuộc hành quân đánh vào hậu cần địch tại Miên, Lào, gia tăng oanh tạc BV và đổ bộ lên phía bắc khu phi quân sự (bên trên sông Bến Hải). Hai phe dân sự và quân đội tranh chấp, các sĩ quan cao cấp trong bộ Tham mưu Liên quân Mỹ doạ từ chức hàng loạt nếu yêu cầu của quân đội không được chấp thuận. Tổng thống Johnson đồng ý cho tăng quân nhưng chỉ cho tăng thêm 45 ngàn và cho oanh tạc 52 mục tiêu , ngày 28-3-1967 phi cơ Mỹ được lệnh oanh tạc ngay Hà Nội. Tháng 10 năm 1967 liên danh Thiệu Kỳ đắc cử tổng thống VNCH, chấm dứt nạn biểu tình tuyệt thực kéo dài mấy năm qua. Khoảng gần cuối 1967 McNamara thực hiện kế hoạch lập hàng rào điện tử phía dưới khu phi quân sự để ngăn chận sự xâm nhập của CSBV, đây là một Vạn Lý Trường Thành thời nay, kế hoạch tốn kém gần 2 tỷ Mỹ kim nhưng không đạt hiệu quả vì BV chuyển xâm nhập qua ngả Ai Lao và Cam Bốt.
Trong ba năm 1965, 66, 67 BV đã bị thiệt hại khoảng gần 350 ngàn người nhưng họ vẫn tiếp tục gia tăng nhân lực từ 180 ngàn năm 1964 lên tới 261 ngàn trong năm 1967, họ thay thế được số thiệt hại mà còn gia tăng thêm quân số. Mặc dù bị oanh tạc dữ dội ngoài Bắc cũng như trên các tuyến đường xâm nhập, bị thiệt hại nặng trong các cuộc giao tranh nhưng BV vẫn lì lợm cố đấm ăn xôi đẩy thanh niên vào chỗ chết. Người Mỹ bắt đầu lo âu trước tinh thần lì lợm của BV, họ ước lượng nếu BV mất từ 600 ngàn cho tới một triệu cán binh thì Mỹ sẽ phải mất khoảng 50 ngàn quân hoặc hơn thế, thực tế cho thấy BV sẵn sàng đánh tới bao giờ cũng được bất kể tổn thất là bao nhiêu. Sau này có nguồn tin cho biết Lê Duẫn đã từng nói sẵn sàng “nướng” thêm một, hai triệu thanh niên để đạt chiến thắng cuối cùng và như vậy người Mỹ sẽ phải mất 100 ngàn quân hay hơn thế nữa. Theo cựu đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng VNCH giai đoạn này hai bên bất phân thắng bại, theo cựu thiếu tướng Hoàng Lạc BV bị thiệt hại nhiều vì hoả lực Mỹ ồ ạt, chính xác khiến họ không dám đánh trực diện với đồng minh. Tuy nhiên điều không thể phủ nhận được là tổn thất của BV lên rất cao thường là gấp 10 hoặc 16 lần so với Mỹ và gấp 5 hoặc 6 lần VNCH. Nhân kỷ niệm hai mươi năm ngày chiến thắng 30-4-1975, CSVN đã phải nhìn nhận có một triệu 100 ngàn cán binh tử trận như vậy so với 58 ngàn người Mỹ thì tỷ lệ là 16 đổi một. BV lệnh cho cán binh CS giết cho nhiều người Mỹ để thúc đẩy phong trào phản chiến.
Chiến tranh hạn chế của McNamara và Johnson coi như thất bại, đó chỉ là sự đánh hù dọa, răn đe khiến cho cuộc chiến tranh kéo dài thêm, vô tình nuôi dưỡng phong trào phản chiến lên cao làm tiêu tan mọi nỗ lực đưa tới sụp đổ dần dần . Theo tin báo Times tháng 6-2009: năm 1965 có 1,300 lính Mỹ tử trận tại VN , năm sau 1966 tăng lên 5,000, năm 67 lên 9,300, năm 68 lên 14,000, số lính Mỹ “ủm củ tỉ” lên cao được truyền hình và báo chí Mỹ thổi phồng đổ dầu vào lửa khiến phong trào phản chiến ngày càng quyết liệt hơn. Kế hoạch đánh vào hậu cần địch, mở rộng oanh tạc BV của Westmoreland và các nhà quân sự không được thi hành mặc dù đúng chiến thuật chiến lược có thể sớm chấm dứt chiến tranh, Johnson đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng. Trong giai đoạn 1965-1968 CS quốc tế đã viện trợ cho Hà Nội 517,393 tấn hàng gồm: 105,614 tấn hàng hậu cần và 411,779 tấn hàng vũ khí trang bị kỹ thuật (BBC.com), như thế viện trợ giai đoạn này gấp bẩy lần giai đoạn trước (1961-1965).
Cuối năm 1967 Wesmoreland cho biết tình hình VN lắng dịu , Mỹ có thể rút quân trong năm tới nhưng ngày 21-1-1967 BV vờ pháo kích Khe Sanh dữ dội, một tuần sau đưa 100 tiểu đoàn (84 ngàn người) vào trận tổng công kích Tết Mậu Thân. Mặc dù bị thiệt hại nặng, 70% bị giết, 11% bị bắt làm tù binh so với VNCH tỉ lệ 10 đổi một nhưng họ đã đạt thắng lợi lớn về chính trị, phản chiến tại Mỹ lên cao hơn bao giờ hết, nước Mỹ tan nát vì biến động bên trong nội bộ. Nghe lời khuyên của các nhà thông thái, cuối tháng 3-1968 Johonson tuyên bố không ra tái tranh cử, ông đã viết trong hồi ký như sau.
“Lo ngại lớn nhất của tôi không phải là vấn đề Việt Nam … mà chính là sự chia rẽ bi quan tại Mỹ.. Tôi dùng bài diễn văn sắp đến như một cơ hội để lấy lại sự cân bằng cũng như mở rộng một sự hiểu biết tốt đẹp hơn. Tôi biết rõ ràng rằng sự sụp đổ của mặt trận tại đất nhà là những gì Hà Nội mong chờ”
(Nguyễn Ðức Phương – Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 34)

