2/ Dũng cảm: Là quân nhân tác chiến, Tướng Kỳ luôn luôn đi đầu trong các cuộc hành quân nguy hiểm. Không những thế, ông dám vì lợi ích Đất Nước mà nói lên điều công chính. Trong cuộc họp đơn vị trưởng, ông nói thẳng với ông Đại tá Tư Lệnh KQ: “Tôi không chấp nhận đưa đảng phái vào Quân đội, vì như thế những phần tử bất tài nhưng khéo nịnh hót chạy theo Đảng để thăng quan tiến chức thì Quân đội sẽ bất mãn, không còn tinh thần chiến đấu chống lại kẻ thù”. Kinh nghiệm bản thân cho tôi biết, có rất nhiều quân nhân rất can đảm ngoài chiến trường, nhưng lại rất rụt rè, không dám chống lại điều sai trái của cấp trên, vì sợ bị thiệt thòi cho bản thân. Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sự phản đối của Tướng Kỳ dễ bị đi tù như chơi. May mà ông Cố vấn Ngô Đình Nhu hiểu bản chất Tướng Kỳ là phi chính tri, một cấp chỉ huy giỏi, nên bỏ qua nội vụ. Sau Cách mạng 1 Tháng 11 năm 1963, tu sĩ Phật giáo tranh đấu rất hống hách. Bất cứ chính quyền nào lập lên đều bị họ kết tội “Chính phủ Diệm, không Diệm”. Các Tướng lãnh ưa làm chính trị, các chính khách xôi thịt đều o bế các Thầy. Riêng Tướng Kỳ khi lên làm Thủ tướng, ông ra lệnh trả tự do cho các đảng viên Cần Lao, trả lại tài sản của Cần Lao bị các chính phủ trước tịch thu. Các Thầy chùa tranh đấu gây rối loạn, ông mời vào nhà ông trong căn cứ Tân Sơn Nhất, nhìn thằng vào mặt các Thầy, ông nói: “Về chính trị tôi không bằng Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhưng tôi can đảm hơn ông Diệm. Các Thầy đừng tưởng giết được ông Diệm là có thể giết được tôi. Trước khi tôi chết, tôi sẽ đem từng Thầy ra tôi bắn. Các Thầy nghe rõ chưa?”. Nghe Tướng Kỳ nghiêm sắc mặt nói như thế, Thượng tọa Thích Tâm Châu nhẹ nhàng trấn an: “Thiếu tướng đừng nóng nảy. Chúng ta là người đồng đạo cả mà!”. Ông đáp: “Tôi là con Phật, các Thầy chỉ là đồ đệ Phật. Tôi đã giúp đỡ các Thầy tiền để xây chùa Vĩnh Nghiêm, không phải vì tôi sợ các Thầy. Tôi muốn các Thầy trở về chùa, làm công tác Phật sự, tu hành chứ không được dính vào chính trị”. Kề từ đó, các Thầy không dám gây rối, bởi vì họ biết ông Kỳ nói là ông Kỳ làm.
3/ Bảo vệ chủ quyền Quốc Gia: Khi sang dự hội nghị Thượng đỉnh với Lyndon Jonhson tại Honolulu, đọc một bài diễn văn nói về chính sách quốc gia, Tướng Kỳ được Tổng thống Hoa Kỳ khen nói tiếng Anh thạo như một chú Mỹ con. Nếu là nhà chính trị khéo ngoại giao, Tướng Kỳ sẽ trả lời: “Cám ơn Ngài đã quá khen”. Nhưng không, Tướng Kỳ đã nhìn thẳng vào Tổng thống Johnson mà đáp lại rằng: “tôi sẽ không bao giờ là đứa Mỹ con”. Tổng thống Johnson kể từ phút đó tỏ ra rất trọng vọng Tướng Kỳ. Năm 1966, khi mang quân ra dẹp loạn ở Miền Trung, viên Cố vấn Quân Đoàn I là Trung tướng Lewis Walt, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đòi gặp để biết Tướng Kỳ dự định làm gì. Ông từ chối vì bận hành quân, không tiếp. Tướng Walt ra lệnh cho phi cơ F-4C lên uy hiếp phi cơ của ta, Tướng Kỳ ra lệnh cho pháo binh Việt Nam chĩa đại bác vào căn cứ Chu Lai, hễ thấy chiếc phi cơ F-4C nào di chuyển trên phi đạo là bắn ngay. Tướng Lewis Walt phải nhượng bộ. Khi dẹp loạn xong, Tướng Walt xin gặp, Tướng Kỳ chấp thuận. Tướng Walt bước vào phòng, đứng thế nghiêm, đưa tay lên trán chào. Tướng Kỳ vẫn chăm chú đọc xấp hồ sơ trên bàn một lúc lâu mới ngẩng mặt lên hất hàm hỏi: “Trung tướng muốn gặp tôi có chuyện gì?” Tướng Walt đáp: “Vùng I Chiến thuật là vùng trách nhiệm của tôi. Tôi có quyền biết các hoạt động quân sự trong vùng”. Tướng Kỳ hỏi: “Trung tướng có bao nhiêu năm quân vụ? Trung tướng có hiểu hệ thống quân giai là gì không?” Tướng Walt ngạc nhiên: “Tôi có 23 năm quân vụ, tại sao ông Thủ tướng hỏi tôi câu đó?”. Tướng Kỳ chậm rãi giải thích: “Có bao giờ cấp chỉ huy phải báo cáo cho thuộc cấp biết việc gì mình sắp làm không? Tôi là Thủ tướng của VNCH, ông là Cố vấn Vùng I. Ông có biết tôi chỉ cần nhấc điện thoại gọi Tổng thống Johnson để nói tôi không hài lòng về sự hiện diện của ông ở đây thì ông sẽ phải cuốn gói về nước trong vòng 24 giờ không?” Trung tướng Walt đáp “hiểu”, rồi đưa tay lên chào, quay 180 độ bước ra khỏi phòng hành quân. Đại tá Dương Thiệu Hùng, Trung tá Lưu Kim Cương và các sĩ quan hiện diện thấy chủ Tướng của mình ứng xử với ông Tướng đồng minh như thế, thì hãnh diện lắm. Năm sau, Tướng Walt mãn nhiệm kỳ, Tướng Kỳ bay ra Đà Nẵng gắn huy chương cho Tướng Walt. Ba năm sau gặp nhau lại tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn trong buổi dạ tiệc, Tướng Walt lúc bấy giờ trở thành Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đến bắt tay Tướng Kỳ và nói lớn với tất cả quan khách: “Tôi rất cám ơn Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ vì ông đã dạy cho tôi một bài học quý giá về sự lãnh đạo và chỉ huy”. Người Mỹ rất biết đánh giá lãnh đạo Miền Nam. Tuy là Phó Tổng thống nhưng Nixon đón tiếp Tướng Kỳ tại Tòa Bạch Ốc; còn Tướng Thiệu là Tổng thống thì Nixon đón ở San Clemente, tiểu bang California mà thôi. Phó Tổng thống là chức vụ ngồi chơi xơi nước, chỉ lo phần nghi lễ, nhưng Đại sứ Bunker thường xuyên vào căn cứ Tân Sơn Nhất để nhờ Tướng Kỳ thuyết phục Tổng thống Thiệu làm một số dự án mà ông Thiệu đã hứa nhưng không bao giờ thực hiện. Khi phái đoàn thương thuyết VNCH ở Paris gặp trở ngại với ông Đại sứ Averell Harriman, Tổng thống Thiệu yêu cầu Tướng Kỳ sang giải quyết. Đại sứ Harriman là một viên chức ngoại giao lão thành của Hoa Kỳ, từng đại diện Tổng thống Roosevelt tham dự hội nghị Yalta với Staline, Churchill, nên đối với Việt Nam ông ta thường tỏ ra cao ngạo, hách dịch. Mỗi khi phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa phát biểu, ông ta bỏ máy nghe ra khỏi tai. Biết tin Tướng Kỳ vừa đến Paris, ông đòi gặp Tướng Kỳ ngay, nhưng Tướng Kỳ từ chối, viện cớ đi xa hãy còn mệt. Thực ra, đó là chủ tâm của Tướng Kỳ. Hôm sau, Harriman đến tận lâu đài Tướng Kỳ đang cư ngụ để thăm xã giao và thảo luận một số vấn đề. Hai người ngồi vào bàn an vị, người hầu cận đặt hai tách trà xuống mặt bàn, vừa bước ra khỏi, Tướng Kỳ bắt đầu: “Thưa ông Đại sứ, tôi nghe nhân viên của tôi phàn nàn ông Đại sứ có xu hướng bênh vực quan điểm của kẻ thù chúng tôi. Tôi không tin điều đó, nay trước mặt tôi, ông Đại sứ hãy xác nhận cho tôi biết ông đứng ở phía nào. Nếu ông Đại sứ đứng về phía bên kia, xin mời ông uống hết tách nước trà này, rồi ra về. Chúng ta không có gì để nói với nhau”. Nghe xong câu hỏi của Tướng Kỳ, Đại sứ Averell Harriman đứng lên bắt tay Tướng Kỳ và nói: “General, you deserve your reputation”. (Thưa Tướng quân, Ngài xứng đáng với uy danh của Ngài). Một lần nữa, Tướng Kỳ đã làm cho một nhà ngoại giao lão thành của Hoa Kỳ phải kính nể.
4/ Lòng khoan dung độ lượng: Khi Nội các dân sự Phan khắc Sửu – Phan Huy Quát trao quyền lại cho Quân Đội, trong cuộc họp của Hội đồng Quân Lực nhằm chọn người ra làm Thủ tướng, Tướng Kỳ đề nghị Trung tướng Nguyễn văn Thiệu, vì ông Thiệu đang giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc Phòng trong Nội các dân sự, vừa có kinh nghiệm, vừa cao niên. Ông Thiệu là một người khôn ngoan, biết tình hình Đất Nước quá khó khăn không thể đảm đương nổi, nên nhất mực từ chối dù được nhiều người yêu cầu. Cuối cùng ông Thiệu phát cáu, nói: “Nếu ai còn đề nghị tôi nữa thì tôi sẽ bỏ phòng họp ra về, để anh em tự lo liệu với nhau”. Kế đó, Tướng Kỳ đề nghị Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, nhưng cũng giống như Tướng Thiệu, Tướng Thi nhất mực từ chối. Sau giờ giải lao vào họp lại, Tướng Thiệu tuyên bố: “Buổi họp hôm nay quyết định sự sống còn của Quốc Gia, chúng ta không thể lẩn tránh trách nhiệm trước lịch sử, tôi vừa mới bàn với Tướng Nguyễn Chánh Thi và hai chúng tôi đồng ý đề nghị Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ chấp nhận đứng ra thành lập chính phủ”. Tướng Thiệu vừa dứt lời, toàn thể Đại hội vỗ tay hoan hô. Lời nói nghiêm trọng của Tướng Thiệu đã khiến cho Tướng Kỳ không thể khước từ. Ông nói: “Là quân nhân, tôi sẵn sàng tuân lệnh anh em để nhận lãnh trách nhiệm. Kỷ luật là sức mạnh Quân Đội, tôi yêu cầu tất cả anh em hãy hy sinh, đoàn kết để mang lại ổn định và dồn nỗ lực đánh bại kẻ thù”. Mọi người rất cảm động trước những lời nói tâm huyết của Tướng Kỳ. Tuy là một sĩ quan trẻ, mới 35 tuổi, không có kinh nghiệm chính trị, nhưng Tướng Kỳ đã thành lập một chính phủ – Nội các Chiến tranh – được đồng minh đánh giá là một chính phủ quân bình Trung Nam Bắc gồm quân nhân và dân sự đều là những chuyên viên trẻ, có lý tưởng. Quả nhiên, Tướng Kỳ đã đem lại sự ổn định. Từ đó không còn có những cuộc đảo chánh, chỉnh lý như trước nữa. Thấy Tướng Kỳ bình định tình hình không mấy khó khăn, có lẽ Tướng Nguyễn Chính Thi cảm thấy hối tiếc vì đã từ chối lời đề nghị của Tướng Kỳ đứng ra thành lập chính phủ, nên Tướng Thi cấu kết với Thầy Chùa Thích Trí Quang manh tâm gây áp lực Chính quyền Trung Ương. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ gửi văn thư yêu cầu Tướng Thi chú tâm lo việc bình định, an ninh lãnh thổ, không nên dính dáng vào chính trị. Tướng Nguyễn Chánh Thi tức giận, dùng bút chì mỡ mầu đỏ phê hai chữ “Con C…” thật lớn trên tờ văn thư, rồi gửi trả về Trung Ương. Tuần sau, Tướng Kỳ hướng dẫn phái đoàn Quốc phòng ra Trung thanh tra. Lẽ ra Tư Lệnh Vùng hay Tỉnh trưởng phải đích thân thuyết trình, Tướng Thi dùng ông Phó Tỉnh trưởng Hành chánh thuyết trình, lại có luận điệu chê bai chính quyền Trung Ương, nhưng Tướng Kỳ vẫn bình thản. Khi tiễn phái đoàn về Sài Gòn, phi cơ vừa lăn bánh, Tướng Thi và ông Phó Tỉnh trưởng đưa hai tay lên cao, đập vào nhau như kiểu Mỹ “Hi Five” để tỏ vẻ hài lòng vì đã “chơi” ông Thủ tướng một quả đau. Ngồi trong lòng phi cơ nhìn xuyên qua cửa kính, Tướng Kỳ nom thấy hành động đắc chí của ông Tư Lệnh Vùng I, liền ra lệnh cho Trung tướng Nguyễn Hữu Có – Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng – đánh điện về Sài Gòn bãi chức Tướng Thi. Phong trào tranh đấu Phật Giáo nổi lên, áp lực Chính quyền Trung Ương phải trả lại chức Tư Lệnh Vùng I cho Tướng Nguyễn Chánh Thi. Ba ông Tướng Bộ Binh gồm Nguyễn văn Chuân, Huỳnh văn Cao, Tôn Thất Đính lần lượt thay Tướng Thi làm Tư Lệnh Quân đoàn I, nhưng cả ba ông đều không chịu nổi áp lực của Phật Giáo tranh đấu. Cuối cùng, Tướng Kỳ gửi Đại tá Nguyễn Ngọc Loan và Tướng Cao văn Viên bay trước ra Đà Nẵng và hôm sau Tướng Kỳ ra tận nơi để dẹp loạn. Xong xuôi, Tướng Thi cùng một số quân nhân theo phe tranh đấu bị bắt dẫn độ về Sài Gòn. Nếu gặp phải ông Thủ tướng khác, Tướng Thi có thể bị tội tử hình chiếu theo quân luật vì tội phản nghịch. Các quân nhân tòng phạm cũng được tha, cho giải ngũ. Quân nhân đào ngũ trong thời chiến còn bị tử hình, huống chi là phản nghịch có vũ trang. Tướng Nguyễn Chánh Thi được cho đi Hoa Kỳ sống lưu vong. Trước khi rời Việt Nam, Tướng Thi nói: “Tôi sang Mỹ để chữa bệnh ... thối mũi!”. Người ta chê Tướng Kỳ không chính trị. Tướng Kỳ không sử dụng tiểu xảo chính trị bá đạo thì đúng. Tôi thuật chuyện này để độc giả đánh giá Tướng Kỳ cái mưu lược của ông ta. Khi Tướng Loan bắt Trí Quang từ Huế về Sài Gòn. Ông sư này ra trước ông viên Thống Nhất tuyệt thực. Tướng Kỳ gọi bác sĩ Nguyễn Duy Tài, chủ bệnh viện Duy Tân vào Tân Sơn Nhất ra lệnh: “Tôi yều cầu bác sĩ chăm lo sức khỏe cho ông Trí Quang, bằng cách nào đó tôi không cần biết, nhưng Trí Quang phải được lên cân, da dẻ phải hồng hào. Nếu bác sĩ không làm được chuyên đó, tôi sẽ đem bác sĩ ra bắn”. Bác sĩ Tài vâng vâng, dạ dạ lo sức khỏe cho Trí Quang. Sau hai tháng tuyệt thực, Trí Quang vẫn khỏe, da dẻ hồng hao hơn trước. Các đệ tự của Thầy không tin Thầy tuyệt thực thật sự. Thế là Thầy lẵng lặng trở về chùa. Từ đó Trí Quang không diễn lại trò tuyệt thực nữa. Tướng Kỳ cũng không bỏ tù Trí Quang.
5/ Biệt tài thu phục nhân tâm: Khi thành lập chính phủ, Tướng Kỳ vẫn giữ Bác sĩ Trần văn Đỗ làm Ngoại trưởng từ chính phủ Phan Huy Quát. Cụ Đỗ là nhà trí thức yêu nước đáng kính trọng, nhưng theo Tướng Kỳ thì Cụ không thích hợp là nhà ngoại giao của giai đoạn này. Tướng Kỳ hẹn với Cụ bao giờ tìm được người thích ứng thì sẽ để Cụ về nghỉ ngơi. Tạm thời, Tướng Kỳ đảm nhiệm chính sách ngoại giao vì ông coi mặt trận ngoại giao cũng quan trọng không kém mặt trận quân sự. Vì thế, dù tình hình quốc nội chưa hoàn toàn ổn định, Tướng Kỳ là vị Thủ tướng công du ngoại quốc nhiều lần nhất. Nào là Tân Tây Lan, Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, và Mã Lai Á … nhưng đáng kể nhất là Úc Châu. Lãnh tụ đối lập Úc là Arthur Caldwell, một ông già trạc 70 tuổi, cực lực chống người gốc Châu Á đã gọi Tướng Kỳ bằng những thậm xưng như: một tên đồ tể, một kẻ sát nhi (baby killer), một nhà độc tài. Thủ tướng Holt đón Tướng Kỳ ở phi trường, trên đường đến chỗ họp báo, ông Holt cho Tướng Kỳ biết những cố vấn thân cận và ngay cả bà vợ ông ta cũng chống sự hiện diện của Tướng Kỳ. Người ký giả đầu tiên đặt câu hỏi: “Ông Caldwell gọi ông bằng những danh từ nhục mạ, phản ứng của ông ra sao?”. Tướng Kỳ đáp: “Này, các ông cũng biết tôi là một người Á Châu, và một câu châm ngôn xưa của Á châu có nói: ‘Nếu ta kính trọng người già, ta sẽ sống lâu.’ Đối với ông Calwell, tôi coi ông như ông bố tôi. Bất cứ điều gì ông nói về tôi, không sao hết, tôi vẫn kính trọng ông bởi vì ông ta là… một ông già.”. Mọi người đều cười. Ngày hôm sau một tờ báo nổi tiếng tại Úc cho in ngay trên trang nhất một bức hí họa, Tướng Kỳ với khuôn mặt trẻ thơ, tươi cười đẩy xe lăn cho ông già Calwell đang càu nhàu và nhăn nhó. Hàng ngày, Tướng Kỳ họp báo và để báo chí tự do phỏng vấn. Qua những câu trả lời của Tướng Kỳ rất lưu loát và thành thật, giới truyền thông Úc tỏ ra thấu hỉểu vì sao Miền Nam phải chiến đấu. Có lần một ký giả lớn tiếng: “Ông không đại diện nhân dân Miền Nam, vì ba phần tư đất đai đã nằm trong tay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”. Tướng Kỳ mời ký giả đó theo ông về Việt Nam và cung cấp phương tiện cho ông ta đi khắp các tỉnh Miền Nam. Sau hai tháng, người ký giả đó trở về Úc, viết những bài đăng trên tờ báo cộng sản Úc lên án Đảng Cộng sản Úc đánh lừa dư luận, vì Miền Nam thật sự có tự do và an ninh. Mỗi lần Tướng Kỳ di chuyển, cả trăm ngàn dân Úc biểu tình phản đối chiến tranh. Nơi nào ông cũng bước ra khỏi xe, tới nói chuyện thẳng với đoàn biểu tình và giải thích cho họ hiểu chính nghĩa của nhân dân Miền Nam là tự vệ. Ngày rời Úc, cũng tờ báo mấy hôm trước lại cho in lên trang nhất một bức hí họa khác. Lần này Tướng Kỳ đứng ở giữa võ đài quyền Anh. Caldwell bị đo ván, nằm ngửa dưới chân, trong khi trọng tài, có tên là “Công Luận”, cầm tay Tướng Kỳ giơ lên cao, biểu dương cho sự chiến thắng. Năm sau, ông Caldwell bị Đảng đối lập đẩy ra khỏi vai trò lãnh đạo và sự nghiệp chính trị của Caldwell chấm dứt từ đó. Thủ tướng Holt rất hài lòng nói với Tướng Kỳ khi chia tay: “Ngài quả là nhà Ngoại giao có biệt tài hùng biện. Vợ chồng tôi rất hãnh diện vì sự hiện diện của Ngài trên Đất Nước chúng tôi”. Năm 1971, trong chức vụ Phó Tổng thống được Nixon đón tiếp tại Tòa Bạch Ốc. Cũng cả trăm ngàn thanh niên sinh viên biểu tình đả đảo, Tướng Kỳ đòi ra gặp họ, nhưng nhân viên mật vụ bảo vệ yếu nhân không chấp thuận. Ông đề nghị mời chừng một trăm đại diện vào phòng khách để ông tiếp. Mở đầu, Tướng Kỳ nói: “Nếu tôi là thanh niên Hoa Kỳ, tôi cũng chống chiến tranh, bởi vì không lý do gì các bạn phải đến một nơi xa xôi để hy sinh mạng sống. Nhưng các bạn đừng quên rằng sự hy sinh của dân tộc tôi cũng là hy sinh cho sự tự do của các bạn, Bởi vì nếu Đất Nước tôi rơi vào tay cộng sản thì các quốc gia lân bang sẽ lần lượt rơi vào tay cộng sản. Các bạn nghĩ thế nào khi toàn quả địa cầu này bị nhuộm đỏ? Sau 45 phút trò chuyện, Tướng Kỳ xin lỗi phải đi vì sắp tới giờ hẹn với Tổng thống Nixon. Toàn thể cử tọa đã nhiệt liệt vỗ tay tán thưởng. Các nhân viên mật vụ đều nói: Tổng thống Nixon cần có một người giỏi thuyết phục quần chúng như Thiếu Tường Kỳ.
6/ Trọng chữ Tín: Vừa lo công tác ngoại giao, vừa dẹp loạn, Tướng Kỳ tổ chức thành công Quốc Hội Lập Hiến để khai sinh nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Năm 1967, tổ chức bầu cử Tổng thống. Ban đầu Tướng Thiệu và Tướng Kỳ đứng hai liên danh riêng rẽ. Tướng Kỳ chọn kỹ sư Nguyễn văn Lộc làm Phó; Tướng Thiệu chọn ông Trình Quốc Khánh làm Phó. Quân Đội sợ rằng hai ông Tướng đứng hai liên danh riêng rẽ thì sẽ thua liên danh Trương đình Dzu tả khuynh được Phật Giáo và bọn phản chiến ủng hộ. Không thuyết phục được Tướng Thiệu giữ chức Tổng Tham mưu trưởng, còn để Tướng Kỳ một mình tranh chức Tổng thống, Hội đồng Quân Lực phải triệu tập phiên họp khoáng đại để đồng thanh quyết nghị loại Tướng Thiệu ra khỏi Quân Đội để mặc ông Thiệu ứng cử trong tư cách dân sự, Tướng Cao văn Viên sẽ tạm thời giữ chức Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Trong lúc Đại Hội đang diễn tiến, Tướng Thiệu và Tướng Kỳ ngồi ngoài chờ quyết định của Đại hội. Tướng Kỳ bình thản hút thuốc lá vì đã biết trước kết quả; còn Tướng Thiệu tỏ ra lo lắng, mồ hôi lấm tấm trên trán. Sau gần một giờ đồng hồ, cửa phòng họp mở ra. Tướng Thiệu dường như đoán biết số phận của mình, người ông bỗng nhiên rũ xuống như cái cây sắp đổ. Tướng Kỳ chợt cảm thấy thương tâm, đưa tay xua và nói: “Thôi, tôi trở về Không Quân, nhường cho ông Thiệu đại diện Quân Đội ra tranh cử, các anh khỏi cần đọc quyết định”. Lúc bấy giờ gương mặt Tướng Thiệu lộ vẻ hân hoan chưa từng thấy, giống như được hồi sinh. Sau câu tuyên bố của Tướng Kỳ, Tướng Hoàng Xuân Lãm vừa khóc, vừa nói: “Tướng Kỳ vì tình đoàn kết Quân Đội đã hy sinh thì xin hy sinh cho trót. Xin Tướng Kỳ hãy đứng Phó cho Tướng Thiệu thì may ra mới thắng liên danh dân sự. Thiếu tướng Trần văn Minh – Tư Lệnh Phó KQ lúc bấy giờ – vội vàng yêu cầu Đại Hội vỗ tay hoan nghênh ý kiến của Tướng Hoàng Xuân Lãm. Thế là Tướng Kỳ trở thành Phó Tổng thống cho Tướng Thiệu với kết quả cuộc bầu cử đạt chưa tới 40 phần trăm số phiếu cử tri. Khi nghe tin Tướng Kỳ nhường Tướng Thiệu ra tranh cử Tổng thống, William Colby – Trưởng tình báo CIA tại Việt Nam – lái xe vào Tân Sơn Nhất trách Tướng Kỳ tại sao nhường cho ông Thiệu, trong khi Hoa Kỳ đã có kế hoạch sửa soạn ủng hộ Tướng Kỳ. Colby đề nghị Tướng Kỳ thay đổi quyết định. Không muốn ngoại bang xen vào nội tình Việt Nam, Tướng Kỳ cương quyết không thay đổi quyết định. Sau đó, các dân biểu Quốc Hội Lập Hiến gồm ông Phan Khắc Sửu, Lê Phước Sang và một số dân biểu vào Tân Sơn Nhất cố thuyết phục Tướng Kỳ thay đổi quyết định, vì họ nhận thấy Tướng Thiệu không có khả năng lãnh đạo như Tướng Kỳ. Họ sẽ bỏ phiếu không phê chuẩn kết quả bầu cử và tổ chức bầu cử lại. Tướng Kỳ sẽ đứng liên danh riêng. Tướng Kỳ cũng nhất định không chịu, ông ra lệnh Tướng Loan vào ngồi chuồng cu Quốc Hội, hễ dân biểu nào bỏ phiếu chống thì bắt nhốt. Lúc bấy giờ báo chí Sài Gòn chế diễu bằng hàng chữ: “Cảnh sát đi vào tòa nhà Quốc Hội, công lý bỏ đi ra”. Dư luận quần chúng lúc bấy giờ đồn đãi rằng Tướng Kỳ phải nhường Tướng Thiệu đứng đầu liên danh vì Tướng Thiệu được lòng Đại sứ Bunker hơn. Sự thật không phải như vậy. Tôi được biết sự thật như vừa kể trên là do Tướng Nguyễn Ngọc Loan thuật lại, vì Tướng Loan và một số Tướng lãnh khác rất lấy làm bất mãn về quyết định của Tướng Kỳ nhường Tướng Thiệu. Khi đắc cử rồi, Tướng Thiệu phản lại lời cam kết, hủy bỏ Quân Ủy hội (một hình thức như Bộ Chính Trị của cộng sản) do Tướng Kỳ làm Chủ tịch gồm 4 Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn và các Tướng Tư Lệnh Quân Binh Chủng. Chẳng những thế, Tướng Thiệu còn xúc tiến thành lập Đảng Dân Chủ, mặc dầu sau Cách Mạng 1963 Tướng Thiệu và Tướng Khiêm đã tuyên thệ vào Đảng Đại Việt do lãnh tụ Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký chấp nhận lời thề. Nói tóm lại, Tướng Thiệu chỉ lo bảo vệ chiếc ghế của mình, cái thế đoàn kết Quân Đội do Tướng Kỳ tạo dựng không còn, vua tham nhũng là Tướng Đặng văn Quang được Tướng Thiệu cử làm Cố vấn An ninh Quốc gia để điều hành các việc làm ăn phi pháp. Biến cố Tết Mậu Thân, Tướng Thiệu kẹt ở quê vợ tại Mỹ Tho, một mình Tướng Kỳ vừa lên truyền hình trấn an đồng bào vừa điều động quân sĩ bảo vệ thủ đô và các tình. Các sĩ quan thân cận của Tướng Kỳ như Trung tá Phó Quốc Chụ, Trung tá Lê Ngọc Trụ đòi cho Tướng Thiệu “đi nghỉ mát dài hạn” để đưa Tướng Kỳ lên thay, nhưng Tướng Kỳ không muốn dùng đường lối bá đạo. Năm 1967 được Tướng Kỳ nhường cho ra tranh cử Tổng thống, năm 1971 Tướng Thiệu trả ơn bằng cách làm một đạo luật buộc ứng cử viên Tổng thống phải có hàng trăm chữ ký giới thiệu của Tỉnh trưởng hay đại diện dân cử. Theo tiết lộ của ông Nguyễn văn Ngân với báo Ngày Nay ở Houston thì mục đích của đạo luật này nhằm loại Tướng Kỳ. Mặc dầu có đủ chữ ký giới thiệu, Tướng Kỳ thấy Tướng Thiệu trở mặt khi chọn Trần văn Hương đứng chung liên danh và lại dở trò chơi chính trị bẩn thỉu, ông không ra tranh cử, đồng thời liên danh của Tướng Dương văn Minh cũng rút tên, để cho ông Thiệu độc cử. Sự “Độc Cử” của Tổng thống Thiệu làm mất Chính Nghĩa của nền Dân Chủ ở Miền Nam kể từ đó. Tình hình Đất Nước càng ngày càng nguy ngập, năm 1974 Tướng Thiệu còn mưu toan dùng các Nghị sĩ, Dân biểu gia nô thay đổi Hiến Pháp để ông có thể ra tranh cử nhiệm kỳ III. Lên truyền hình cam kết trở về Quân Đội chiến đấu bên cạnh anh em đồng đội, hôm sau Tướng Thiệu cùng Tướng Khiêm lặng lẽ lên tàu bay chuồn sang Đài Loan. Dù William Colby hay các dân biểu Lập Hiến cố thuyết phục, Tướng Kỳ vẫn nhường Tướng Thiệu ra tranh chức Tổng thống là vì trọng Chữ Tín. Năm 2004 về nước, Tướng Kỳ thuyết phục nhà cầm quyền Việt Nam nên có mối quan hệ bang giao tốt đẹp và thành thật với Hoa Kỳ để quân bình áp lực từ Phương Bắc, Tướng Kỳ đã cam kết với các nhà lãnh đạo Việt Nam, nếu họ nghe lời khuyên của ông thì khi các lãnh đạo Việt Nam công du tìm hiểu Hoa Kỳ, ông sẽ chào đón họ ở Hoa Kỳ để yểm trợ tinh thần. Dẫu biết trước rằng đồng hương hải ngoại chống đối, Tướng Kỳ vẫn thực thi lời hứa hẹn để cho các nhà lãnh đạo Việt Nam hiểu rằng ông là con người nói và làm đi đôi. Tướng Kỳ không hề tuyên bố ông đại diện Cộng Đồng hải ngoại để đón tiếp lãnh đạo Việt Nam. Tôi đã xem đi xem lại cái DVD của buổi tiếp tân chào đón Nguyễn Minh Triết ở California rất nhiều lần.
7/ Một lòng vì Đất Nước: Bị Tướng Thiệu loại ra ngoài vòng chính trị, Tướng Kỳ vay Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam 25 triệu đồng, ra Khánh Dương khai khẩn đất hoang lập đồn điền. Ngày 9 tháng 3, năm 1975 Đại tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh trưởng Nha Trang, dùng trực thăng bay đến Khánh Dương cầu cứu Tướng Kỳ giúp ông kêu viện binh để phòng ngự thành phố. Mặc dầu không còn giữ trọng trách gì với Đất Nước, khi nghe tin Ban Mê Thuột mất, Tướng Kỳ bay về Sài Gòn gặp Tướng Cao văn Viên để yêu cầu Tướng Thiệu cấp phát cho ông một binh đoàn thiết giáp đi giải cứu Ban Mê Thuột. Tướng Thiệu là người đa nghi, sợ Tướng Kỳ âm mưu đảo chánh, nên từ chối. Đáng lý chẳng còn giữ trọng trách gì, Tướng Kỳ nên chuồn ra ngoại quốc với vợ con, tìm một cuộc sống an nhàn sau khi đã phụng sự Đất Nước quá đủ. Nhưng Tướng Kỳ vẫn nuôi hy vọng “còn nước còn tát”. Ông lên trường Chỉ huy Tham mưu Long Bình kêu gọi anh em trở về đơn vị tác chiến. Các sĩ quan cấp Trung đoàn trưởng quá phấn khởi trước lời hô hào của ông, nhưng tình hình càng ngày càng trở nên tồi tệ. Sáng ngày 29 Tháng 4, ông còn bay lên vùng để chỉ điểm cho phi cơ Khu trục oanh kích các dàn hỏa tiễn bắn vào căn cứ Tân Sơn Nhất, sau đó bay sang Tổng Tham mưu, cố gắng liên lạc với Tướng Nguyễn Khoa Nam bằng đường điện thoại nóng, nhưng không còn ai trả lời. Nếu lúc bấy giờ có tiếng của Tướng Nam trả lời, ông sẽ bay xuống Vùng IV để bảo vệ cứ điểm cuối cùng. Nhưng nhờ sự hết lòng với Đất Nước cho đến phút cuối, Tướng Kỳ đã cứu được Trung tướng Ngô Quang Trưởng đang bị Tướng Thiệu giam lỏng ở đó vì tội bỏ Vùng I. Đồng thời ông cũng ra lệnh cho phi công bay trở lại Bộ Tư Lệnh Không Quân để đón Đại tá Vũ văn Ước đưa ra Hạm Đội 7. Thiết tha với tình đoàn kết Quân Đội, coi thường công danh nên Tướng Kỳ mới nhường cho Tướng Thiệu ra tranh cử Tổng thống. Nếu Tướng Kỳ là Tổng thống, là Tổng Tư Lệnh Quân Đội, chẳng bao giờ ông bỏ binh lính để chạy thoát thân, thì có thể ông đã bỏ mạng vào Tháng Tư năm 1975. Cho nên, ông thường tâm tình với anh em quanh ông: “Định mệnh xui tôi nhường cho ông Thiệu là Trời Phật muốn cho tôi sống để làm nghĩa vụ với Đất Nước. Vậy tôi còn ở trên đời ngày nào, tôi còn hiến mình cho Đất Nước ngày đo”. Đối với Tướng Kỳ, công danh là phù vân. Nhà báo Đỗ Văn của Đài BBC có lời nhận xét về Tướng Kỳ rất chính xác: “Ông Kỳ coi cái chức Tổng Thống không bằng bát phở ngon”. Có lẽ nuôi chí nguyện như vậy, Tướng Kỳ cứ dấn thân vì Đất Nước mà ông cho rằng đó là việc làm đúng. Thành hay bại là do Thiên Cơ. Nhưng tối thiểu ở Miền Nam, người Quốc Gia có một vị lãnh đạo nhìn thấy trước nguy cơ Giao Chỉ Quận đã liều thân về trong nước để cảnh báo trực tiếp với những người có trách nhiệm lãnh đạo quốc gia.
***
Lịch sử là việc đã qua. Không ai có khả năng thay đổi lịch sử. Nhưng nếu hiểu hoàn cảnh lịch sử đã đưa Đất Nước ta đến tình trạng ngày hôm nay, thì ta phải có nghĩa vụ tháo gỡ những lỗi lầm của các bậc tiền nhân. Nếu chúng ta có đấng Minh Quân như Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bản, biết nghe lời điều trần của Nguyễn Trường Tộ để canh tân xứ sở thì nước ta không bị rơi vào sự đô hộ của người Pháp. Nếu nước ta bị Thực dân Anh đô hộ thì nước ta không bị rơi vào tai họa cộng sản, vì thực tế cho ta thấy không một thuộc địa nào của Anh bị cộng sản hóa. Nếu những nhà lãnh đạo cộng sản có đủ trí tuệ, có đủ lòng yêu nước và dũng cảm thì phải từ bỏ cái ý thực hệ cộng sản khi thấy đa số nhân loại đã ném chủ nghĩa tàn ác ấy vào thùng rác. Bất cứ người dân Việt nào đều mong muốn lật đổ bọn cầm quyền này. Thậm chí cộng sản Nguyễn Minh Triết, cộng sản Nguyễn Tấn Dũng nếu là người dân thường bị sống dưới ách cai trị của bộ máy bạo quyền này cũng muốn lật đổ, bởi vì họ là những người sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa tự do hơn hẳn Miền Bắc mà họ cũng đã nhúng tay vào việc lật đổ Việt Nam Cộng Hòa. Nghĩa là chỉ có kẻ có chức, có quyền là muốn duy trì chế độ này mà thôi.
Chủ nghĩa cộng sản lấy hận thù giai cấp làm động lực đấu tranh, đã gây nên sự phân hóa khủng khiếp trong lòng dân tộc. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy khi nào nội bộ dân tộc chia rẽ thì ngoại bang lợi dụng để xâm lăng. Nhà Minh của Trung Hoa lấy danh nghĩa “Phù Trần Diệt Hồ” xâm lăng nước ta. Nhà Thanh lấy danh nghĩa “Phù Lê Diệt Trịnh” xâm lăng nước ta. Sự kiện ấy đã trở thành quy luật. Chủ trương chia rẽ dân tộc của người Cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ không thoát hậu quả bị xâm lăng, vì bị sống bên cạnh một kẻ không ngừng nuôi tham vọng bành trướng. Vấn đề đặt ra là làm cách nào để ngăn hiểm họa đó. Những phần tử chống Cộng triệt để, quyết liệt đòi giải thể chế độ cộng sản khiến cho tôi nghi ngờ, vì trước năm 1975 họ không có quyết tâm đó và bây giờ họ chẳng có thực lực gì. Hoặc những người có thành tích chống Cộng trước năm 75, nhưng nay lại có những hành động chống Cộng nặng phần trình diễn, cố biến hải ngoại thành một phòng tuyến phi cộng sản thì cũng không làm thay đổi số phận đồng bào trong nước. Chính vì suy nghĩ như thế, tôi ủng hộ bất cứ ai – không nhất thiết phải là ông Nguyễn Cao Kỳ – tìm cách thay đổi chế độ hiện hành, bất luận bằng đường lối nào. Đã có nhiều nhà trí thức dấn thân về giúp chế độ trong các lãnh vực ngân hàng, luật pháp, quản trị, giáo dục … trước cả Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, vì họ nghĩ đó là đường lối khả thi, hợp khả năng để thay đổi chế độ. Nhưng họ chỉ làm trong âm thầm vì không muốn bị các phần tử chống Cộng tố giác họ là tay sai cộng sản.
Tướng Kỳ không phải là chuyên viên như các nhà trí thức, ông là nhà lãnh đạo có kinh nghiệm giải quyết các vấn đề tham nhũng, tôn giáo, người Thượng Tây Nguyên, đoàn kết, cơ chế là những vấn đề Nhà Nước Việt Nam hiện nay đang phải đối diện mà ở hải ngoại này không một ai có thể hơn ông được. Ông ra đi giữa thanh thiên bạch nhật, không đòi hỏi một ai yểm trợ tinh thần hay tài chánh. Và ông đã nói ông chỉ là người bắc nhịp cầu đầu tiên, rồi thế hệ sau tiếp nối, chứ không hề nuôi tham vọng nào khác. Lời nói của ông khả tín vì ông đã từng coi chức Tổng thống không hơn bát phở ngon.
1/ Về tham nhũng: là người từng ra tay diệt tham nhũng và có quá khứ trong sạch, Tướng Kỳ có đủ tư thế để nói với nhà cầm quyền phải diệt trừ tham nhũng. Ý thức lực lượng tham nhũng sẽ phản ứng vì động đến quyền lợi sinh tử của họ, ông đề nghị ân xá cho những ai đã phạm vào tham nhũng, nhưng kể từ sau ngày N. trở đi, bất cứ ai tham nhũng dù ở địa vị nào đều phải bị luật pháp trừng trị. Muốn hành động đó có hiệu quả, Nhà Nước phải thi hành chính sách cai trị trong sáng (transparency), nhà báo có quyền phanh phui các vụ nhũng lạm.
2/ Về Tôn giáo: Ông nói, không nên có chính sách hà khắc đối với tôn giáo. Quản chế Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ là việc làm không cần thiết, chỉ tạo nên hình ảnh xấu đối với thế giới, vì các Ngài ra ngoài phố Sài Gòn nóng nực, bụi bậm như thế này thì chỉ chừng một giờ đồng hồ là các Ngài phải trở về chùa thôi. Khi nào tôn giáo thực sự nguy hại đến nền an ninh quốc gia thì hãy đối phó. Tôi (Tướng Kỳ) từng thẳng tay đàn áp Phật Giáo tranh đấu Miền Trung, mà tôi chưa bao giờ bị mang tiếng đàn áp tôn giáo.
3/ Về người Thượng Tây Nguyên: Từng đối phó với phong trào Fulro đòi tự trị, tôi (Tướng Kỳ) đích thân bay lên Tây Nguyên để gặp gỡ họ và nói với họ rằng chính phủ sẵn sàng giúp đỡ họ, nhưng chính phủ không thể thỏa mãn đòi hỏi tự trị vì không muốn có một quốc gia trong một quốc gia. Lần đầu tiên trong chính phủ của tôi có Bộ Sắc Tộc, ông Paul Nur làm Tổng trưởng. Tinh thần hòa giải dân tộc, đoàn kết của Tướng Kỳ đã đem lại cuộc sống hài hòa giữa Kinh – Thượng.
4/ Đoàn kết dân tộc: Tôi (Tướng Kỳ) cho rằng chủ trương đoàn kết dân tộc là một chủ trương đúng, vì đó là nền tảng của sức mạnh quốc gia. Nếu vì còn có những vướng mắc giữa những người sống chưa thể giải quyết ngay được thì hãy hòa giải với người chết trước, bằng cách trùng tu Nghĩa trang Quân đội VNCH ở Biên Hòa, dựng lễ đài tưởng niệm tất cả chiến sĩ của mọi quốc tịch đã bỏ mình trong cuộc chiến này. Hằng năm sẽ có những nhà lãnh đạo của các quốc gia liên hệ đến phúng viếng thì sẽ tạo cho nước Việt Nam một bộ mặt văn minh. Tại sao lại cứ phải phản đối người ta can thiệp vào nội bộ nước mình, nếu mình thương dân?
5/ Cải tổ bộ máy cai trị: Sở dĩ có tình trạng dằng co không thể giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách là tại vì bộ máy cai trị quá phức tạp, chồng chéo. Người dân phải chịu cảnh “một cổ ba tròng” của Ủy ban Nhân Dân, Nhà Nước, Mặt Trận Tổ Quốc là phi lý. Tinh giản cơ cấu để có người trách nhiệm vấn đề, chứ không thể đồng đổ cho bóng, bóng đổ cho đồng. Thời Việt Nam Cộng Hòa cũng có những trì trệ do đầu óc thư lại của công chức (bureaucracy). Viện trợ Hoa Kỳ xây cho Việt Nam Cộng Hòa một trường Đại học Y khoa mới, khang trang nhưng chưa chịu mở cửa cho sinh viên vào học, bởi vì giữa ông Khoa trưởng và ông Tổng trưởng Y Tế chưa thể đồng ý với nhau về chương trình giảng dạy theo Mỹ hay theo Pháp. Tướng Kỳ nói: “Tôi không biết gì về Y khoa, dạy theo phương pháp Mỹ hay Pháp gì thì tùy các ông, tuần sau tôi sẽ đến cắt băng khánh thành, trường phải mở cửa. Nếu không, tôi sẽ bãi chức cả hai ông”. Tướng Kỳ đã đem kinh nghiệm bản thân đó nói cho người cầm quyền biết để giải quyết sự trì trệ.
Tôi quan niệm rằng nếu người Việt hải ngoại còn thương xót số phận đồng bào mình nơi quê nhà thì phải làm điều gì đó để thay đổi đường lối cai trị của nhà cầm quyền trong nước, chứ không phải cứ ở nước ngoài, rồi hàng tuần phô trương bằng những hành động có tính cách trình diễn, mặc áo thụng vái nhau mà có thể giải thể Đảng Cộng Sản. Nhưng nếu quý vị vì háo danh, thèm xưng tụng lẫn nhau, đọc diễn văn này nọ cũng không sao cả, miễn là đừng tự cho mình làm như thế mới là chống Cộng để rồi lên án người khác làm khác mình là tay sai cộng sản. Hành động cả vú lấp miệng em như thế là hèn.
Khác với những trí thức ngồi ở hải ngoại viết bài kêu gọi dân chủ nhân quyền, Tướng Kỳ về hẳn trong nước để nói trực tiếp với người đang có trách nhiệm điều hành quốc gia bằng kinh nghiệm của mình. Ông không hề bảo đảm những sự đóng góp của ông với nhà cầm quyền sẽ có kết quả. Ông nói: “Nếu vận nước hưng thì nhà cầm quyền nghe lời tôi để mang lại cho nhân dân một đời sống xứng đáng hơn”. Đúng thế! Tướng Kỳ đâu có quyền lực gì để bắt buộc họ thay đổi? Ông chỉ làm cái công việc như xưa kia Nguyễn Trường Tộ đem sự hiểu biết của mình thu thập được từ nước ngoài để dâng bản điều trần lên vua quan Nhà Nguyễn vậy thôi. Một nhà lãnh đạo như Tướng Kỳ, coi thường công danh phú quý, trong sạch từ lúc trẻ đến lúc ở địa cao nhất nước, đâu có động cơ nào khác thúc đẩy ông phải về Việt Nam để ông bị hứng chịu nhiều điều thị phi, tai tiếng ngoài động cơ của lòng ái quốc? Suốt cả cuộc đời, ông không hề cấu kết, âm mưu với bất cứ ai để đá người này hất người kia nhằm dành giật địa vị hoặc nịnh hót thượng cấp để thăng quan tiến chức. Việc gì tới tay, nhận thấy đó là trách nhiệm của mình, thì ông làm. Giống như khi Hội Đồng Quân Lực yêu cầu đứng ra thành lập chính phủ giữa lúc tình hình cực kỳ khó khăn không ai dám nhận thì ông nhận mà không cần so đo toan tính lợi hại thiệt hơn cho bản thân. Thiết nghĩ bất cứ người Việt Nam nào yêu nước, có kiến thức và kinh nghiệm lãnh đạo, nếu được Nhà Nước mời về thì phải nên về để chuyển hóa xứ sở. Người nào chỉ ngồi ở hải ngoại nói thánh nói tướng đòi giải thế chế độ thì e rằng người ấy mắc chứng bệnh hoang tưởng chăng? Có tổ chức nào, đoàn thể nào chủ trương chống Cộng triệt để đã ngăn cản được làn sóng người tị nạn về du lịch Việt Nam càng ngày càng nhiều? Người Mỹ nói: “If you can not beat them, you better join them”. “Join them” đâu có nghĩa là làm đầy tớ? “Join them” ở đây có nghĩa là dấn thân theo phong cách kẻ sĩ, chứ không phải ở vào thế quỵ lụy đi xin việc. “Join them” với tư cách là công dân Mỹ theo chiều hướng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ hiện nay mà chúng ta không thể đi ngược lại được. “Join them” là để tiếp tay với những phần tử trong Đảng có xu hướng cải cách xã hội, chứ không có nghĩa tiếp tay với bộ máy Công An đàn áp nhân dân. Tướng Kỳ đã nói với Thiếu tướng Phạm Chuyên – Xếp Công An Hà Nội – rằng “khi ông cầm quyền, ông cũng muốn có một hệ thống Công An như họ để bảo vệ an ninh cho người dân, chứ không phải để bắt nạt, đàn áp dân. Các anh hãy làm tốt cho dân thì chẳng ai chống các anh cả”. Khi có hai nhà báo trẻ cộng sản đến thăm ông và nói rằng dù sao cũng phải cám ơn Đảng, vì nhờ sự “đổi mới” của Đảng mà đời sống nhân dân càng ngày càng khá hơn. Tướng Kỳ mắng ngay: “Các anh bảo ai phải cám ơn ai? Đảng của các anh đổi cũ, chứ đổi mới cái gì? Lần sau đến gặp tôi, các anh đừng mang cái luận điệu ấy ra nói nữa, nghe rõ chưa?” Giáo sư Nguyễn Tô – người sĩ quan cùng Khóa I Nam Định với Tướng Kỳ không di cư vào Nam năm 1954 – đã phải bấm tay Tướng Kỳ để nhắc ông biết rằng ông đang ở giữa thành phố Hà Nội, chứ không phải là đang ngồi ở hải ngoại. Bất cứ phát biểu nào của Tướng Kỳ với bất cứ ai trong nước đều đến tai người cầm quyền. Có nhiều điều Tướng Kỳ nói quá đúng với hiện tình Đất Nước, người nghe hết sức tán đồng, nhưng chỉ biết lắc đầu cười: “Biết thế, nhưng khó quá ông Tướng ơi!” Tình trạng Đất Nước là như thế đấy. Ai cũng thấy sự phi lý. Ai cũng thấy cần thay đổi. Nhưng không ai có cái dũng để làm.
Có những phần tử chống Cộng chỉ dựa theo thông tin của báo chí cộng sản để công kích Tướng Kỳ, bất phân phải trái, đúng sai. Tướng Kỳ phát biểu: “Trong một giai đoạn nào đó, cần thi hành chính sách độc tài để xây dựng một giai cấp trung lưu, khi người dân không còn vì miếng ăn mà lệ thuộc vào chính quyền nữa, thì tự khắc họ đòi hỏi quyền tự do, dân chủ”. Rồi ông tiếp: “Đài Loan, Singapore, Đại Hàn, Thái Lan là những thí dụ điển hình. Chế độ độc đảng chưa chắc đã là xấu nếu người lãnh đạo biết hành động vì nước, vì dân”. Báo chí cộng sản cắt xén toàn bộ câu phát biểu của Tướng Kỳ, họ chỉ đăng “Tướng Kỳ ủng hộ độc đảng” là cái phần có lợi cho họ. Thế là hải ngoại rộ lên làn sóng chống đối. Điều lạ lùng là người chống Cộng đều coi nhà báo cộng sản là bồi bút của chế độ, lại dựa vào thông tin của bồi bút để chống Tướng Kỳ. Nên nhớ khi Tướng Kỳ được (hay bị?) Hội Đồng Quân Lực trao trách nhiệm thành lập chính phủ, ông cũng đã một mình quyết định mọi việc như một nhà độc tài, nhưng ông đã mang lại sự ổn định và tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để khai sinh nền Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa. Ông là người lãnh đạo Quân Đội VNCH làm nên Ngày Quân Lực 19 Tháng 6. Nếu ông thiếu nghị lực và khả năng để dẹp yên Biến Động Miền Trung năm 1966 thì Miền Nam không có nền Đệ Nhị Cộng Hòa, không có Thượng Nghị viện, Quốc Hội để có các ông Nghị sĩ, dân biểu chống đối ông ngày hôm nay. Nói tóm lại, Tướng Kỳ là cha đẻ Nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Thiếu tá Liên Thành chỉ nói đến Tướng Nguyễn Ngọc Loan trong sách “Biến Động Miền Trung”, nhưng không có Tướng Nguyễn Cao Kỳ lãnh đạo Đất Nước lúc bấy giờ thì ai biết dùng Tướng Nguyễn Ngọc Loan? Nguyên cái việc dẹp bàn thờ Phật do bọn tranh đấu xách động, Tướng Loan cũng phải hỏi chỉ thị và phương cách hành động của Tướng Kỳ, Thiếu tá Liên Thành đâu có biết điều đó? Hay biết mà không tiện nói ra vì không khí chính trị chống Cộng ở California quá căng thẳng?