Đã có một loạt các cuộc bạo động, xuống đường vì giá lương thực tăng cao ở một số quốc gia. Tại trên 37 nước, dân chúng đã xuống đường vì giá cả nông phẩm tăng nhanh chóng và chính phủ phải bỏ các trợ cấp trên lúa gạo. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank), giá lương thực trên thế giới đã tăng gấp đôi trong vòng ba năm qua. Trong tháng 6 vừa qua, tại cơ quan Lương Nông Thế giới (FAO) tại Roma đã có cuộc họp thượng đỉnh về khủng hỏang lương thực. Các nước đều báo động về việc giá cả lương thực tăng một cách lâu dài.

Mới đây trên 29 nước thường xuất khẩu nông phẩm đã xiết chặt lại và giảm xuất nông phẩm. Nếu nói về xuất khẩu lúa gạo, các nước như Thái Lan, VN, Trung quốc (TQ), Ấn v.v. đã khép lại cánh cửa xuất khẩu gạo. Các nước xuất khẩu nông phẩm khác như Pakistan, Bolivia, v.v. đã giảm xuất khẩu lúa mì.

Theo Thái Lan thì giá thành của lúa gạo là nguyên nhân chính của việc tăng giá gạo và vì vậy Thái Lan tăng giá gạo. Theo họ thì nguyên nhân là giá phân đạm, giá diesel, v.v. đều tăng, và hậu quả là giá thành của gạo tăng. Ấn thì cho là các nước giàu (Hoa kỳ, Nhật, nhất là EU) bảo vệ và trợ cấp nông dân của họ do đó làm làm sai “luật chơi” về thương mại thế giới. Các nông dân Indonesia hay nông dân tại các nước phi châu hay Nam Mỹ không được khuyến khích sản suất vì các nông phẩm của các nước giàu rẻ hơn là nông phẩm của họ vì đước chính phủ các nước giàu trợ cấp.
 
Việc giảm hay hoãn việc xuất khẩu các nông phẩm chính như gạo, lúa mì, bắp, đã gây nhiều khó khăn cho nhiều nước chậm tiến nhất là các nước Phi châu quen ăn gạo. Theo chủ tịch WTO ông Lamy, việc cấm hay giảm xuất khẩu gạo đã làm tăng giá sinh hoạt và lạm phát tại nhiều nước. Theo Chương trình lương thực thế giới (World Food Program) có nhiệm vụ giúp lương thực cho các nước nghèo, việc giảm xuất khẩu làm tăng việc cơ quan này mua lương thực tiếp tế cho các nước nghèo như Afghanistan, Somalia, v.v.

Đã có nhiều ý kiến khác nhau về việc thiếu nông phẩm, giá cả nông phẩm tăng mau chóng. Những lý do gì khiến việc lạm phát nông phẩm trên thế giới?

Hiện nay tại phiên họp G-8 tại Hokkaido, Bà TT A. Merkel của Đức đã cảnh cáo là việc gia tăng giá cả nông phẩm có thể "gây nguy cơ cho nhiều chế độ dân chủ và có thể gây bất ổn định.” Theo các chuyên gia Đức thì đầu cơ trên thị trường nông phẩm có ảnh hưởng xấu trên giá cả. Theo các chuyên gia này thì 30 nước nghèo trên thế giới cần đến khoảng $20 tỷ để nhập khẩu thực phẩm và Đức sẽ bỏ ra €477 triệu hay $750 triệu để giảm khó khăn của các nước nghèo này.



Nhìn một các tổng quát thì thương mại trên thế giới đã tăng gấp 3 lần từ những thập niên 80 trong khi đó thương mại về các nông phẩm không mấy tăng vì các chính sách kiểm sóat và trợ cấp nông phẩm tại các nước G8 trong khi đó thì tại các nước chậm tiến nông nghiệp không thể phát triển vì phải cạnh tranh với các nước giàu trợ cấp nông dân của họ. Tại Nhật hay tại Hoa kỳ, các nông dân được chính phủ bảo vệ và trợ cấp do đó giá gạo tại Nhật là đắt nhất thế giới - trung bình $7 đô/kg trong khi giá trung bình là $1/kg gạo. Tại đây mặc dù giá gạo nước ngoài thấp hơn 5 lần nhưng không thể nào cạnh tranh được vì gặp nhiều trở ngại thuế quan hay rầy rà về kiểm sóat nông nghiệp. Tại âu châu, thì EU kiểm sóat hạn chế việc nhập khẩu thịt bò và thịt gà hay đậu nành.

Năm nay Úc bị hạn hán nặng nề trong khi đó Argentina buộc giảm xuất khẩu nông phẩm do các cuộc đình công và xuống đường của nông dân. Do đó số lượng nông phẩm – lúa gạo phải trông cậy vào một số nước tiếp tục xuất khẩu lúa gạo – ngũ cốc như Thái Lan, Hoa kỳ, Brazil, Canada, v.v.

Những lý do giá nông phẩm và lúa gạo tăng nhanh là vì một số lý do có thể như sau đây:

1. Trước hết là giá dầu thô tăng từ $60/thùng ba năm trước đây lên đến $146 đô/thùng. Quả vậy, 70% của 21 triệu thùng dầu Hoa kỳ đốt hàng ngày là do chuyên chở - do xe hơi. Hơn nữa các nước trước đây còn nghèo như TQ, Ấn, các nước Trung Đông, v.v., các nước đang phát triển, dân chúng đua nhau sắm xe hơi. 56% tăng trưởng về nhu cầu dầu hỏa từ 200-2007 là do các nước này. Xe hơi là nhu cầu chuyên chở nhưng cũng là nhu cầu tâm lý. Việc phát triển xe cộ, việc mua sắm xe hơi tại TQ gấp 5 lần so với những năm 2000 và việc này đòi hỏi dầu. Từ 2000-2006, TQ là nguyên do của 90% tăng trưởng sử dụng dầu hỏa trên thế giới. Dù sao đi nữa, Hoa kỳ gồm 4% số dân của toàn cầu sử dụng ¼ số dầu trên thế giới và gấp hai lần lượng dầu của TQ và Ân cộng lại.

Việc phát triển công nghiệp và đô thị hóa của dân chúng trên thế giới cũng mang đến việc cần năng lực và dầu xăng. Khi gia dầu tăng gấp hai gấp 3 so với 2 năm trước đây mang đến việc các giá thành của các sản phẩm từ dầu như phân bón, chuyên chở, nhiên liệu cho máy cày, máy sát lúa, v.v., đều mắc. Dưới thời XHCN, mỗi nhà có vài cái bóng đèn điện là nhiều nay thì các gia đình tại TQ, Ân, v.v, đua nhau mua máy lạnh, tủ lạnh, máy giặt, TV, v.v., hậu quả là việc sự dụng điện tăng trung bình 20%/năm tại TQ. Điện có nghĩa là cần máy phát điện và cần nhiên liệu, cần dầu.

Phản ứng dây chuyền của việc tăng giá dầu có ảnh hưởng sâu đậm như việc tăng giá than (do việc thay dầu cặn bằng than trong các nhà máy phát điện) hay tăng giá chất Uranium vì các nhà máy phát điện sẽ dùng năng lượng nguyên tử nhiều hơn, v.v). Do đó giá thành của các sản phẩm công nghiệp, phân bón, chuyên chở ảnh hưởng nặng nề đến nông phẩm và hậu quả là giá cả đều tăng. Khi giá cả lương thực tăng thì lạm phát có thể sẩy ra.

Việc tiêu thụ dầu tại các nước G8 + của các nước đang công nghiệp hóa như TQ và Ấn là nguyên nhân chính của sự sai lệch giữa cung và cầu về dầu hỏa.

Nói tóm giá nông phẩm bị ảnh hưởng nặng vì khủng hoảng dầu trong thời kỳ này là do cầu gần bằng cung và các nước xuất dầu không có nhiều khả năng tăng sản xuất một cách mau chóng. Ngoài ra còn vấn đề đầu cơ trên thị trường chứng khóan hay thị trường mua trước.


2. Sản xuất biofuel - Ethanol và diesel từ nông phẩm. Thế giới ngày càng chú ý đến khí cầu – việc hâm nóng trái đất, thay đổi khí hậu do đó các nước chú ý nhiều đến việc thải khí CO2 do xăng của xe cộ gây ra. Do ảnh hưởng xấu của việc này, các nước tìm cách giảm việc thải khi CO2 và do đó các nước dùng khí đốt, xăng pha với ethanol để giảm ô nhiễm.

Các nước như Hoa kỳ và EU trợ cấp trong việc sản xuất biofuel vì Hoa kỳ muốn sản xuất 35 tỷ gallons biofuel vào 2020 trong khi đó thì EU nhắm 10% dấu xăng vào năm 2020 phải là biofuel. Hơn nữa khi giá dầu tăng nhanh, các nước đua nhau sản xuất ethanol qua nhiều quy trình khác nhau. Đối với Hoa kỳ thì ethanol được sản xuất từ bắp và đường trong khi Brazil sản xuất ethanol từ mía. Tại Á châu thì các nước dùng dầu cọ (palm oil) để sản xuất diesel trong khi tại Âu châu các nước dùng cải để làm thành ethanol hay nhiều nông phẩm khác để chế diesel.

Việc sản xuất ethanol để trộn với xăng - để giảm ô nhiễm hay việc chế diesel từ dầu cọ hay từ nhiều nông phẩm khác đã mang đến việc các công ty chế biến ethanol hay diesel đua nhau trồng thêm các diện tích - gây căng thẳng – cạnh tranh trong việc trồng và sản xuất các nông phẩm để giải quyết vấn đề năng lượng và các nông phẩm cho người. Việc dùng bắp (corn), mía, củ cải hay dầu cọ vào việc này đã làm cho giá cả các nông phẩm ngày càng tăng vì có sự bất hòa giữa cung và cầu.

Việc dùng bắp ảnh hưởng đến các sản phẩm khác như cerals (thực phẩm ăn sáng), các thức ăn cho gia súc như gà hay thực phẩm cho chăn nuôi bò sữa hay các lĩnh vực chăn nuôi khác. Việc trồng bắp sẽ ảnh hưởng đến việc trồng đậu nành, việc dùng dầu cọ cho biodiesel sẽ ãnh hưởng đến dầu ăn, đến các sản phẩm phụ khác, v.v.

3. Thiếu đầu tư vào lãnh vực canh nông. Các nước giàu trong nhóm G8 trợ cấp nông dân (EU trợ cấp về chăn nuôi, về đường, về lúa trong khi Hoa kỳ trợ cấp về bông gòn, đường, Nhật về gạo,v.v) và hậu quả là các nước nghèo không thể cạnh tranh và đã có rất ít đầu tư vào lãnh vực canh nông tại các nước chậm tiến.

Hơn nữa vào thập niên 80 và 90, nhân danh “Tự Do Thương Mại,” Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Thế giới (IMF) luôn khuyến cáo các nước chậm tiến mở cửa – bỏ hàng rào thuế quan và bỏ các trợ cấp cho canh nông để giảm thâm hụt ngân sách. Chính NHTG cũng đã nhận lỗi là họ đã không để ý đúng mức về các hậu quả xấu của các khuyến cáo về chính sách họ khuyến cáo các xứ nghèo.

Trong nhiều năm vì khó cạnh tranh với các nông phẩm nhập khẩu, các nước đã không tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu trong nông nghiệp. Trong những thập niên 60 và 70, đã có nhiều cố gắng đầu tư vào nghiên cứu cho nên đã có cách mạng xanh tại Á châu. Ta còn nhớ về lúa Thần Nông hay IR 8 tại miền Nam được mang từ viện nghiên cứu IRRI. Lúc đó nông dân còn gọi lúa này là “lúa Honda” vì nhờ năng xuất cao cho nên có thể có dư tiền mua xe Honda, mua máy Kohler, máy đuôi tôm, vv.

Cách mạng xanh đã ảnh hưởng đến Á châu vì vậy TQ, Ấn, Pakistan, VN, vv., đã có dịp tự túc về lúa gạo trong khi những nước ở Phi châu đã bị bỏ rơi, đã chưa có cách mạng xanh về lúa gạo.

4. Thay đổi quy trình sản xuất trong nông nghiệp đòi hỏi thời gian. Trong nông nghiệp việc thay đổi quy trình sản suất đòi hỏi thời gian. Ví dụ muốn tăng việc trồng các đồn điền dầu cọ cũng cần nhiều năm (ít nhất 5 năm thì mới có thể sản xuất dầu cọ), thì mới có thể thay đổi việc cung và cầu về dầu cọ.

Muốn tăng gia sản xuất lúa gạo thì phải đầu tư hạ tầng cơ sở về thủy nông, về quy trình sản xuất lúa giống để bán cho nông dân, phải tăng phân bón, v.v. Như vậy muốn giảm giá cần có thời gian thì cung mới có thể giải quyết vấn đề cầu.

Trong ngắn hạn chỉ có thể giảm giá nông phẩm qua việc giảm các tồn kho về lúa gạo hay nông phẩm. Khi giá gạo tăng quá cao từ trung bình $400/T gạo lên đến trên $1000/T thì Nhật đã bán ra tồn kho của họ, làm giảm cơn sốt gạo. Thái Lan cũng đã mở tồn kho trên 2 triệu T và bán ra phần nào đề giảm giá thực phẩm – lạm phát.

Hơn nữa cần đầu tư vào việc sản xuất lúa gạo nhiều hơn, cần có một cách mạng xanh tại Phi châu mới giải quyết các vấn đề tại đây.

Ảnh hưởng xấu
Ảnh hưởng trên các nước Phi châu rất trầm trọng vì đã có nhiều nước như Ai cập, Senegal, Cote D’Ivoire, Niger, v.v. bị giá cả nông phẩm nhất là gạo ảnh hưởng rất nặng nề. Ta cũng nên nhớ là sau đệ nhất thế chiến vào khoảng thập niên 30, Pháp đã xuất khẩu gạo từ Đông Dương – từ VN và Cambốt qua các nước Phi châu. Các nước này nay quen ăn gạo và nay đã phải tự trồng phần nào lúa gạo. Nhưng phần đồng, các nước này nhập khẩu gạo từ Á châu để có thể giải quyết nhu cầu thực phẩm trong nước. Việc gạo tăng gấp đôi trung bình từ dưới $400/T lên trên $900/T đã gây lạm phát và xáo trộn xã hội.

Ngoài ra các nước Phi châu khác như Somalia, Ethiopia, Dafur cần quốc tế trợ giúp thực phẩm qua trung gian WFP (Chương trình lương thực thế giới) có nhiệm vụ giúp các nước trong cơn khủng hoảng lương thực (Hoa kỳ viện trợ 90% của Chương trình WFP) cho các nước nghèo – bị mất mùa hay vì chiến tranh. Vì giá dầu tăng, chuyên chở thực phẩm cũng tăng và vì gia cả cao cho nên việc mua bán nông phẩm cũng gặp nhiều khó khăn.

Tại châu Á, nhiều nước đã quá hấp tấp – hốt hoảng. VN và Thái Lan đã cấm xuất khẩu trong một thời gian. Philippines một nước sản xuất gạo nhưng nhu cầu gạo rất lớn do đó hang năm phải nhập khẩu gạo. Chính phủ Philippines hấp tấp mau chóng ký hợp đồng nhập khẩu gạo (25% hạt nát – broken) lâu dài với VN với giá trung bình là trên $900/T. Nay giá gạo trên thế giới đã giảm vì nhiều nước đã mở tiếp tục xuất khẩu gạo – nay giá gạo còn ở mức trung bình là $700/T. Vì quá hốt hỏang Philippines bị hớ trong vấn đề giá cả gạo.

Ảnh hưởng chính là chính sách thương mại thế giới. Theo thuyết chuyên môn về thương mại quốc tế thì các nước phải chuyên môn về các lĩnh vực mà họ có chuyên môn nhưng nay các nước như Ấn hay Brazil cho là các nước giàu nhất là EU bảo vệ và trợ cấp nông phẩm làm sai “luật chơi” về thương mại quốc tế.

Việc này ảnh hưởng đến thương thuyết về quy trình “tự do hóa” thương mại tại DOHA – WTO.

Kết luận tạm
Trong cuộc họp G-8 tại Hokkaido, các nước cũng phải chú ý đến giá nông phẩm. TTK Liên Hiệp Quốc Ban Kim Moon kêu gọi các nước giàu giúp đỡ nông nghiệp các nước nghèo. Chủ tịch NHTG (World Bank) kêu gọi giúp các nước nghèo nhất là Phi châu. TT Anh ông Brown cũng tuyên bố nước ông sẽ xét lại việc dùng bắp làm ethanol cho biofuel. Tương lai sẽ cho thấy các nước G8 có giữ lới hứa viện trợ hay không?

Một trong giải pháp nông phẩm tại Phi châu, tại Liberia giải đáp là sản xuất nông phẩm và lúa gạo nhiều hơn. Trong vấn đề này nhiều chuyên gia nông nghiệp Mỹ gốc Việt đang giúp xứ này giải quyết vấn đề lúa gạo.

© danchimviet.com