- Trang Chủ
- Người Việt Nước Ngoài
- Lê Xuân Khoa: Người Việt ở Mỹ có thể đóng góp gì cho quê hương?
Lê Xuân Khoa: Người Việt ở Mỹ có thể đóng góp gì cho quê hương?
- Tác Giả Vô Kỵ
- Đăng ngày 30.07.09
- Người Việt Nước Ngoài
Trong thời gian gần đây, đề tài được nhắc tới nhiều nhất trong cộng đồng Người Việt Ở Mỹ có lẽ là những chuyển biến xấu của tình hình chính trị Việt Nam. Chuyện Trung Quốc lấn chiếm biển Đông. Chuyện Trung Quốc khai thác quặng Bauxite ở Tây Nguyên với nhiều ý đồ chính trị. Chuyện chính quyền Việt Nam hơn bao giờ hết trở nên nhu nhược với chính sách đối ngoại với Tàu, nhưng lại mạnh tay hơn trong chính sách đối nội với phong trào dân chủ, yêu nước của người dân Việt. Nhưng người Việt hải ngọai như chúng ta theo dõi tình hình với niềm xót xa là chính, chứ không biết được mình có thể đóng góp gì cho quê hương trong lúc này.
Trong một bối cảnh như vậy, tôi đã tìm gặp Giáo sư Lê Xuân Khoa. Dù là một người tị nạn rời khỏi đất nước từ 1975, nhưng qua những hoạt động suốt 30 năm qua ở Mỹ, Giáo sư là một trong những người có cơ hội tiếp xúc nhiều nhất với mọi lớp người trong xã hội Việt Nam, từ lãnh đạo chóp bu cho tới dân chúng miền quê. Giáo sư đã cho tôi nhiều ý kiến xác thực về tình hình trong nước, cũng như những gì người Việt hải ngoại có thể đóng góp cho quê hương trong thời điểm “sơn hà nguy biến” hôm nay.
Để viết đầy đủ về những hoạt động, đóng góp của Giáo sư Lê Xuân Khoa đối với cộng đồng Người Việt tị nạn, cần phải có riêng một bài báo khác nữa. Ở đây chỉ xin tóm tắt một vài điểm chính. Giáo sư đã từng giảng dạy triết học Đông phương, văn minh Việt Nam tại các Đại học Văn khoa Sài Gòn, Đại học Đà Lạt, Đại học Vạn Hạnh… Di tản sang Mỹ ngay biến cố 30-04-1975, ông và gia đình định cư tại Washington DC. Khi sang đến Mỹ, ông đã nhìn trước viễn cảnh lâu dài của một cộng đồng người Việt lưu vong tại Mỹ. Do đó, bên cạnh việc ổn định cuộc sống gia đình, ông cũng làm việc với những tổ chức giúp đỡ người dân tị nạn tại Hoa Kỳ. Duyên may đã đem lại cho ông cơ hội hợp tác với Indochina Refugee Action Center (IRAC), một tổ chức phi chính phủ (NGO) do một nhóm trí thức người Mỹ thành lập vào năm 1979 chuyên vận động về chính sách và chương trình giúp đỡ người tị nạn Đông Dương. Tổ chức này sau đổi tên thành Southeast Asia Resource Action Center (SEARAC). Giáo sư bắt đầu làm việc với IRAC trong vai trò cố vấn về các vấn đề Việt Nam, đến năm 1981 thì ông trở thành Chủ tịch/Tổng Giám đốc của tổ chức, và giữ chức vụ này cho đến năm 1997 sau khi các chương trình quốc tế về tị nạn Đông Dương đã hoàn toàn chấm dứt. Năm 1996, ông được Trường cao học Nghiên cứu Quốc tế của Đại học Johns Hopkins mời làm Giáo sư thỉnh giảng và từ năm 2000 làm Học giả ngoại trú của Học viện về Chính sách Quốc tế cũng thuộc Đại học Johns Hopkins.
Với vai trò Chủ tịch của IRAC/SEARAC, Giáo sư Lê Xuân Khoa đã trở thành cầu nối giữa Chính phủ Mỹ và các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam, trong việc giải quyết vấn đề của người tị nạn Đông Dương giai đọan 1979 đến 1995. Ông có mặt trong hầu hết các họat động có liên quan đến người dân Việt lưu vong, đặc biệt là công cuộc vận động cho người tị nạn được định cư ở Hoa Kỳ, tổ chức và phát triển các hội đoàn tương trợ của người tị nạn. Năm 1989, khi Hội nghị quốc tế Geneva thiết lập Kế hoạch hành động toàn diện nhằm kết thúc chương trình tị nạn Đông Dương thì Trung tâm SEARAC tích cực tranh đấu cho các giải pháp công bằng và nhân đạo qua những chương trình chống thanh lọc bất công, chống cưỡng bách hồi hương, chương trình định cư cựu tù cải tạo (H.O.) và định cư những người bị thanh lọc bất công đã hồi hương (ROVR). Song song với các chương trình ra đi chính thức là chương trình giúp đỡ cho những người đã phải hồi hương để bảo đảm rằng họ trở về nước không bị trù dập và có điều kiện hội nhập trở lại cuộc sống bình thường. Có thể nói GS Lê Xuân Khoa là người gắn liền với lịch sử tị nạn Việt Nam sau biến cố 30-04-1975.
Cũng nhờ sự đóng góp đáng kể vào các cuộc đối thoại giữa hai chính phủ Việt-Mỹ về các vấn đề tị nạn và nhân đạo, GS Lê Xuân Khoa đã có dịp tiếp xúc với nhiều quan chức cao cấp của chính quyền CSVN từ 1989 cho đến thời gian gần đây. Vì thế, ông hiểu khá rõ tình hình trong nước và tính cách của nhiều nhân vật lãnh đạo Việt Nam đương thời. Mỗi chuyến về Việt Nam công tác cho SEARAC hay cho những chương trình nhân đạo của những tổ chức phi chính phủ, ông có nhiều dịp gặp gỡ những người thuộc mọi tầng lớp khác nhau của xã hội. Do đó, cái nhìn của ông về tình hình đất nước luôn luôn được cập nhật hóa, sát với thực tế và không bị phiến diện.
Trở lại với tình hình đất nước Việt Nam hiện tại, GS Lê Xuân Khoa đồng ý rằng những chuyển biến trong năm nay đều theo chiều hướng xấu cho vận mệnh quốc gia, dân tộc. Đảng CSVN hơn bao giờ hết đang càng ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc để củng cố quyền lực và quyền lợi. Các diễn biến ở Biển Đông, mỏ bauxite Tây Nguyên đã chứng minh rõ rệt cho chiều hướng này.
Chính phủ Bắc Kinh, tận dụng thời cơ Mỹ và thế giới Phương Tây phải bận bịu đương đầu với cuộc khủng hoảng kinh tế và các vấn đề chính trị và quân sự ở Trung Đông, đang xác lập ảnh hưởng lâu dài của mình tại vùng Đông Nam Á, mà bước đi chiến luợc được bắt đầu từ Việt Nam. Thế cờ về một “vành đai các chư hầu độc tài” để bảo vệ cho mưu đồ bành trướng của Trung Quốc bao gồm Bắc Hàn, Miến Điện, Việt Nam đang được Bắc Kinh gấp rút hình thành.
Điều tệ hại không kém là để duy trì được sự tồn tại của mình trong “liên minh” này, Chính phủ Việt Nam phải mạnh tay hơn trong việc trấn áp dư luận bất mãn của người dân trong nước, đặc biệt các thành viên của phong trào dân chủ và của những trí thức độc lập, vốn ngày càng gia tăng tố cáo và chống đối chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc đang áp đặt lên dân tộc Việt Nam. Ý dân không thể thực hiện được vì nó đi ngược lại với quyền lợi của tầng lớp lãnh đạo. Một Hội Nghị Diên Hồng như 800 năm trước để hỏi ý dân: “nên hòa hay chiến” sẽ không có ở thế kỷ XXI này, khi Nhà nước chỉ cần tuyên bố: “Vấn đề này thuộc chủ trương lớn của Đảng, nên… miễn bàn!”.
Cho đến ngày nào Việt Nam chưa thực sự có dân chủ, thì việc Trung Quốc kiểm soát được tình hình Việt Nam là tương đối đơn giản. Mà người dân đen bây giờ lại bị bưng bít thông tin, sợ biến động mặc dù rất chán ghét chế độ. Cứ so sánh với chính mình 10 năm trước, thấy đời sống có khá hơn, thế là được rồi!
Nếu thế thì vận nước nhà đã được an bài chưa? GS Lê Xuân Khoa cho rằng vẫn còn hy vọng.
Thứ nhất là truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam trước hiểm họa Trung Quốc. Trong thời bình, dân Việt thường chỉ lo cho bản thân và gia đình, nhưng hễ khi phải đối đầu với quân xâm lược, đặc biệt là từ phương Bắc, thì toàn dân sẽ đoàn kết muôn người như một.
Thứ hai, ý đồ bành trướng của Trung Quốc không chỉ làm cho người Việt lo ngại, mà cũng là mối quan tâm lớn của nhiều nước trong khu vực. Việc Trung Quốc vẽ bản đồ lưỡi bò để thống lãnh Biển Đông, tận lực khai thác thượng nguồn sông Mekong chỉ vì quyền lợi của riêng mình, bất kể sự sống còn của các quốc gia vùng hạ lưu đã khiến cho khối ASEAN phải nghĩ đến kế họach liên minh đối phó với Trung Quốc.
Gần đây Hoa Kỳ liên tiếp chứng tỏ quyết tâm trở lại Đông Nam Á như Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã tuyên bố tại Hội nghị ASEAN, ngay sau đó ra tuyên bố chung với Việt Nam, Thái Lan, Cam-bốt và Lào về sự hợp tác phát triển vùng hạ lưu sông Mekong, trong khi phái đoàn do Tướng Tư lệnh không đoàn 13 của Mỹ có mặt ở Hà Nội để thảo luận chương trình đào tạo sĩ quan và hợp tác không lực giữa hai nước.
Ngoài ra, phải kể đến những động thái cùng một chiều hướng của Nhật, Ấn độ, Liên minh Âu châu và cả Nga nữa, tất cả đều phát xuất từ nhu cầu phải ngăn chặn tham vọng bành trướng quá lộ liễu của Trung Quốc.
Thứ ba — đây là điều cần theo dõi nhất — lãnh đạo Việt Nam có thể đang tìm cách ra khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc. Một mặt vì ý thức được lòng bất mãn của nhân dân đang gia tăng mạnh mẽ trước thái độ nhu nhược của chính quyền đối với những hành động chèn ép quá trắng trợn và tàn ác của Trung Quốc, một mặt vì đã nhận được những tín hiệu khích lệ từ các nước Á châu, Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế. Liệu lãnh đạo Việt Nam có đạt được đồng thuận là cần ra khỏi liên minh Trung quốc-Bắc Hàn-Miến Điện và hội nhập thật sự vào thế giới văn minh, dân chủ hay không? Không ai có thể khẳng định được điều gì trong lúc này, nhưng thời gian chờ đợi câu trả lời sẽ không lâu.
Trong khi đó, cộng đồng người Việt hải ngoại có thể đóng góp được gì cho nhu cầu bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước? GS Lê Xuân Khoa nhấn mạnh đến sức mạnh ở trong nước. Không có một thế lực bên ngoài nào có thể cải thiện hay thay đổi được chế độ độc tài toàn trị ở Việt Nam. Công việc đó phải được thực hiện bởi người dân trong nước. Điều này chỉ xảy ra khi các thông tin về hiểm họa Trung Quốc được phổ biến sâu rộng tới dân chúng ở mọi miền đất nước. Vì vậy, người Việt hải ngoại nên tiếp tay phổ biến những thông tin cần thiết bằng mọi phương tiện thích hợp, nhất là những lời cảnh báo của những nhà hoạt động dân chủ, những trí thức độc lập, kể cả những đảng viên sáng suốt.
Quan trọng hơn nữa là công cuộc vận động Chính phủ Mỹ và cộng đồng quốc tế khuyến khích và hậu thuẫn cho một quan điểm chung của ASEAN trong những cuộc đối thoại với Trung Quốc về chủ quyền lãnh hải, về quan hệ hợp tác hòa bình. Để cho công cuộc vận động này đạt đựơc kết quả, trí thức người Việt hải ngoại, đặc biệt là ở Mỹ, cần có sự hợp tác của trí thức người Mỹ gốc Á châu – Thái Bình Dương vì họ cũng có chung mối quan tâm về mưu đồ của Trung Quốc đối với quê hương gốc rễ của họ. Đây là những người đã có thói quen sinh hoạt tự do, dân chủ, đã vượt lên khỏi chủ nghĩa quốc gia quá khích và có tầm nhìn quốc tế, do đó sẽ dễ dàng hợp tác và hỗ trợ cho mục tiêu ngăn chặn Trung Quốc dùng Việt Nam làm bàn đạp cho những bước kiểm soát toàn khu vực.
Người Mỹ gốc Việt sẽ không cô đơn trong những cuộc tiếp xúc tham khảo với các nhà làm chính sách ở Tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao và Quốc hội. Nếu trước đây, tiếng nói của người tị nạn Việt Nam đã có ảnh hưởng đến chính sách của Hoa Kỳ và quốc tế, thì ngày nay tiếng nói của những công dân Mỹ gốc Á châu cho một nền hòa bình và thịnh vượng ở Đông Nam Á chắc chắn sẽ được lắng nghe nhiều hơn nữa.
Theo GS Khoa, đã đến lúc người Việt hải ngoại cần vượt lên khỏi những thành kiến và dị biệt, để phối hợp hoạt động cho mục tiêu chung theo lề lối sinh hoạt thật sự dân chủ. Trí thức người Mỹ gốc Việt, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần đứng ra đảm nhận trọng trách đối với quê hương, và cần được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng.
Chia tay GS Lê Xuân Khoa, đầu óc tôi vẫn còn tiếp tục suy nghĩ. Một nhà trí thức đã bước vào tuổi 80, lý ra nên hưởng nhàn cùng con cháu ở Mỹ mới đúng. Đằng này ông vẫn còn ưu tư với thời cuộc chốn quê nhà. Ngày xưa, vua Trần triệu tập bô lão tòan dân để bàn việc nước. Tinh thần đoàn kết đã giúp dân Việt thắng giặc Nguyên Mông. Ngày nay, nhiều bô lão Việt Nam trong và ngoài nước cũng đang tìm cách liên kết với nhau để giúp nước nhà. Nhưng lần này, họ không được triệu tập bởi người lãnh đạo đất nước, mà phải đối đầu với cả thế lực ngoại bang lẫn chính quyền Việt Nam. Liệu sứ mạng cứu nước lần này có phải là nhiệm vụ bất khả thi hay không???
Không cần đợi câu trả lời cho câu hỏi này, những bô lão Việt như Giáo sư Lê Xuân Khoa vẫn đã và đang lên đường tìm đến Hội Nghị Diên Hồng của những người Việt cùng chí hướng…
Bài do ông Lê Xuân Khoa gửi tới Đàn Chim Việt
Trong một bối cảnh như vậy, tôi đã tìm gặp Giáo sư Lê Xuân Khoa. Dù là một người tị nạn rời khỏi đất nước từ 1975, nhưng qua những hoạt động suốt 30 năm qua ở Mỹ, Giáo sư là một trong những người có cơ hội tiếp xúc nhiều nhất với mọi lớp người trong xã hội Việt Nam, từ lãnh đạo chóp bu cho tới dân chúng miền quê. Giáo sư đã cho tôi nhiều ý kiến xác thực về tình hình trong nước, cũng như những gì người Việt hải ngoại có thể đóng góp cho quê hương trong thời điểm “sơn hà nguy biến” hôm nay.
Để viết đầy đủ về những hoạt động, đóng góp của Giáo sư Lê Xuân Khoa đối với cộng đồng Người Việt tị nạn, cần phải có riêng một bài báo khác nữa. Ở đây chỉ xin tóm tắt một vài điểm chính. Giáo sư đã từng giảng dạy triết học Đông phương, văn minh Việt Nam tại các Đại học Văn khoa Sài Gòn, Đại học Đà Lạt, Đại học Vạn Hạnh… Di tản sang Mỹ ngay biến cố 30-04-1975, ông và gia đình định cư tại Washington DC. Khi sang đến Mỹ, ông đã nhìn trước viễn cảnh lâu dài của một cộng đồng người Việt lưu vong tại Mỹ. Do đó, bên cạnh việc ổn định cuộc sống gia đình, ông cũng làm việc với những tổ chức giúp đỡ người dân tị nạn tại Hoa Kỳ. Duyên may đã đem lại cho ông cơ hội hợp tác với Indochina Refugee Action Center (IRAC), một tổ chức phi chính phủ (NGO) do một nhóm trí thức người Mỹ thành lập vào năm 1979 chuyên vận động về chính sách và chương trình giúp đỡ người tị nạn Đông Dương. Tổ chức này sau đổi tên thành Southeast Asia Resource Action Center (SEARAC). Giáo sư bắt đầu làm việc với IRAC trong vai trò cố vấn về các vấn đề Việt Nam, đến năm 1981 thì ông trở thành Chủ tịch/Tổng Giám đốc của tổ chức, và giữ chức vụ này cho đến năm 1997 sau khi các chương trình quốc tế về tị nạn Đông Dương đã hoàn toàn chấm dứt. Năm 1996, ông được Trường cao học Nghiên cứu Quốc tế của Đại học Johns Hopkins mời làm Giáo sư thỉnh giảng và từ năm 2000 làm Học giả ngoại trú của Học viện về Chính sách Quốc tế cũng thuộc Đại học Johns Hopkins.
Với vai trò Chủ tịch của IRAC/SEARAC, Giáo sư Lê Xuân Khoa đã trở thành cầu nối giữa Chính phủ Mỹ và các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam, trong việc giải quyết vấn đề của người tị nạn Đông Dương giai đọan 1979 đến 1995. Ông có mặt trong hầu hết các họat động có liên quan đến người dân Việt lưu vong, đặc biệt là công cuộc vận động cho người tị nạn được định cư ở Hoa Kỳ, tổ chức và phát triển các hội đoàn tương trợ của người tị nạn. Năm 1989, khi Hội nghị quốc tế Geneva thiết lập Kế hoạch hành động toàn diện nhằm kết thúc chương trình tị nạn Đông Dương thì Trung tâm SEARAC tích cực tranh đấu cho các giải pháp công bằng và nhân đạo qua những chương trình chống thanh lọc bất công, chống cưỡng bách hồi hương, chương trình định cư cựu tù cải tạo (H.O.) và định cư những người bị thanh lọc bất công đã hồi hương (ROVR). Song song với các chương trình ra đi chính thức là chương trình giúp đỡ cho những người đã phải hồi hương để bảo đảm rằng họ trở về nước không bị trù dập và có điều kiện hội nhập trở lại cuộc sống bình thường. Có thể nói GS Lê Xuân Khoa là người gắn liền với lịch sử tị nạn Việt Nam sau biến cố 30-04-1975.
Cũng nhờ sự đóng góp đáng kể vào các cuộc đối thoại giữa hai chính phủ Việt-Mỹ về các vấn đề tị nạn và nhân đạo, GS Lê Xuân Khoa đã có dịp tiếp xúc với nhiều quan chức cao cấp của chính quyền CSVN từ 1989 cho đến thời gian gần đây. Vì thế, ông hiểu khá rõ tình hình trong nước và tính cách của nhiều nhân vật lãnh đạo Việt Nam đương thời. Mỗi chuyến về Việt Nam công tác cho SEARAC hay cho những chương trình nhân đạo của những tổ chức phi chính phủ, ông có nhiều dịp gặp gỡ những người thuộc mọi tầng lớp khác nhau của xã hội. Do đó, cái nhìn của ông về tình hình đất nước luôn luôn được cập nhật hóa, sát với thực tế và không bị phiến diện.
Trở lại với tình hình đất nước Việt Nam hiện tại, GS Lê Xuân Khoa đồng ý rằng những chuyển biến trong năm nay đều theo chiều hướng xấu cho vận mệnh quốc gia, dân tộc. Đảng CSVN hơn bao giờ hết đang càng ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc để củng cố quyền lực và quyền lợi. Các diễn biến ở Biển Đông, mỏ bauxite Tây Nguyên đã chứng minh rõ rệt cho chiều hướng này.
Chính phủ Bắc Kinh, tận dụng thời cơ Mỹ và thế giới Phương Tây phải bận bịu đương đầu với cuộc khủng hoảng kinh tế và các vấn đề chính trị và quân sự ở Trung Đông, đang xác lập ảnh hưởng lâu dài của mình tại vùng Đông Nam Á, mà bước đi chiến luợc được bắt đầu từ Việt Nam. Thế cờ về một “vành đai các chư hầu độc tài” để bảo vệ cho mưu đồ bành trướng của Trung Quốc bao gồm Bắc Hàn, Miến Điện, Việt Nam đang được Bắc Kinh gấp rút hình thành.
Điều tệ hại không kém là để duy trì được sự tồn tại của mình trong “liên minh” này, Chính phủ Việt Nam phải mạnh tay hơn trong việc trấn áp dư luận bất mãn của người dân trong nước, đặc biệt các thành viên của phong trào dân chủ và của những trí thức độc lập, vốn ngày càng gia tăng tố cáo và chống đối chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc đang áp đặt lên dân tộc Việt Nam. Ý dân không thể thực hiện được vì nó đi ngược lại với quyền lợi của tầng lớp lãnh đạo. Một Hội Nghị Diên Hồng như 800 năm trước để hỏi ý dân: “nên hòa hay chiến” sẽ không có ở thế kỷ XXI này, khi Nhà nước chỉ cần tuyên bố: “Vấn đề này thuộc chủ trương lớn của Đảng, nên… miễn bàn!”.
Cho đến ngày nào Việt Nam chưa thực sự có dân chủ, thì việc Trung Quốc kiểm soát được tình hình Việt Nam là tương đối đơn giản. Mà người dân đen bây giờ lại bị bưng bít thông tin, sợ biến động mặc dù rất chán ghét chế độ. Cứ so sánh với chính mình 10 năm trước, thấy đời sống có khá hơn, thế là được rồi!
Nếu thế thì vận nước nhà đã được an bài chưa? GS Lê Xuân Khoa cho rằng vẫn còn hy vọng.
Thứ nhất là truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam trước hiểm họa Trung Quốc. Trong thời bình, dân Việt thường chỉ lo cho bản thân và gia đình, nhưng hễ khi phải đối đầu với quân xâm lược, đặc biệt là từ phương Bắc, thì toàn dân sẽ đoàn kết muôn người như một.
Thứ hai, ý đồ bành trướng của Trung Quốc không chỉ làm cho người Việt lo ngại, mà cũng là mối quan tâm lớn của nhiều nước trong khu vực. Việc Trung Quốc vẽ bản đồ lưỡi bò để thống lãnh Biển Đông, tận lực khai thác thượng nguồn sông Mekong chỉ vì quyền lợi của riêng mình, bất kể sự sống còn của các quốc gia vùng hạ lưu đã khiến cho khối ASEAN phải nghĩ đến kế họach liên minh đối phó với Trung Quốc.
Gần đây Hoa Kỳ liên tiếp chứng tỏ quyết tâm trở lại Đông Nam Á như Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã tuyên bố tại Hội nghị ASEAN, ngay sau đó ra tuyên bố chung với Việt Nam, Thái Lan, Cam-bốt và Lào về sự hợp tác phát triển vùng hạ lưu sông Mekong, trong khi phái đoàn do Tướng Tư lệnh không đoàn 13 của Mỹ có mặt ở Hà Nội để thảo luận chương trình đào tạo sĩ quan và hợp tác không lực giữa hai nước.
Ngoài ra, phải kể đến những động thái cùng một chiều hướng của Nhật, Ấn độ, Liên minh Âu châu và cả Nga nữa, tất cả đều phát xuất từ nhu cầu phải ngăn chặn tham vọng bành trướng quá lộ liễu của Trung Quốc.
Thứ ba — đây là điều cần theo dõi nhất — lãnh đạo Việt Nam có thể đang tìm cách ra khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc. Một mặt vì ý thức được lòng bất mãn của nhân dân đang gia tăng mạnh mẽ trước thái độ nhu nhược của chính quyền đối với những hành động chèn ép quá trắng trợn và tàn ác của Trung Quốc, một mặt vì đã nhận được những tín hiệu khích lệ từ các nước Á châu, Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế. Liệu lãnh đạo Việt Nam có đạt được đồng thuận là cần ra khỏi liên minh Trung quốc-Bắc Hàn-Miến Điện và hội nhập thật sự vào thế giới văn minh, dân chủ hay không? Không ai có thể khẳng định được điều gì trong lúc này, nhưng thời gian chờ đợi câu trả lời sẽ không lâu.
Trong khi đó, cộng đồng người Việt hải ngoại có thể đóng góp được gì cho nhu cầu bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước? GS Lê Xuân Khoa nhấn mạnh đến sức mạnh ở trong nước. Không có một thế lực bên ngoài nào có thể cải thiện hay thay đổi được chế độ độc tài toàn trị ở Việt Nam. Công việc đó phải được thực hiện bởi người dân trong nước. Điều này chỉ xảy ra khi các thông tin về hiểm họa Trung Quốc được phổ biến sâu rộng tới dân chúng ở mọi miền đất nước. Vì vậy, người Việt hải ngoại nên tiếp tay phổ biến những thông tin cần thiết bằng mọi phương tiện thích hợp, nhất là những lời cảnh báo của những nhà hoạt động dân chủ, những trí thức độc lập, kể cả những đảng viên sáng suốt.
Quan trọng hơn nữa là công cuộc vận động Chính phủ Mỹ và cộng đồng quốc tế khuyến khích và hậu thuẫn cho một quan điểm chung của ASEAN trong những cuộc đối thoại với Trung Quốc về chủ quyền lãnh hải, về quan hệ hợp tác hòa bình. Để cho công cuộc vận động này đạt đựơc kết quả, trí thức người Việt hải ngoại, đặc biệt là ở Mỹ, cần có sự hợp tác của trí thức người Mỹ gốc Á châu – Thái Bình Dương vì họ cũng có chung mối quan tâm về mưu đồ của Trung Quốc đối với quê hương gốc rễ của họ. Đây là những người đã có thói quen sinh hoạt tự do, dân chủ, đã vượt lên khỏi chủ nghĩa quốc gia quá khích và có tầm nhìn quốc tế, do đó sẽ dễ dàng hợp tác và hỗ trợ cho mục tiêu ngăn chặn Trung Quốc dùng Việt Nam làm bàn đạp cho những bước kiểm soát toàn khu vực.
Người Mỹ gốc Việt sẽ không cô đơn trong những cuộc tiếp xúc tham khảo với các nhà làm chính sách ở Tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao và Quốc hội. Nếu trước đây, tiếng nói của người tị nạn Việt Nam đã có ảnh hưởng đến chính sách của Hoa Kỳ và quốc tế, thì ngày nay tiếng nói của những công dân Mỹ gốc Á châu cho một nền hòa bình và thịnh vượng ở Đông Nam Á chắc chắn sẽ được lắng nghe nhiều hơn nữa.
Theo GS Khoa, đã đến lúc người Việt hải ngoại cần vượt lên khỏi những thành kiến và dị biệt, để phối hợp hoạt động cho mục tiêu chung theo lề lối sinh hoạt thật sự dân chủ. Trí thức người Mỹ gốc Việt, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần đứng ra đảm nhận trọng trách đối với quê hương, và cần được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng.
Chia tay GS Lê Xuân Khoa, đầu óc tôi vẫn còn tiếp tục suy nghĩ. Một nhà trí thức đã bước vào tuổi 80, lý ra nên hưởng nhàn cùng con cháu ở Mỹ mới đúng. Đằng này ông vẫn còn ưu tư với thời cuộc chốn quê nhà. Ngày xưa, vua Trần triệu tập bô lão tòan dân để bàn việc nước. Tinh thần đoàn kết đã giúp dân Việt thắng giặc Nguyên Mông. Ngày nay, nhiều bô lão Việt Nam trong và ngoài nước cũng đang tìm cách liên kết với nhau để giúp nước nhà. Nhưng lần này, họ không được triệu tập bởi người lãnh đạo đất nước, mà phải đối đầu với cả thế lực ngoại bang lẫn chính quyền Việt Nam. Liệu sứ mạng cứu nước lần này có phải là nhiệm vụ bất khả thi hay không???
Không cần đợi câu trả lời cho câu hỏi này, những bô lão Việt như Giáo sư Lê Xuân Khoa vẫn đã và đang lên đường tìm đến Hội Nghị Diên Hồng của những người Việt cùng chí hướng…
Bài do ông Lê Xuân Khoa gửi tới Đàn Chim Việt
Rỉ Tai
4 Responses to " Lê Xuân Khoa: Người Việt ở Mỹ có thể đóng góp gì cho quê hương?" 
|
said this on 30 Jul 2009 4:00:29 PM EST
Muốn thắng Tàu trước tiên phải thắng Việt Cộng, chưa diệt được con kiến mà đòi diệt con voi, đó là điều vô lý. Người Việt quốc gia hơn ba mươi năm rồi chưa thắng được VC là lỗi tại ta, quá chia rẽ. Bị VC chôn sống, bị VC đuổi ra biển mà bây giờ vát mặc về VN du hí mà không thấy mắc cở thật là một cộng đồng tỵ nạn hết thuốc chửa.
Về VN phải có chương trình hành động, phải tuyên truyền chống phá nhà nước, phải làm mọi cách để phá hoại nền kinh tế của VC. Làm thế nào, thì mỗi người phải vận dụng trí thông minh của mình. Nói tóm lại phá hoại VC bằng mọi cách tuỳ theo khả năng của mỗi người. Việc nhỏ làm chưa xong mà đòi đánh Tàu, thật là một chuyện thật buồn cười. VC rất thâm độc, chúng chia rẽ chúng ta, chúng ta phải chia rẽ chúng, tuyên truyền chống phá nhà nước là chính sách tuyệt hảo, về VN mà câm miệng không dám nói thật là đau lòng cho dân tộc. Muốn lật đổ VC, hai tôn giáo phật giáo và công giáo phải đoàn kết một lòng, người nào biết hoàn thành sứ mạng ấy thì sẽ lật đổ VC trong tương lai. Còn cứ tiếp tục khơi đống tro tàn của quá khứ thì VC sẽ còn sống dài dài. |
|
said this on 30 Jul 2009 9:23:49 PM EST
Nghe như những gì GS Lê Xuân Khoa nói thì mục đích chống Tàu của VN là vì sự lo ngại Tàu bành trướng của Mỹ, Nga, Nhật, Ấn Độ, EU?
Vậy thì còn gì là sự độc lập của VN? Phụ thuộc vào Tàu, hay các nước khác đâu có gì khác nhau? Không chỉ có thế, chỉ chạy theo lợi ích của các nước lớn (lo ngại Tàu bành trướng) để đóng vai tay sai của các nước này chặn lại sự ảnh hưởng của Tàu ở VN, có phải là tự mình đi chuốc lấy tai họa, tự mình gây khó cho mình trước một đối thủ mạnh hơn rất nhiều là Tàu. 1000 năm trước Tàu đã không thể đô hộ được VN thì bây giờ cũng thế thôi. Vấn đề chỉ là sự minh bạch bình đẳng trong quan hệ VN và Tàu: Anh đừng cậy anh lớn mà anh ăn hiếp tôi; đã là láng giềng thì phải bình đẳng, sòng phẳng, làm mọi chuyện vì cái lợi chung của nhau. Để có thể đối xử đàng hòang với nhau như vậy, phải dựa trên các nguyên tắc và sự tôn trọng các nguyên tắc đã thỏa thuận; Và trên hết là phải bài trừ mọi tư tưởng thù địch, nghi kỵ, vì lý do lịch sử, đã từng bén rễ trong suy nghĩ trong không ít người ở cả hai nước. Các nước phương Tây văn minh, vì lợi ích chung của xã hội, đã cấm sự phân biệt đối xử con người dựa trên xuất xứ, tôn giáo, hay màu da. Tại sao nhiều người VN vẫn cố tình nhen nhóm các mối thù hận nghi kỵ, không chỉ với một vài người, mà với hàng triệu triệu người TQ? Sao lại không tìm cách hóa giải các mâu thuẫn bất đồng? Nhen nhóm thù hận nghi kỵ vì cái gì? vì lợi ích thực sự của dân tộc, hay để nhấn mạnh vai trò của các cường quốc khác trong việc giải quyết mâu thuẫn VN-TQ? vì ác cảm tuyệt đối với cộng sản? hay đơn giản chỉ để chống đối chính quyền hiện nay? |
|
said this on 01 Aug 2009 11:25:54 PM EST
Nếu theo dõi họat động của GS Lê Xuân Khoa suốt 30 năm qua, có thể thấy ông là người có chủ trương đối thoại với chính quyền Việt Nam. Do đó, ông không phải “có ác cảm tuyệt đối với cộng sản”. Trong một bài viết gần đây của ông cũng liên quan đến vấn đề bauxite, ông có nhắc lại một cuộc đối thọai của ông với một nhà trí thức Trung Quốc, trong đó ông giải thích người Việt không ghét người Tàu, mà chỉ ghét âm mưu bành trướng quá rõ của chính quyền trung Quốc. Như vậy, ông cũng không có ý “tạo mối nghi kỵ với hàng triệu triệu người Trung Quốc”.
Về vấn đề phụ thuộc vào nước Tàu, hay phụ thuộc vào nước khác có gì khác nhau không, chúng ta nên đặt vấn đề một cách nhẹ nhàng hơn là “hợp tác với Tàu và hợp tác với các nước khác (thí dụ như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Asean…) có gì khác nhau không?”. Xin thưa là khác nhau rất nhiều. Về phương diện lý thuyết, hợp tác giữa hai đối tác sẽ bền vững nếu đôi bên cùng có lợi (win-win business). Trong lý thuyết kinh tế có nhắc tới khái niệm “lợi thế so sánh”, một nước nghèo vẫn có thể hợp tác win-win với một nước giàu hơn. Việt Nam có nhân công rẻ, có thị trường, Nhật có vốn, có kỹ thuật công nghệ cao là thí dụ cho một sự hợp tác khả thi. Mỹ-Tàu hợp tác kinh tế trong vài thập niên qua cũng dựa trên nguyên tắc này. Trung Quốc và Việt Nam thì khác. Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm giống nhau hơn là bổ xung, cho nên dễ cạnh tranh trên thương trường hơn là hợp tác. Trung Quốc có nhân công rẻ, cần việc làm, Việt Nam cũng vậy. Việc Trung Quốc khi làm các dự án mới đây ở Việt Nam kéo hàng ngàn công nhân sang nước VIệt là một thí dụ. Về mặt khoa học kỹ thuật, Trung QUốc không phải là một quốc gia mạnh về mặt này, họ cũng chỉ đi trước ta một ít nhờ học kỹ thuật từ các quốc gia Âu Mỹ. Như vậy, hợp tác Trung Quốc xem ra “không hợp lý bằng” với Mỹ, Nhật, Châu Âu. Xét trên thực tế, lập luận trên càng được củng cố. Xin không lấy lịch sử ngàn năm của nước ta ra làm dẫn chứng, vì dễ bị xem là “có thành kiến”. Chỉ xét trong thực tế 50 năm đổ lại đây thôi để xem “quan hệ hữu nghị Việt – Trung” có lợi cho ai. Nếu ai có biết về nhà máy Gang Thép Thái Nguyên, một “viện trợ kỹ thuật” của Trung Quốc cho Việt Nam thì sẽ rõ. Chính những chuyên viên trong Tổng Công Ty Thép Việt Nam cũng phải công nhận, đây chỉ là thứ công nghệ đã lạc hậu, thay vì phải vứt đi thì đem “viện trợ”! Gần đây hơn nữa, việc nhập hàng lọat nhà máy xi măng công nghệ lò đứng của Tổng Công Ty Xi Măng Việt Nam là một thí dụ khác. Sau khi vừa bỏ hàng chục triệu USD để nhập những dây chuyền lạc hậu, ô nhiễm này từ Trung Quốc, Việt Nam lại tiếp tục bỏ thêm hàng trăm triệu USD để thay thế nó bằng công nghệ lò ngang của Tây Phương! Hợp tác kiểu này ai có lợi? Hợp tác với Trung Quốc về phương diện chính trị quân sự thì “cái lợi” còn rõ hơn nhiêù. Trung Quốc làm được gì cho người dân Tây Tạng khi xua quân chiếm nước này từ 50 năm qua? Hai nước được Trung Quốc ủng hộ duy nhất là Miến Điện và Bắc Hàn có đời sống dân chúng của hai quốc gia này ra sao? Trong những mối hợp tác song phương này người dân nước nào được hưởng lợi? Người dân Việt Nam trong tương lai sẽ ra sao nếu nước nhà nằm trong “liên minh” này? Ý đồ bành trướng của chính quyền Trung Quốc (không phải của người dân Trung Quốc) là quá rõ. Trong một thế giới tòan cầu hóa ngày nay, hai chữ “độc lập” là một khái niệm tương đối. Các khối liên minh quân sự, kinh tế ra đời khắp nơi. Nhiều nước xài chữ “độc lập” này hình như để khơi dậy tinh thần dân tộc cho một mục tiêu khác. Nước nào “độc lập” bằng Bắc Hàn, Miến Điện, vì đâu có thấy bóng ngoại bang nào đâu? Mà những nước này làm sao còn tồn tại được nếu không có sự đỡ đầu của Trung Quốc? Và nước nào kém “độc lập” bằng Tây Đức, Nhật, và Nam Hàn, khi mỗi quốc gia có chừng vài chục ngàn binh lính Mỹ đồn trú trong lãnh thổ của mình? Các quốc gia này có hèn yếu không? Dân của các quốc gia này có sống trong sự nô lệ, nghèo đói không? Trong sự “phụ thuộc” này, ai là người có lợi? Chỉ có dân Mỹ, hay cả dân Đức, Nhật, Nam Hàn được hưởng lợi? Khi ta dùng chữ “phụ thuộc”, hay “liên minh” cho những liên kết trên thế giới như vậy, chẳng qua chỉ là sự chơi chữ . Sau cùng, ý kiến của mỗi cá nhân như tôi cũng chẳng đáng kể gì. Hãy tạo điều kiện cho chính 80 triệu người Việt được có ý kiến đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước. Hội Nghị Diên Hồng là tinh thần dân chủ như vậy đó. |
|
said this on 07 Aug 2009 1:50:46 PM EST
Hao Nhien's points of view are excellent and well expressed. I concurred 100% with what he wrote.
|


Author/Admin)