Lời mở đầu: Trăn trở theo vận nước điêu linh, người viết nghiêm chỉnh trình bày những suy nghĩ riêng tư với tinh thần trách nhiệm, chấp nhận những phản biện của bất cứ ai thực sự quan tâm đến vấn đề Đất Nước và sẵn sàng thảo luận để mưu tìm một đường lối khả thi, hiệu quả trong công cuộc tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ ở quê nhà. Trang mạng, báo chí, cá nhân toàn quyền phổ biến bài viết.

Sau hai bài viết bày tỏ nỗi niềm trăn trở của tôi, nhiều độc giả phản hồi bằng cách gọi điện thoại, gửi email chia sẻ tâm tư, gồm: Những độc giả từng suy nghĩ như tôi từ lâu nhưng không có hoàn cảnh và điều kiện để nói ra; những độc giả từng chống tôi thì nay tỏ ra lấy làm tiếc vì đã hiểu nhầm. Đặc biệt, những nhà hoạt động tên tuổi ở hải ngoại và những nhà tranh đấu trong nước cũng liên lạc với tôi để chia sẻ cảm nghĩ về bài viết. Xin thưa rõ với quý độc giả: Những gì tôi nói không phải nói cho tôi hoặc cho Đảng nào, đoàn thể nào, cá nhân nào. Tôi nói vì Đất Nước. Tôi nói cho Đất Nước. Bằng suy nghĩ nung nấu. Có thể đúng hoặc có thể sai, nhưng bằng tất cả sự nhiệt thành do lương tri sai bảo. Nếu vì lời nói chân thật này mà danh dự bản thân bị bôi nhọ, thể xác bị hãm hại thì, tôi nghĩ, đó là cái giá phải trả cho tiếng nói vì Sự Thật. Xin ghi nhận những lời động viên, khuyến khích và xin cảm tạ sự quan tâm của tất cả quý bằng hữu (cho phép tôi được xem quý vị là bằng hữu kể cả các bậc trưởng thượng) đã bày tỏ với tôi qua điện thoại hoặc thư từ.

***

Người lãnh đạo quốc gia phải hiểu rằng mối bang giao giữa nước này và nước kia là vì quyền lợi song phương; chứ không bao giờ vì lý tưởng của bất cứ chủ nghĩa nào. Cho nên không bao giờ có bạn hữu muôn đời hoặc kẻ thù truyền kiếp. Đồng Minh chỉ có tính cách giai đoạn. Bao lâu quyền lợi song phương còn thì quan hệ đồng minh còn; bao lâu quyền lợi song phương không còn thì tình nghĩa đồng minh chấm dứt. Đồng minh Hoa Kỳ – Liên Xô trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến là thí dụ điển hình nhất. Hai quốc gia này đã chung sức nhau đánh bại Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý, Quân Phiệt Nhật. Chiến tranh chấm dứt, họ trở thành kẻ thù.

Là quốc gia nhược tiểu, người lãnh đạo phải khôn ngoan, nhất định không đứng hẳn về một phe nào, bởi vì đứng về phe xã hội chủ nghĩa thì sẽ bị hứng trọn mũi dùi tấn công của phe tư bản hoặc ngược lại. Vị trí địa lý Việt Nam giống như cô gái đẹp, chàng sở khanh nào cũng muốn ve vãn, nhòm ngó, người lãnh đạo càng phải khôn ngoan hơn. Đối nội thì phải chân thành thi hành chính sách đại đoàn kết toàn dân để có sức mạnh tự vệ. Đối ngoại thì chủ trương “Liên Lập” làm bạn với tất cả các quốc gia để không bị làm “đầy tớ” duy nhất cho bất cứ một quốc gia nào. Nếu vì hoàn cảnh phải cam chịu làm đầy tớ thì cũng phải khôn ngoan lựa chọn ông chủ nào tử tế hơn, chứ không thể chọn ông chủ hơi bất bình một tí là đòi dạy cho bài học.

Giương cao ngọn cờ “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc”, Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) giành được chiến thắng là nhờ biết lợi dụng lòng yêu nước (chủ nghĩa quốc gia) của dân tộc; chứ không phải nhờ vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Bởi thế, nhà lý luận Hà Sĩ Phu gọi đảng CSVN là loài ký sinh của lòng yêu nước quả không sai. Đảng CSVN tình nguyện làm nô lệ Trung Quốc khi họ nhắm mắt thi hành chính sách cai trị bạo tàn, bất nhân, bất nghĩa qua các phong trào Cải Cách Ruộng Đất đào tận gốc trốc tận rễ, chỉnh phong, nhân văn giai phẩm, xét lại chống Đảng … gây nên thảm họa kinh hoàng chưa từng thấy trong lịch sử. Tình đoàn kết “môi hở răng lạnh” là sự dối trá. Hàng chục sư đoàn của Nga – Hoa dàn ra tại mỗi bên bờ Hắc Long Giang (biên giới Nga – Hoa) sẵn sàng xơi tái nhau là sự kiện minh chứng rõ ràng nhất.

Giưng cao ngọn cờ “Giải Phóng Dân Tộc”, Đảng CSVN thôn tính Miền Nam giống như bọn thổ phỉ đi xâm lăng nước khác. Không những chủ trương đầy đọa nhân dân Miền Nam trong các trại tù khổ sai nơi vùng ma thiêng nước độc, lùa dân lên vùng kinh tế mới giữa rừng sâu, đánh tư sản mại bản để cào bằng, đảng viên cộng sản còn đấu đá lẫn nhau để tranh giành của cải, địa vị còn kinh khiếp hơn. Đã có lúc tưởng chừng như cuộc chiến tranh Bắc Nam giữa người cộng sản nổ ra. Cả nước biến thành địa ngục, khiến cho những người đi theo cộng sản như Trương Như Tảng cũng phải vượt biên đi tìm tự do. Các nhà cách mạng lão thành tỉnh giấc như Nguyễn Hộ đòi đổi hướng quay trở lại chủ nghĩa tư bản thì đều bị cầm tù hay quản chế tại gia. Một đảng cầm quyền không có đức khoan dung với kẻ thù đã đành, mà còn sát hại lẫn nhau chẳng nương tay. Thật khủng khiếp!

Năm 1979, trước khi rời Hoa Kỳ sau chuyến công du, Đặng Tiểu Bình tuyên bố sẽ về dạy cho Cộng sản Việt Nam một bài học, tôi hết sức căm phẫn và buồn cho thân phận nhược tiểu của Việt Nam mình. Ai muốn dày xéo cũng được. Ai muốn dạy bảo cũng được. Thật là một sự hỗn láo không thể dung thứ. Chẳng qua tại dân mình ưa chém giết lẫn nhau? Cho nên trong lịch sử nước mình mới có những nhân vật đi cầu viện nước ngoài để thanh toán đối thủ hầu chiếm đoạt ngai vàng? Đảng CSVN thành công là nhờ Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch, chứ không phải do tài lãnh đạo của Đảng. Giá như phe Quốc Dân Đảng chiến thắng thì nước mình tránh được tai họa cộng sản. Tôi cho rằng đó là định mệnh oan nghiệt của dân mình.

Lẽ ra, người lãnh đạo Đảng CSVN phải tỉnh ngộ, vì bị Trung Cộng trừng phạt bằng súng đạn chết người, mà Liên Xô thì thản nhiên đứng ngoài, mặc dầu trước đó thỏa ước an ninh hỗ tương giữa Việt Nam – Liên Xô đã ký kết. Một lần nữa tình nghĩa quốc tế anh em xã hội chủ nghĩa chỉ là thứ đểu mà thôi. Trong thời gian đó, Tổng thống Hoa Kỳ –  Jimmy Carter – thò bàn tay ra cứu vớt thì lãnh đạo Đảng CSVN làm cao, nhất định đòi món tiền bồi thường chiến tranh như lời Nixon đã hứa, mới nói chuyện. Nguyễn văn Trấn, tác giả cuốn sách “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội” đã phát cáu, la to lên giữa đám đông: “Bồi thường cái con C… nó đấy!”

Năm 1985, Tổng Bí thư Xô Viết – Mikhail Gorbachev – đề ra chính sách Glasnost & Perestroika (Cởi mở và Tái cấu trúc) để chỉnh đốn sự suy thoái về mọi mặt của Đảng thì tư tưởng trong Đảng CSVN có biến chuyển. Ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách – Trưởng ban Tổ chức Đảng – được mô tả là người có triển vọng làm Tổng Bí thư Đảng, manh nha theo gót Gorbachev thì liền bị hạ bệ. Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đọc một bài diễn văn tại Liên Hiệp Quốc hứa hẹn đổi mới, khi trở về nước ông ta bị thất sủng. Tuy nhiên, vì sự sống còn của Đảng, CSVN phải đề ra khẩu hiệu trong Đại Hội VI: “Đổi Mới hay là Chết”. Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh thi hành chính sách “cởi trói” văn nghệ sĩ, kinh tế nhiều thành phần, nhưng vẫn xiết chặt chính trị. Nhờ chính sách “cởi trói”, các văn nghệ sĩ như Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Mạnh Hảo, Bùi Ngọc Tấn, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự … cho ra đời những tác phẩm mà các văn nghệ sĩ thời Nhân Văn không dám viết. Đồng thời những nhà cách mạng lão thành như Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn, Trần Độ … cũng mạnh dạn lên tiếng. Nhưng đặc biệt hơn hết, nhà lý luận Hà Sĩ Phu, Nguyễn Xuân Tụ “nhẹ nhàng” đánh vào tận gốc rễ chủ nghĩa: “Không phải như Cộng Sản thường nói rằng chủ nghĩa luôn luôn đúng, chỉ có người thi hành sai. Ý thức hệ Cộng Sản sai lầm ngay từ căn bản. Phải từ bỏ ý thức hệ đó thì mới xây dựng được Đất Nước”. Ông Hồ phạm nhiều sai lầm chết người trong các chiến dịch, vẫn làm Chủ tịch Nước cho tới chết. Ý thức hệ Cộng Sản sai lầm, người cầm quyền cũng ôm cứng lấy cái bộ máy cai trị (chứ không chủ nghĩa) cho tới chết. Lời nói của cố Tổng Bí thư Trường Chinh: “Đảng Cộng Sản cướp chính quyền bằng bạo lực thì Đảng Cộng Sản phải giữ chính quyền bằng bạo lực,” nhằm bảo vệ độc quyền cai trị, được đàn em tuân thủ triệt để.

Đối với bọn cầm quyền không thèm đếm xỉa đến nguyện vọng quần chúng, những đóng góp trí tuệ của chính người cộng sản không lay chuyển họ nổi, những đểu cáng tình nghĩa quốc tế không thức tỉnh họ, những đổi thay của thế giới không mở mắt họ. Vậy chỉ còn con đường duy nhất để lật đổ bọn cầm quyền này thì phải tiến hành một cuộc cách mạng bạo lực vũ trang. Đó là câu kết luận của đoàn thể chúng tôi, của anh Hoàng Cơ Minh, của anh Lê Quốc Túy. Nhưng sau khi cuộc xâm nhập nội địa của chiến sĩ Trần văn Bá, Lê Quốc Quân thất bại, Mặt Trận HCM tan vỡ, chúng tôi – Mặt Trận Việt Nam Tự Do –  nhận thấy Thái Lan không còn là nơi có thể làm bàn đạp để xâm nhập nội địa thì tôi đề nghị chí hữu Chủ tịch Hà Thúc Ký và Phó Chủ tịch Nguyễn văn Kim chuyển sang đấu tranh chính trị. Giã từ phương thức đấu tranh cách mạng bí mật sang đấu tranh chính trị công khai trong hoàn cảnh ở hải ngoại càng khó khăn hơn, vì dễ bị chính phe gọi là Quốc Gia đánh phá bằng sự chụp mũ hết sức dơ bẩn. Chụp mũ do sự đố kỵ, do đầu óc chia rẽ mà ra.

So với các nhà cách mạng tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần và nhiều nhà ái quốc khác xuất dương tìm đường cứu nước ra khỏi bàn tay đô hộ của Thực dân Pháp, tập thể người tị nạn chúng ta có quá nhiều ưu thế: trở thành công dân của nước tạm dung có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ như dân bản xứ. Từ hơn ba mươi năm qua, nếu ý thức vì sự chia rẽ mà chúng ta đánh mất quê hương, tất cả mọi người biết ăn năn, nhẫn nhịn ngồi lại với nhau một cách êm thắm để mưu cầu việc lớn thì chắc chắn đã có một Cộng Đồng hài hòa tạo nên uy tín xứng đáng cho người bản xứ kính nể biết bao.

Hoa Kỳ là nước đứng đầu thế giới. Người Việt tị nạn ở Hoa Kỳ đông đảo nhất. Nếu chúng ta biết tôn trọng nhau, tin cậy nhau thì chúng ta ngầm thỏa thuận chia ra làm hai phe: Gạt qua một bên triết lý chính trị hay cương lĩnh của mỗi đảng, anh bỏ phiếu cho Đảng Cộng Hòa, tôi bỏ phiếu cho Đảng Dân Chủ, nhưng hai ta là một. Làm như thế, Đảng nào thắng cử, chúng ta đều có tiếng nói trong chính quyền. Nếu người Việt Nam nào ra ứng cử bất cứ thuộc đảng nào, hai phe ấy đều dồn phiếu cho ứng cử viên Việt Nam. Cái sai lầm của người Việt Nam tị nạn chúng ta là kêu gọi nhau bỏ phiếu cho Đảng Cộng Hòa vì cứ nghĩ Đảng Cộng Hòa chống Cộng. Nên nhớ rằng Dân chủ hay Cộng Hòa, người Mỹ đều nghĩ đến quyền lợi Đất Nước họ trước tiên.

Nếu ngay sau khi Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh và chiến hữu tử trận trên vùng biên giới Thái Lào, Mặt Trận công khai tuyên bố sự thật, chấm dứt lừa đồng bào bằng những lá thư của chiến hữu Chủ tịch từ chiến khu quốc nội gửi ra thăm đồng bào hải ngoại, chấm dứt những bài phóng sự trên tờ Kháng Chiến về các cuộc chạm súng giả tạo đánh đồn Công An Cộng sản và công bố số tiền còn lại đã trót quyên góp của đồng bào sẽ sung vào công tác từ thiện hay hoạt động văn hóa thì niềm tin của quần chúng sẽ lên cao. Cho nên dù ngày nay Đảng Việt Tân, hậu thân của Mặt Trận, thể hiện điều gì tốt lành đi nữa, chẳng ai còn ngây thơ tin cậy. Mặt Trận HCM đã hủy hoại hoàn toàn niềm tin của những người thực tâm yêu nước chống chủ nghĩa cộng sản. Những cán bộ nhiệt thành của Mặt Trận quý giá biết bao nhiêu, bây giờ trở nên chán nản buông xuôi.

Cựu Đại sứ Bùi Diễm thành lập Nghị Hội Toàn Quốc quy tụ những cựu chuyên viên VNCH, kết nạp hàng ngũ trí thức trẻ nhiệt huyết là một dự án rất thông minh để sửa soạn cho các cuộc thương lượng với nhà cầm quyền trong nước khi hoàn cảnh cho phép. Tức thời Đại sứ Bùi Diễm bị đánh phá bằng những lập luận vô căn cứ. Sự đánh phá đó được phụ họa bởi những người muốn thiết lập một phòng tuyến phi cộng sản ở hải ngoại với câu khẩu hiệu “không hòa hợp, không hòa giải” với cộng sản. Những kẻ đánh phá đó chỉ vì đố kỵ, ghen ghét, chứ không phải nhằm cảnh báo điều gì Nghị Hội sẽ gây nguy hại cho công cuộc đấu tranh.

Nếu các đoàn thể chính trị thực sự có sức mạnh, có niềm tự tin thì việc gì mà không dám đối đầu với chiêu bài “hòa hợp hòa giải dân tộc” của chính quyền trong nước rêu rao. Tại sao các đoàn thể chính trị không phản công bằng cách mời các đại diện cộng sản để mặt đối mặt đặt vần đề: “Nào, các ông kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc, các ông đang nắm quyền trong tay, vậy các ông hãy có một vài động thái để chứng tỏ thiện chí của các ông. Ví dụ thả linh mục Nguyễn văn Lý, luật sư Lê thị Công Nhân … cho chúng tôi thấy trước, thì chúng tôi sẽ tiếp tay với chính quyền” để xem phản ứng của cộng sản như thế nào? Tôi nghĩ rằng sở dĩ không có tổ chức chính trị nào có đởm lược đề làm điều đó vì sợ đoàn thể khác chụp cho cái mũ “đi đêm với Việt Cộng”. “Trust but verify” là khí cụ để phản công. Từ chối “hòa hợp, hòa giải” là thụ động, né tránh. Dồn nhà cầm quyền vào chính cái khẩu hiệu họ đưa ra, tức là chứng tỏ ta có chính nghĩa trước con mắt thế giới. Trong đấu trang quân sự hay đấu tranh chính trị mà chỉ biết “thủ thế” thì kết qua là từ hòa đến thua thôi!

Trước năm 1975, Miền Bắc xua quân xâm lăng Miền Nam, họ là kẻ gây chiến, nhưng họ dựng lên những phong trào phản chiến, phong trào đòi hòa bình để biến Miền Nam thành kẻ hiếu chiến, làm mất chính nghĩa bảo vệ tự do của Miền Nam trong dư luận quốc tế. Ngày nay chính quyền cộng sản vẫn còn chủ trương phân biệt đối xử bằng chủ nghĩa lý lịch, bỏ tù người bất đồng chính kiến, vận động các chính quyền lân bang đập bỏ tượng thuyền nhân, nhưng họ lại trương ra cái hư chiêu bằng biểu ngữ “hòa hợp hòa giải dân tộc”. Nên nhớ, cái mà đảng cầm quyền đang lo sợ là “Diễn biến hòa bình”,  nay họ được người chống Cộng ở hải ngoại cũng chống diễn biến hòa bình, thì còn gì thích hợp với họ cho bằng. Nói tóm lại, trước kia Miền Nam có chính nghĩa nhưng bị kẻ thù biến thành phi nghĩa (hiếu chiến). Một lần nữa, những thành phần mệnh danh chống Cộng không khoan nhượng cản bước bất cứ đoàn thể nào, cá nhân nào chủ trương diễn biến hòa bình. Chúng ta lại thua thêm một phen nữa!

Đôi khi tôi tử hỏi: “Phải chăng những người chống Cộng không khoan nhượng này kém đầu óc thông minh hay vì họ sợ CSVN sụp đổ thì mất mục tiêu đấu tranh hoặc tồi tệ hơn họ là công cụ của người cầm quyền trong nước?”. Tôi từng gặp nhiều ông sĩ quan cấp Tá về Việt Nam du hí, làm ăn, nhưng khi trở lại Hoa Kỳ thì cũng phất Cờ Vàng trong các cuộc biểu tình hăng hái lắm. Chẳng ai còn lên án người Việt tị nạn về Việt Nam thăm nhà hay làm ăn như hồi đầu, mà sao hạng người này lại phải đóng kịch khả ố như vậy? Dưới chế độ hà khắc của cộng sản, người dân chịu phận hèn thì hiểu được. Ở xứ sở tự do, tại sao lại phải hèn?

****

Khi Hoàng văn Hoan đào thoát khỏi Việt Nam sang Bắc Kinh, Trương Như Tảng vượt biển tìm tự do, có một số nhà làm chính trị chống Cộng bèn nghĩ đến giải pháp Hoan – Tảng. Biết tôi có mối liên hệ với Tướng Nguyễn Cao Kỳ, một đoàn thể chống Cộng cử hai cán bộ đến gặp tôi để nhờ tôi giới thiệu họ với Tướng Kỳ. Mục đích của tổ chức này là nhờ Tướng Kỳ đại diện họ sang Bắc Kinh gặp gỡ Hoàng văn Hoan để bàn bạc thành lập một Liên minh chống Cộng sản Hà Nội. Mọi phí tổn di chuyển, ẩm thực, tiêu dùng đều do Tổ Chức đài thọ. Sau khi nghe hai anh cán bộ trình bày chủ trương của Tổ Chức, Tướng Kỳ đã trả lời như sau: “Trong vài trường hợp, kẻ thù của kẻ thù là bạn mình. Nhưng trong trường hợp này, tôi nghĩ rằng cái ý tưởng đó không đúng, bởi vì liên minh với Cộng sản Trung Quốc để hạ bệ Cộng Sản Hà Nội thì sự tác hại còn nguy hiểm hơn. Đừng bao giờ quên Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của dân ta cả ngàn năm”. Sau lời khuyến cáo của Tướng Kỳ, cái ý tưởng thành lập Liên Minh Hoan – Tảng dần dần xẹp đi, không còn nghe ai nói đến nữa. Tướng Kỳ thường bày tỏ với tôi mối quan tâm của ông ta đối với hiểm họa Bắc Phương.

Thuật lại mẩu chuyện này, tôi muốn cho người cầm quyền trong nước hiểu rằng Tướng Kỳ là người luôn luôn lo ngại Việt Nam biến thành Giao Chỉ Quận. Cho nên, mỗi lần đi nói chuyện ở các trường Đại Học Hoa Kỳ, Tướng Kỳ đều ra sức vận động chính phủ Hoa Kỳ nên trở lại Việt Nam và kêu gọi Nhà Nước Việt Nam thực thi đại đoàn kết dân tộc. Tướng Kỳ tin rằng chỉ Hoa Kỳ mới có khả năng làm lực đối trọng chống lại mưu toan bành trướng của Trung Cộng. Do đó, đối tượng mà tôi nhắm đến trong bài viết này là những nhà lãnh đạo đang có trách nhiệm với Đất Nước cần phải biết đến tinh thần tự chủ của Tướng Kỳ trong quá khứ đã lãnh đạo Miền Nam vào thời điểm khó khăn như thế nào. Bởi vì, tôi nghĩ, chỉ có những người đang thực sự nắm quyền mới có khả năng thay đổi hướng đi của Đất Nước. Hoặc họ không chịu thay đổi thì nhân dân sẽ đứng lên thay đổi họ. Cộng đồng Hải ngoại bênh hay chống không ảnh hưởng, vì chẳng ai có thực lực.

Năm 1994, ông Nguyễn văn Quý – Cựu sĩ quan cấp Tá Không Quân VNCH – tổ chức một buổi nói chuyện cho Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ với các anh em cựu quân nhân VN và cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam tại thành phố Denver, tiểu bang Colorado. Nội dung bài nói chuyện có ba điểm: (1) Vinh danh các chiến sĩ trong Quân Lực VNCH và cám ơn những cựu chiến binh Hoa Kỳ đã chiến đấu cho VN, (2) Nêu lên những sai lầm trong chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam thời bấy giờ, (3) Chiến tranh đã chấm dứt, Hoa Kỳ nên thiết lập bang giao với Việt Nam. Phần ba (3) của buổi nói chuyện làm cho một số cư dân địa phương, trong đó có cả cựu quân nhân Quân Lực VNCH, la ó phản đối và hô khẩu hiệu “Nguyễn Cao Kỳ đâm sau lưng chiến sĩ”! “Nguyễn Cao Kỳ đón gió trở cờ” (vì tội cổ súy Hoa Kỳ trở lại Việt Nam). Nghị sĩ Phạm Nam Sách liền chớp cơ hội, viết một bài báo mạt sát Tướng Kỳ là “Chó nhảy bàn độc”. Nghị sĩ Phạm Nam Sách, có tên trong liên danh Bông Lúa của Đại Việt Cách Mạng do cụ Hà Thúc Ký lãnh đạo. Vì thế, ông Sách và tôi có mối liên hệ quen biết. Tôi đã tìm gặp anh Sách sau khi đọc bài báo để nêu thắc mắc:

–  Này anh Sách, có phải anh nhiếc Tướng Kỳ là “Chó Nhảy Bàn Độc”, bởi vì anh khinh Tướng Kỳ là kẻ ít học, ngu dốt, nhờ gặp thời mà bước lên địa vị lãnh đạo quốc gia?

Không một chút do dự, anh Sách đáp ngắn gọn:

–  Đúng thế!

Trong cách trả lời của anh Sách, tôi nhận thấy cái thái độ tự kiêu của kẻ cả, nên tôi lại hỏi:

–  Nếu tôi bảo anh viết bài báo ấy cũng là dốt thì anh nghĩ sao?

–  Cậu thử chứng minh cho mình nghe xem! Giọng nói anh Sách không thay đổi, vẫn kẻ cả!

–  Thật ra, những gì ông Kỳ nói trong buổi diễn thuyết không có gì gọi là sáng kiến, mà đó chỉ là hành động đẩy một cánh cửa đã hé mở. Nếu anh cẩn thận một chút, nghiên cứu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong tương lai sẽ ra sao thì anh không viết một bài báo nặng lời như thế. Mới đây trên tờ Foreign Affairs đăng lời phát biểu của cựu Ngoại trưởng James Baker (dưới trào Reagan) thảo luận với những học giả chuyên gia về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, có nội dung như sau: “Thế kỷ 21, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sẽ phải đặt trọng tâm vào phần đất Á Châu”. Thế thì chuyện Hoa Kỳ trở lại Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Theo nhận định của tôi, Hoa Kỳ thiết lập bang giao với Việt Nam để ngăn chặn hiểm họa Trung Quốc – một lân bang luôn luôn ôm mộng bá quyền – là tốt cho nhân dân mình. Tại sao anh lên tiếng phản đối? Anh là người viết có tên tuổi trong cộng đồng, một bài viết của anh rất có ảnh hưởng đến tư tưởng quần chúng. Lần sau anh nên thận trọng hơn để không lộ ra cái dốt và nên dùng ngôn từ nhã nhặn của người cầm bút lễ độ có trách nhiệm. Nhất là đối với ông Kỳ, là người mà anh đã chịu ơn trước năm 1975.

Biết mình đã hố, nhưng anh Sách vẫn cố bào chữa một cách yếu ớt:

–  Chính sách của Mỹ là một chuyện của Mỹ; chủ trương của mình là một chuyện của mình. Cậu cứ tưởng mọi việc Mỹ làm là đúng cả sao?

–  Không! Tôi không hề nghĩ mọi việc Hoa Kỳ làm đều đúng cả. Nhưng riêng trong việc Hoa Kỳ trở lại Việt Nam, tôi nghĩ là đúng, vì nước mình cần có một thế lực đối trọng với Phương Bắc để giúp mình bảo vệ lãnh thổ. Hơn nữa, nơi nào có Hoa Kỳ đặt chân đến thì nơi đó dần dần sẽ phải có dân chủ.

–  Cậu nói thế sao được? Rồi mai mốt tụi Việt Cộng có tòa Đại sứ, tòa Tổng Lãnh sự ở đây. Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới khắp nơi thì mình sống làm sao nổi?

– Xin hỏi anh câu chót, không cần anh trả lời: Mục đích Chống Cộng của anh là để nhân dân ta trong nước no ấm, có tự do dân chủ hay anh định lập một phòng tuyến “phi Việt cộng” trên cái xứ sở mà quyền lập hội, lập đảng được Hiến pháp bảo vệ và tôn trọng?”. Cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng bay thì cũng giống như cờ đỏ năm sao vàng Trung Cộng bay, mặc kệ nó, việc gì mà mình sống không nổi? Chúng ta không quan tâm việc Hoa Kỳ cấm vận Cuba. Nhưng Hoa Kỳ cô lập Việt Nam thì Việt Nam sẽ bám vào Trung Cộng làm khổ dân mình.

Tôi cho rằng nhà trí thức Phạm Nam Sách là người chống Cộng do cảm tính mà ra (vì dị ứng với lá cờ Đỏ Sao Vàng?), nên không có cái viễn kiến nhìn xa trông rộng để biết rằng sự hiện diện của Hoa Kỳ là có lợi cho tương lai dân Việt Nam. Năm 2003 Nhà Nước Việt Nam cử ông Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin sang mời Tướng Kỳ về Việt Nam để nhìn thấy sự đổi thay của Đất Nước. Tướng Kỳ gọi điện thoại thông báo ý định của ông với Đại sứ Bùi Diễm, Trung tá KQ Vũ Đức Vinh thì hai ông bạn này khuyên Tướng Kỳ không nên về vì không thể tin vào thiện chí của người cộng sản, họ chỉ lợi dụng tên tuổi ông Tướng. Sự hoài nghi của hai người bạn Tướng Kỳ là đúng, vì lo ngại thanh danh của Tướng Kỳ bị đốt cháy. Ông Võ Long Triều không những tán thành, mà còn viết cho Tướng Kỳ một bản tuyên bố để đọc khi đặt chân xuống Sài Gòn. Riêng tôi, khi được hỏi, đã trả lời như sau: “Chính quyền Việt Nam gửi một ông Thứ trưởng sang mời ông Tướng, tất nhiên họ có nhu cầu tìm hiểu đường hướng ngoại giao với Hoa Kỳ qua kinh nghiệm của ông Tướng. Ông là nhà lãnh đạo duy nhất của Miền Nam còn sống sót có thể giúp họ sự hiểu biết chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ tường tận hơn. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm là người “ngậm miệng” từ lâu nay, ai mà cậy miệng ông ta được? Tôi nghĩ ông Tướng chỉ có thể đóng vai trò như một “counselor” (ông Cố vấn), nhưng ông vốn là người quyền biến thì tùy hoàn cảnh mà ứng phó. Ông đâu phải giống như Cựu Hoàng Bảo Đại thuở xưa ngự giá hồi loan mà đọc bản tuyên bố? Cái lo nhất của tôi là lo cho sinh mạng của ông, vì nội tình cộng sản có phe đổi mới, có phe bảo thủ thân Trung Cộng. Nhất là phe thân Trung Cộng biết ông có mối lo Giao Chỉ Quận thì họ không ưa ông lắm đâu. Nghĩa là ông đang sửa soạn đi vào hang cọp đấy! ”.

Nghe lời cảnh giác của tôi, Tướng Kỳ mỉm cười: “Câu nói của anh làm tôi nhớ hồi xưa trước khi đi bay những phi vụ thả biệt kích ở ngoài Bắc hoặc sau đó bay Bắc Phạt, anh em cũng lo lắng cho tôi như vậy. Nếu vì Đất Nước mà phải hy sinh tính mạng thì tôi cũng phải làm”. Tôi nói: “Ngày đó ông thi hành phi vụ Bắc Phạt bằng 24 phi cơ được sinh viên, học sinh thành phố Huế tiễn đưa như những chàng Kinh Kha sang Tần, hôm nay ông đơn thương độc mã đi vào lòng địch thì bị những gào thét phản đối. Ông có buồn không? Ông còn nhớ cái câu ông nói ‘bạc như dân, bất nhân như lính’ khi các Tướng lãnh giết anh em ông Diệm sau đảo chánh 1 Tháng 11 năm 1963 không? Liệu ông muốn cứu Việt Nam thoát khỏi nguy cơ Giao Chỉ Quận có được nhân dân cám ơn ông không?” Chẳng trả lời các câu hỏi của tôi, Tướng Kỳ nhún vai như biểu lộ một lời tâm sự: “Chí ta, ta biết; lòng ta, ta hay”. Ở địa vị một cựu Tướng lãnh hoạt bát, có thành tích chống Cộng lẫy lừng trong quá khứ, nếu Tướng Kỳ thích được Cộng Đồng tung hô, cứ hô hào chống Cộng như người khác để được mời đọc diễn văn trong các dịp lễ như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Hận là việc quá dễ dàng. Nhưng thử hỏi, hành động như thế thì làm sao thay đổi tình trạng Đất Nước? Nếu lý luận rằng đã có biết bao nhiêu nhà tranh đấu trong nước ngoài nước góp ý với Đảng mà chẳng ăn thua, thì Tướng Kỳ làm sao có thể lay chuyển cộng sản? Đừng quên lời dạy của cha ông: “Tận nhân lực, tri thiên mạng”. Thấy việc khó mà khoanh tay thì sao gọi là hào kiệt trên đời? Làm lịch sử không dành cho những ai chọn con đường đấu tranh đã được người ta trải thảm. Nếu đảng CSVN nghe lời nhà trí thức Hà Sĩ Phu từ thế kỷ trước mà “Chia tay ý thức hệ” thì Tướng Kỳ đâu phải bôn ba vì chuyện Nước Non? Ông không đòi lật đổ chế độ như những người chẳng có chút thực lực nào, ông chỉ đề nghị với người cầm quyền thay đổi đường lối để tránh hiểm họa bành trướng từ Phương Bắc, thì có gì là sai trái? Có gì gọi là nịnh bợ cộng sản? Có gì gọi là đâm sau lưng chiến sĩ?

Trước khi về Đất Nước, ông dừng chân tại Bangkok, Thái Lan hai hôm. Ở Sài Gòn có tờ báo Công An cộng sản đăng bài bôi nhọ đời tư ông. Ông gọi điện thoại về cho tôi biết ông đã hỏi Bộ Ngọai giao Việt Nam có muốn ông về nước hay không. Tại sao lại có trò chơi bẩn như thế? Bộ Ngoại giao trả lời rằng họ cũng đang điên đầu vì bài báo này, họ hứa sẽ can thiệp để không có chuyện này xảy ra nữa.

Về tới Sài Gòn, Tướng Kỳ trả lời cô ký giả Hồng Nga của đài BBC: “Tôi không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cộng sản”. Nghe câu trả lời khẳng khái của ông qua máy computer, tôi rất lấy làm hài lòng: “Tướng Kỳ vẫn là con người khí phách của thời trai trẻ”. Đã mấy ai về Việt Nam dám ngang nhiên nói như vậy? Ngày hôm sau, ông mở cuộc họp báo tại khách sạn Sheraton. Ông tự giới thiệu ông nguyên là Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa cho những ký giả trẻ biết, nhưng đồng thời ý ông muốn xác định sự chính thống (legitimacy) là Miền Nam có một chính phủ dân cử hợp Pháp, hợp Hiến, chứ không phải là Ngụy Quyền. Một ký giả hỏi có phải ông xin Nhà Nước để về Việt Nam và Nhà Nước đã cho ông về. Ông đáp: “Nếu vì Đất Nước mà xin thì có gì xấu và nếu vì Đất Nước mà cho thì có thì đáng hãnh diện? Hãy bỏ cái tinh thần Xin – Cho Lý Toét Xã Xệ ấy đi. Nhà Nước này có cái gì cho tôi mà bảo tôi phải xin?” Một ký giả khác hỏi: “Ông nghĩ thế nào người Việt ở nước ngoài la ó, đả đảo sự trở về của ông?”. Tướng Kỳ đáp: “Tôi về vì Đất Nước này, chứ không phải tôi về vì mấy ông Hải ngoại hay vì mấy ông Chính quyền”. Một câu hỏi tiếp theo được đặt ra: “Ông nói ông về vì Đất Nước. Xin hỏi, ông mang gì về Đất Nước?”. Không cần nghĩ ngợi, Tướng Kỳ đáp ngay: “Tôi mang Nguyễn Cao Kỳ về đây”.

Trả lời một cách tự tin như thế, vì ông tự hào về quá trình phụng sự Đất Nước của ông. Tôi đăng lại bài trả lời của Tướng Kỳ với cô ký giả Oriana Fallaci người Ý – một ký giả thân Cộng – vào năm 1967 khi ông đang là Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, 37 tuổi, để những người lãnh đạo trong nước hiểu tư duy của Tướng Kỳ.

Gặp lại tướng Nguyễn Cao Kỳ năm 1967

Nhà báo, tác giả người Ý Oriana Fallaci là người đã thực hiện các cuộc phỏng vấn với các nhân vật chính trị nổi tiếng như Henry Kissinger, giáo chủ Shah của Iran – Ayatollah Khomeini, Willy Brandt, Nguyễn Cao Kỳ, Yasser Arafat, Indira Gandhi, Golda Meir, Nguyễn Văn Thiệu, Sean Connery, và nhiều người khác.

Fallaci : Tướng Kỳ này, có phải ông đang nói về cách mạng không?

Nguyễn Cao Kỳ:  Ðã hẳn. Ðiều người Mỹ không biết là Miền Nam cần một cuộc Cách mạng để ngang hàng với lý tưởng cách mạng ở Miền Bắc, để chứng tỏ không phải chỉ ở Miền Bắc mới cần công chính... Tôi không màng những cuộc bầu cử mà Mỹ đòi hỏi phải có. Hầu hết những người được bầu ra ở Miền Nam không phải là những kẻ dân muốn chọn, họ không đại diện cho ai cả. Những cuộc bầu cử vừa rồi của chúng tôi là một cách phung phí thì giờ và tiền bạc, một trò hề... Tôi cũng đã ra ứng cử, đã đắc cử như một Phó Tổng Thống của một chế độ đã được chọn ra như thế, nghĩa là tôi cũng có trách nhiệm với trò hề đó. Nhưng ít ra thì tôi cũng thấy được cái xấu xa quỷ quái chỗ nào. Và tôi nói luật pháp phải thay đổi, vì những luật lệ hiện hành của chúng tôi là luật bảo vệ nhà giàu. Chúng tôi cần những luật lệ bảo vệ người nghèo.

Fallaci :  Tướng Kỳ này, đó chính là điều Hồ chí Minh nói, điều Việt Cộng nói. Ðó là xã hội chủ nghĩa, là Mác-xít.
Nguyễn Cao Kỳ : Thì có ai chối đâu? Tôi đâu có ngán mấy chữ "xã hội chủ nghĩa". Chính người Mỹ đã làm cho mấy chữ đó trở thành xấu xa... Cô bảo tôi là một tay Mác-xít. Ðây không phải là lần đầu tiên một người Âu Tây bảo tôi như thế. Như vậy, có thể tôi là một tay Mác-xít. Thì đã sao? Tôi không hề biết Marx, Engels, hoặc bất cứ một lý thuyết gia nào gốc Âu châu. Họ lập thuyết và tôi không hơi đâu mất thì giờ với lý thuyết. Thành thật mà nói, tôi không đọc sách. Tôi cũng không xấu hổ nhận rằng tôi ít học. Sức học của tôi chưa quá Trung học. Tôi là một phi công, sống chết với máy bay chứ không phải với sách của Marx hay của Engels. Tôi không cần bận tâm chuyện Marx đã khám phá ra rằng nhà nghèo không cần phải nghèo mãi. Tôi không cần khám phá của Marx mới biết điều sơ đẳng đó. Tôi là người da vàng, người Á châu, tôi hiểu đất nước tôi hơn những người da trắng đã viết ra sách vở.

Fallaci:  Tướng Kỳ ơi, nói gì thì nói, sự thật là nếu ông đọc những sách đó thì ông sẽ ý thức rằng ông đang nói những điều mà chính những người ông đang đánh nhau với cũng nói y hệt. Ông có thể cho tôi biết tại sao ông chống Cộng Sản không?

Nguyễn Cao Kỳ:  Tôi chỉ biết Cộng Sản trong xứ tôi thôi. Và tôi không thích thứ Cộng Sản ấy. Tôi không thích thấy một đứa con nhân danh Đảng đấu tố cha mẹ mình. Tôi không thích một Đảng nhân danh ý thức hệ để đạp đổ gia đình và những tình cảm gia tộc. Tôi không thích một xã hội trong đó mỗi người là một đảng viên. Do đó, dù tôi chống cái tự do đã gây nên hỗn độn và ngăn trở thực hiện công bằng xã hội, nhưng tôi cũng chống độc tài nữa. Tôi không biết phải nói sao về điều ấy. Ðó là lý do tại sao tôi chống Cộng. Nhưng dĩ nhiên tôi không chống Cộng khi họ phân chia tài sản, và tôi đồng ý trăm phần trăm với họ khi họ tước đất của người giàu đem phân phát cho người nghèo. Khi họ trao súng cho nông dân và bảo: “Hãy đấu tranh cho một cuộc đời tốt đẹp hơn. Khi họ tước bỏ những đặc quyền đặc lợi giai cấp, khi họ nói rằng phân chia giai cấp là sai. Như Khổng Tử từng nói, chúng ta phải nâng kẻ nghèo lên và hạ người giàu đến một mức mà mọi người có thể hoàn toàn hòa hợp chung sống. Tôi chống vì họ không làm nh họ đã nói.

Fallaci:  Tướng Kỳ này, có lúc nào ông nghĩ rằng ông đã lựa chọn sai chỗ đứng không? Có bao giờ ông nghĩ rằng ông có thể hợp với Hồ chí Minh không?

Nguyễn Cao Kỳ:  Vâng... nếu số phần của tôi khác thì tôi đã đứng về phía ông ấy rồi. Nhưng theo ông ấy thì bây giờ tôi là gì? Tôi có thể chỉ là một cán bộ quèn câm nín trong guồng máy đảng, chẳng làm nên tích sự gì. Còn ở phía bên này, tôi là Nguyễn Cao Kỳ; và tôi có thể làm được việc này việc khác. Dĩ nhiên, một con én không làm nên mùa Xuân nhưng con én ít ra cũng báo hiệu mùa Xuân... Ðôi khi người ta hỏi tôi: anh có muốn biết qua về Hồ chí Minh không? Thành thật mà nói tôi không muốn, và cô biết tại sao không? Vì ông ấy thuộc thế hệ khác. Dĩ nhiên ông ấy là một lãnh tụ tài ba, nhưng ông ấy già rồi. Ông ấy ngoài bảy mươi còn tôi thì mới 37... Những người như Hồ chí Minh không thuộc thế kỷ này, hệ thống chính trị của họ cũng đã lỗi thời... (Lời nhận định này là một tiên tri ở thế kỷ trước được nói ra từ một quân nhân trẻ bị chê ít học. Ghi chú của người viết)

Fallaci:  Nhưng Tướng Kỳ ơi, nếu ngày nào đây, ông thấy ông không thể thực hiện cuộc cách mạng của ông, rằng ông đã chọn lầm phe, ông có sẵn sàng nhảy qua bên kia không?

Nguyễn Cao Kỳ:  Không. Ðã chọn thì phải đi đến cùng. Sớm muộn gì, nếu tôi thấy tôi đã chọn nhầm thế đứng thì tôi thà chết còn hơn là đổi phe... Tôi thà chết hơn là phải thú nhận mình đã chọn lầm đường đi...

Fallaci:  Ông thực sự tin ông sẽ thành công, hay ông chỉ mơ ông thành công?

Nguyễn Cao Kỳ:  Tôi tin vào vận mạng của tôi, cho nên tôi tin tôi sẽ thành công, trừ trường hợp chúng (không phải là cộng sản) giết tôi. Nếu chúng không giết tôi thì tôi chắc thắng vì tôi không thuộc phe thiểu số. Ðại khối quần chúng – người nghèo, nông dân –  ủng hộ tôi.

Cảm tưởng của cô Oriana Fallaci sau cuộc phỏng vấn là: “Nguyễn Cao Kỳ đáng... là lãnh tụ của một vùng đất thiếu lãnh tụ một cách đau đớn”. Quý vị sẽ nhận thấy điều đó khi ngỡ ngàng lắng nghe ông ta khoảng hơn 10 phút. Tướng Kỳ không phải là một anh chàng ngố, ông ta có điều muốn nói, và ông nói huỵch toẹt mà không sợ vạ miệng”. (Dịch sang tiếng Việt do Giới Tử thực hiện)

Câu nhận xét sau cùng của cô Oriana Fallaci phản ảnh đúng cá tính của Tướng Kỳ: Không bao giờ ngại ngùng khi phải nói lên ý nghĩ của mình. Năm 2004, ngồi tại Sài Gòn, Tướng Kỳ nói lên nhận định của ông về Đất Nước với những người cộng sản cao cấp: “Cái khủng hoảng lớn lao nhất của các anh hiện giờ là không có lãnh đạo, vì các anh chủ trương tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Cho nên, cuối cùng chả có cá nhân nào lãnh đạo ”. Nhận xét của Tướng Kỳ rất chính xác, bởi vì chính cựu Thủ tướng Phan văn Khải từng thú nhận: “Trên bảo dưới không nghe”. Tôi nêu ra đây những đặc tính của Tướng Kỳ để các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện hành thấy tại sao cô ký giả thân Cộng Oriana Fallaci có câu kết luận như trên sau khi phỏng vấn ông ta:

1/ Thanh liêm: Liên Phi đoàn Vận tải là đơn vị thực hiện nhiều công tác xuất ngoại hàng tháng: Hongkong, Singapore, Mã Lai, Đài Loan, Nhật Bản… là những nơi tràn ngập hàng hóa mà dân Sài Gòn cần. Không Quân VN cho phép phi hành đoàn mỗi người mua một ít hàng hóa giới hạn để bán kiếm lời. Riêng Tướng Kỳ –  không có người thứ hai – chẳng hề mua bất cứ một món gì, ngoại trừ một lần duy nhất mua cho Mẹ một cái radio transitor hiệu Phillips. Dù là cấp chỉ huy, lương lính rất thiếu thốn, nhưng Tướng Kỳ chấp nhận sống thanh bạch. Khi ông làm Tư Lệnh Không Quân, Đại tướng Nguyễn Khánh tặng ông tấm ngân phiếu một triệu đồng (tiền VNCH). Bỗng nhiên trở thành triệu phú, ông cầm tấm ngân phiếu khoe với mọi người chung quanh, giữ trong túi được hai hôm rồi đem tặng một triệu đồng đó vào quỹ xã hội KQ. Những phi công trong đơn vị được ông ký giấy cho sang bay Air Vietnam (Hàng không dân sự), chẳng ai phải đút lót cho ông một đồng xu nào. Làm Thủ tướng, ông quyết tâm diệt trừ tham nhũng. Tạ Vinh bị án tử hình, Ba Tàu Chợ Lớn mang vào căn cứ Tân Sơn Nhất tặng ông hai trăm (200) triệu đồng, ông không nhận. Ông Bố Tổng thống Kennedy nói: “Người nào cũng mua được tùy theo cái giá. Một triệu đồng không mua được. Mười triệu đồng không mua được. Nhưng một trăm triệu đồng thì rồi cũng mua được”. Suốt hai năm làm Thủ tướng, quyền hạn tuyệt đối nằm trong tay, không có một cơ chế nào kiểm soát, ông không hề mang tiếng mua quan bán chức, hà lạm công quỹ. Khi thôi làm Thủ tướng, ông ký bàn giao cho người kế nhiệm Nguyễn văn Lộc đầy đủ quỹ đen mà ông có quyền tiêu không cần chứng minh. Nghệ thuật hối lộ của gian thương Chợ Lớn rất cao siêu, nếu người cầm quyền không giữ mình trong sạch, rất dễ bị cám dỗ. Chỉ một chữ ký cho phép độc quyền nhập cảng như xe gắn máy Honda, sữa bột Guigoz là có thể bỏ túi hàng trăm triệu đồng. Là Thủ tướng, Phó Tổng thống, Tướng Kỳ không có một căn nhà riêng, không có tài khoản trong ngân hàng là điều độc nhất vô nhị.