Phải nói rằng phong trào phản chiến là động cơ then chốt nhất cho sự sụp đổ miền Nam VN, nó đã gây lên sự chia rẽ cấu xé nhau trầm trọng tại nội bộ Hoa Kỳ.
Chính phủ ban hành lệnh cấm cuộc cắm trại, lập hàng rào gỗ quanh điện Capitol, những người cựu chiến binh đã ném trả huy chương, trong số này có John Kerry, ứng cử viên Tổng Thống năm 2004. Kerry thất cử một phần vì bị người ta kết án là theo phản chiến và họ đã chưng được bằng cớ, người Mỹ nay cho rằng nhóm phản chiến là bọn phá rối trị an. Bọn họ tố cáo lính Mỹ khi hành quân vào các làng mạc ở Việt Nam đã hãm hiếp, đốt làng, cắt tai, chặt đầu người dân... y như quân Mông cổ dưới thời Thành Cát Tư Hãn. Họ nói đất nước đã tạo dựng con quái vật hung dữ, đó là đạo quân một triệu người, và những người lính chiến đã được chỉ dậy dùng bạo lực và chết chẳng có mục đích nào cả (...and who are given the chance to die for the biggest nothing in history, The Vietnam War, A History In Documents, trang 125), chúng tôi cựu chiến binh trở về trong uất hận vì bị chính phủ Hoa Kỳ lạm dụng.
Năm 1970, phó Tổng Thống Agnew tuyên bố tại trường Wespoint rằng chỉ có một thiểu số phóng đại những mặt xấu của bọn lưu manh côn đồ nhưng thực ra đa số chiến sĩ ta đã chiến đấu, chết tại những cánh đồng lúa Á Châu để bảo vệ tự do trong khi một thiểu số lợi dụng làm bậy. Bọn phản chiến đã dùng điểm này để công kích nỗ lực của ta ở Việt Nam.
Những cựu chiến binh này nói người dân Mỹ đã bị chính phủ đánh lừa, ta không thể thắng được cuộc chiến này nếu cứ tiếp tục như vậy và phải rút bỏ Việt Nam, họ nói tình hình Việt Nam không có gì để đe dọa Hoa Kỳ, thuyết môi hở răng lạnh là sai (... in our opinion and from our experience, there is nothing in South Vietnam which could happen that realistically threatens the United States Of America, trang 126, sách đã dẫn). Chúng tôi đòi hỏi ở Quốc Hội Hoa Kỳ nơi có thẩm quyền tạo dựng và duy trì quân đội, chúng tôi đến đây không phải để gặp Tổng Thống mà tin rằng Quốc Hội có thể thoả mãn ý nguyện người dân để đưa chúng ta rút khỏi VN (...that we should be out of Vietnam now, Trang 127...)
Yết thị kêu gọi chấm dứt chiến tranh. Nguồn: psywar.com
Xã hội, đất nước bị phân hoán vì chiến tranh VN. Nhóm phản chiến in những tờ yết thị kêu gọi chấm dứt chiến tranh như một bích chương kêu gọi người da đen có in hình hai người lính da đen đang hành quân:
"Thời gian ra trận là chỉ có chết (The only time we're in the front is when it's time to die)... Đa số lính da đen ở Việt Nam phải ra tiền tuyến để chiến đấu và chết cho cuộc chiến này (The vast majority of Black troops in Vietnam are placed in the front lines... to fight and die for the war), hãy chấm dứt chiến tranh vì nó sát hại chúng ta." (The Vietnam War... Trang 144)
Một tờ yết thị khác cho thấy ngân quĩ chính phủ Johnson dành cho chương trình chống nạn nghèo đói đã chuyển sang cho chiến tranh VN. Tổng thống hy vọng vừa giải quyết nạn nghèo đói vừa giải quyết chiến tranh, nhưng cuối cùng chỉ giải quyết chiến tranh. Họ đăng hình hai ông Tướng Thiệu, Kỳ trông dữ tợn, nhe răng trợn mắt và viết.
"Bọn họ ăn hết của chúng ta, ăn hết cả nhà cửa, thành phố, trường học y tế, môi trường... bọn họ là Tổng thống Thiệu và Phó Tổng thống Kỳ, các quân nhân cầm quyền ở Việt Nam (They're eating us out of house, home, city, school, medical care and clean air...)
Năm nay họ đã hút của ta 13 tỉ để xử dụng vào bộ máy chiến tranh của họ. Số tiền này đủ để xây 2,000 trường trung học, 10,000 chung cư bình dân, phục vụ y tế cho 165, 000 bệnh nhân, tăng chương trình chống ô nhiễm lên gấp 10 lần.
Cho dù có rút quân, chúng ta vẫn phải viện trợ 2 tỷ rưỡi quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam, số tiền này bằng tiền ta viện trợ cho tất cả các nước khác cộng lại.
Có lẽ đây là lúc ta không cần để ý tới những tiếng mơn trớn như Việt nam hoá chiến tranh, kinh tế hậu chiến... mà hãy chú ý tới những con số. Hãy viết thư cho Dân biểu để xin một bản ngân sách Liên bang, nói cho ông ấy biết ta phải xử dụng 10 tỉ rưỡi ta tiết kiệm được như thế nào khi ta rút khỏi Việt nam..." (Trang 144, sách đã dẫn)
Một tấm bích chương khác cổ vũ chống chiến tranh in hình một người phế binh cụt chân đu mình trên chiếc nạng gỗ, chàng về nay đã cụt chân!!...
"Khi Johnny trở về nhà ! Hoan hô, Hoan hô!"... Chấm dứt gây tàn phế, chấm dứt bắn giết, chấm dứt chiến tranh, hãy viết thư hay gọi điện thoại cho Dân biểu ngay hôm nay...( Trang 151)
Bích chương phản chiến kêu gọi người da đen. Nguồn: psywar.org
Những tờ yết thị, bích chương đầy những hình ảnh khích động chống chiến tranh đã gây ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng khiến cho phong trào ngày càng lên cao. Nhiều ký giả, phóng viên truyền hình Mỹ .. săn tin chiến tranh ở Việt Nam về làm phóng sự chống chiến tranh thổi phồng những khía cạnh xấu của cuộc chiến, lên giọng đạo đức giả xuyên tạc sự thật...
Tại Âu châu phong trào phản chiến cũng bộc phát không kém phần vì Pháp bị Mỹ hất cẳng ra khỏi Đông Dương 1955 nay thọc gậy bánh xe phá Mỹ. Sau trận Điện Biên Phủ Pháp cay cú Mỹ đã không cứu họ, năm 1955 lại bị ông Diệm hất cẳng ra khỏi VN nên đã trả thù bằng cách bài kích Mỹ và VNCH suốt cuộc chiến tranh Quốc Cộng. Pháp tuyên truyền không công cho Hà Nội, trắng trợn hơn nữa họ còn cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đặt văn phòng chính thức tại Paris. Ngoài ra CSBV cũng được CS Quốc tế tiếp tay quảng bá tuyên truyền chống Mỹ, một phần do sự sai lầm của người Mỹ đổ quân vào Đông Dương làm mất chính nghĩa của cuộc chiến.
Tình hình phản chiến ở Hoa Kỳ từ 1965 đến 1971 khiến cho chính phủ ngày một suy yếu, đất nước bị phân hoá. Chúng ta có thể kết luận một cách giản dị phong trào phản chiến xuất phát từ tâm lý của anh nhà giầu sợ chết, dù được che đậy dưới hình thức nào cũng không thể dấu diếm được cái bản chất hèn nhát ấy.
Đầu năm 1969 có vào khoảng 31 ngàn lính Mỹ tử thương tại Việt Nam, theo tin tức Mỹ riêng năm 1968 Cộng quân mất gần 290 ngàn cán binh, cho tới cuối 1968 có vào khoảng từ 500 cho tới 600 ngàn Việt Cộng tử thương. Tính ra số tổn thất nhân mạng của Mỹ chỉ bằng 5% hoặc 10% so với BV nhưng họ không bao giờ có một lời than vãn, như thế ta thấy người Mỹ đã sai lầm khi tham gia cuộc chiến tranh với một kẻ thù nghèo đói, thằng nghèo đói không bao giờ sợ chết. Người Mỹ đã sai lầm khi tham dự một cuộc chiến tranh không cân xứng giữa một anh nhà giầu sợ chết và một thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi.
Phản chiến đã tạo niềm tin cho CSBV, họ chỉ chờ có thế. Vào những năm 1952, 1953 người dân Pháp lúc ấy quá chán ghét, ghê sợ cuộc chiến tranh Đông Dương vừa chết người tốn của, trong suốt cuộc chiến tranh 1947-1954 đã có 19 chính phủ Pháp bị đánh đổ vì không giải quyết được cuộc chiến. CS chỉ trông chờ vào phong trào phản chiến để đối phương phải chán ghét rồi bỏ cuộc, chiến lược "cố đấm ăn xôi" của CS đã từng thành công từ cuộc chiến tranh Việt Pháp nay họ lại đem áp dụng vào cuộc chiến tranh chống Mỹ.
Như chúng ta đã biết truyền hình và báo chí Mỹ đã đổ dầu vào lửa, đã thổi phồng những khía cạnh xấu của cuộc chiến tranh VN và hướng dẫn các phong trào phản chiến chống đối chính phủ ép buộc họ phải rút quân bỏ Đông Dương. Nếu không có truyền hình và báo chí chắc hẳn phong trào đã không lên cao như thế. Như đã nói ở trên sau khi ông Walter Cronkite sang thăm chiến trường Việt nam sau trận Mậu Thân 1968, bản tường của ông đã khiến cho phong trào phản chiến tại Mỹ lên cao dữ dội hơn trước, họ cho rằng người Mỹ không thể thắng nổi thằng nghèo đói cố đấm ăn xôi đánh thí mạng cùi. Tết Mậu Thân 1968, VNCH đánh thắng một trận lớn nhưng lại thua cuộc chiến, nó là khúc quanh trong cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ.
Cuối tháng 3-1968 Tổng thống Johnson tuyên bố không tái tranh cử nhiệm kỳ 2 từ 1969-1973, hạn chế oanh tạc Bắc Việt, công khai nhờ Anh và Nga Sô tìm cách hoà giải và để tìm cách rút chân ra khỏi VN. Ngày 13-5-1968 phiên họp đầu tiên của Hoà đàm Ba Lê bắt đầu. Tháng 1 năm 1969 Nixon nhậm chức Tổng thống, thực hiện Việt Nam Hóa chiến tranh, rút quân về nước. Khi chuyển sang giai đoạn Việt Nam hoá chiến tranh người Mỹ đã nghĩ đến việc rút quân bỏ Việt Nam.
Năm 1968 tổng số quân đội Mỹ tại Việt Nam lên tới đỉnh cao 536 ngàn người, năm sau 1969 rút 61 ngàn còn 475 ngàn, năm 1970 rút 141 ngàn còn 334 ngàn, năm 1971 rút 178 ngàn còn 156 ngàn, năm 1972 rút 132 ngàn còn 24 ngàn, sau Hiệp định Ba Lê 27-1-1973 họ rút gần hết chỉ còn lại một số rất ít tuỳ viên, cố vấn quân sự.
Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố không tái tranh cử ngày 31/3/1968
Không những Hoa Kỳ rút quân mà còn cắt giảm quân phí cho cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam, quân phí tụt giảm rõ rệt nhất là từ sau 1969: Năm 1965 người Mỹ chi tiêu 646 triệu, năm 1966 tăng 5 tỷ 8, năm 1967 tăng 20 tỷ, năm 1968 tăng 26 tỷ, năm 1969 tăng 29 tỷ năm 1971, 72 tụt xuống còn 12 tỷ...
Trận mùa hè đỏ lửa 1972 là trận đánh lớn khốc liệt nhất kể từ sau 1965, BV đưa vào Quảng Trị khoảng 5, hoặc 6 sư đoàn, tai Kontum 2 sư đoàn, tại Bình Long An Lộc 3 sư đoàn tổng cộng 10 sư đoàn với xe tăng đại bác phòng không, hoả lực rất mạnh. Hoa Kỳ đã yểm trợ VNCH tối đa để lấy ưu thế tại bàn hội nghị Paris, tổng cộng có 150 máy bay B-52 tham chiến tại cả ba mặt trận và 20 tầu chiến gồm các khu trục hạm, tuần dương hạm để yểm trợ hải pháo tại chiến trường Quảng Trị . Tháng 3-1972 có tất cả 4237 phi xuất của không quân tại Nam VN, trong tháng 5 đã tăng lên 18,444 phi xuất do khoảng 700 chiến đấu cơ và 150 pháo đài bay B-52. Ngoài ra Mỹ còn yểm trợ vận chuyển bằng trực thăng và máy bay C-130 , sau này theo tiết lộ của ông Cao Văn Viên nếu không có yểm trợ của không quân và hải quân Mỹ VNCH có thể mất những tỉnh kể trên không hy vọng chiếm lại được. Hoa Kỳ muốn VNCH phải thắng để lấy ưu thế tại bàn hội nghị để ký Hiệp Định Paris ngày 27-1-1973, rút quân và đem về nước 587 tù binh, Nguyễn Đức Phương đã nhận xét:
"Người Mỹ ký hiệp định Ba Lê với mục đích rút ra khỏi vũng lầy VN đồng thời trao đổi tù binh Mỹ. Quyền lợi chính của miền Nam không được chú trọng đến. Một chuyên viên về du kích chiến, Sir R. Thompson, khi thảo luận về việc ký kết hiệp định Ba Lê đã viết 'Sự sống còn của miền Nam VN bị đe doạ chỉ vì để tránh cho nước Mỹ khỏi phải cấu xé nhau tan nát. Một điều trái ngược ở đây là miền Bắc VN bị bắt buộc phải ngồi vào bàn hội nghị tại Ba Lê không phải để tự cứu họ mà là để cứu nước Mỹ' Vì lý do vừa kể nên mặc dù có quá nhiều khuyết điểm, hiệp định Ba Lê vẫn phải được phê chuẩn với bất cứ giá nào" Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 811.
Sau Hiệp định Paris hơn nửa triệu quân Đồng Minh đã rút đi, Quân đội VNCH một mình phải gánh vác toàn bộ chiến trường với nhiều khó khăn thiếu thốn. Tháng 6-1973 Quốc Hội Mỹ biểu quyết cắt ngân khoản cho tất cả các hoạt động quân sự Mỹ tại Đông Dương Việt Mên lào, được áp dụng từ giữa tháng 8-1973 cấm hoạt động quân sự trên toàn cõi Đông Dương. Tháng 10-1973 Quốc Hội Mỹ ra Đạo luật hạn chế quyền Tổng Thống về chiến tranh (Wars Powers Act), đòi hỏi Tổng thống phải tham khảo ý kiến Quốc Hội trước khi gửi quân đi tham chiến. Cuối 1972 Hoa Kỳ rút hết quân sau Hiệp định Ba Lê, năm 1973 viện trợ quân sự cho VNCH xuống còn 2 tỷ 1, năm 1974 chỉ còn 1 tỷ 4, năm 1975 tụt xuống còn 700 triệu trong đó kể cả ngân khoản để trả lương cho nhân viên DAO Hoa Kỳ. So với 29 tỷ năm 1969 quân phí cho chiến tranh VN chỉ còn 2%.
Các Bộ trưởng ngoại giao ký Hiệp định Paris về VN: William Rogers, thay mặt đoàn Hoa Kỳ; Nguyễn Duy Trinh thay mặt đoàn VN DC-CH; Trần Văn Lắm thay mặt đoàn VN CH; Nguyễn Thị Bình thay mặt đoàn CP CM lâm thời. Nguồn: vietnamnet.vn
Theo ông Cao Văn Viên (Những Ngày Cuối Của VNCH trang 86, 87, 92), hậu quả của cắt giảm quân viện khiến cho Không quân VNCH phải giải tán hơn 200 phi cơ chiến đấu, oanh tạc, vận tải thám thính, giảm giờ bay thực tập và yểm trợ, yểm trợ giảm 50%, vận chuyển trực thăng giảm 70%, không vận bằng vận tải cơ bị cắt giảm 50%. Hoạt động Hải quân bị cắt giảm 50%, hoạt động từ tháng 7-1974 ở sông ngòi giảm 70%, giải tán 600 giang thuyền... Từ tháng 7-1974 quân đội chỉ sử dụng khoảng 19 ngàn tấn đạn một tháng so với 73 ngàn tấn một tháng thời gian trước đó, hoả lực giảm 60%. Vào tháng 2-1975, số lượng đạn tồn kho của tất cả các loại súng trường, phóng lựu, súng cối, đại bác, lựu đạn... tuột xuống con số nguy hiểm, chỉ còn đủ xử dụng từ 25 đến 31 ngày "Tháng 4-1975 , đạn tồn kho ở bốn kho dự trữ tuột dốc xuống mức thấp nhất chỉ đủ xài từ 14 đến 20 ngày". Kể từ sau Hiệp định Paris VNCH không còn trông cậy vào yểm trợ của B-52 nữa.
Phía Cộng Sản Bắc Việt: Lực lực lượng chính qui Bắc Việt 1975 có 4 Quân đoàn (gọi theo thứ tự 1, 2, 3, 4) và đoàn 232 tương đương một Quân đoàn, mỗi Quân đoàn có 3 Sư đoàn, tổng cộng có 15 Sư đoàn chính qui, thêm vào đó một Sư đoàn đặc công, trên 10 trung đoàn độc lập, toàn bộ lực lượng vào khoảng 20 hoặc 21 Sư đoàn, trên 300 ngàn người. Lực lượng yểm trợ hùng hậu gồm trên 20 lữ đoàn, trung đoàn xe tăng, pháo binh, phòng không. Quân số CSBV tại miền Nam giai đoạn 1975 coi như gấp hai lần giai đoạn 1972.
Trong khi miền Nam bị Mỹ cắt giảm viện trợ thì BV được Cộng Sản Quốc Tế giúp đỡ không ngừng nghỉ. Trong buổi hội thảo qui mô tại Sài Gòn ngày 14 và 15-4-2006 do Viện Lịch Sử Quân Sự CSVN tổ chức, họ công bố khối lượng hàng viện trợ quân sự của CS quốc tế như sau: Trong giai đoạn 1969-1972 Nga, Tầu, Đông Âu... đã viện trợ cho Bắc Việt 684.666 tấn vũ khí đạn dược, trong giai đoạn 1973-1975 họ viện trợ cho BV 649,246 tấn vũ khí đạn dược. Chúng ta thấy khối lượng hàng viện trợ trong hai giai đoạn tương đương nhau nhưng giai đoạn trước (1969-72) sự vận chuyển vũ khí đạn dược gặp nhiều trở ngại vì bị không lực Mỹ trải bom, đánh phá, trái lại giai đoạn sau (1973-75) đường xâm nhập gần như bỏ ngỏ nên BV đã xử dụng 16 ngàn xe vận tải chuyên chở được nhiều vũ khí đạn dược gấp bội các giai đoạn trước. Sau ngày 30-4- 1975, báo Sài Gòn Giải Phóng tiết lộ vũ khí đạn dược của BV năm 1975 nhiều gấp ba lần năm 1972.
Nhìn bảng so sánh tương quan lực lượng trên chúng ta thấy rõ miền Nam VN năm 1975 không thể nào tồn tại được .
Phải nói rằng phong trào phản chiến là động cơ then chốt nhất cho sự sụp đổ miền Nam Việt Nam, nó đã gây lên sự chia rẽ cấu xé nhau trầm trọng tại nội bộ Hoa Kỳ. Dù là hành pháp hay lập pháp, dù Dân Chủ hay Cộng Hoà họ cũng đều phải mị dân để kiếm phiếu nên không thể đi ngược phong trào phản chiến, dù đảng nào thì họ cũng là người Mỹ phải vì quyền lợi của đất nước không thể tiếp tục chống biểu tình cắn xé nhau mãi được. Truyền hình báo chí Mỹ đã xuyên tạc cuộc chiến, đâm bị thóc chọc bị gạo gây nên xâu xé nội bộ tại đất nước họ đã ảnh hưởng sâu đậm trên chính sách của chính phủ và do đó sự tồn tại của miền Nam không thể nào đứng vững.
Nay người Mỹ vẫn kết án phong trào phản chiến, họ cho là không có tinh thần yêu nước, chống lại đường lối quốc gia. Năm 2004 ứng cử viên Dân chủ John Kerry bị người ta lật tẩy vì ông đã tích cực tham gia phong trào chống chiến tranh VN trước đây hậu quả là Kerry thất bại chua cay trong cuộc tranh cử. Rút kinh nghiệm trong chiến tranh VN sau này quân đội Mỹ không dễ dàng cho giới truyền thông lấy tin đem về nước để xuyên tạc cuộc chiến. Trong phim Desert Storm nói về chiến tranh 1992 của Mỹ đánh Iraq giải phóng Kuwait, một cảnh khi phóng viên tới lấy tin đã bị lính xua đuổi dữ dội "Get them out! Get them out !!" Đuổi chúng nó đi!!! Đuổi chúng nó đi!!!
Cuộc chiến tranh từ 1964 tới 1975 có 58 ngàn lính Mỹ bị tử thương, phía VNCH có 183 ngàn quân thiệt mạng, thường dân khoảng 250 nghìn người chết. Nhân kỷ niệm hai mươi năm ngày 30-4-1975 chính quyền CS đã chính thức công bố thiệt hại nhân mạng gồm 1 triệu 1 cán binh, khoảng 2 triệu thường dân...
Dưới danh nghĩa giải phóng dân tộc Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gây lên cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn ba mươi năm đằng đẵng và đã làm đổ xương máu nhân dân quá nhiều, cố đấm ăn xôi đẩy hàng triệu thanh niên vào chỗ chết. Họ nói là để tiến lên xã hội chủ nghĩa ưu việt nhưng trớ trêu thay, từ những năm đầu thập niên 90, các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt tan rã, từ bỏ xã hội chủ nghĩa trở về tư bản chủ nghĩa. Họ không thể ngoan cố theo đuổi mãi được vì xã hội chủ nghĩa là con đường chết đưa tới kiệt quệ, lầm tham đói khổ.
CSVN cũng đã phải từ bỏ kinh tế xã hội chủ nghĩa nhưng vẫn còn độc tài ngoan cố, bóc lột nhân dân xương tuỷ, họ không thể quay ngược bánh xe lịch sử. Sáu mươi năm trước đây, thánh Ghandi đã nói "Chúng ta thấy qua lịch sử, con đường của sự thật và tình thương luôn luôn thắng bạo tàn, độc ác, bất nhân... Bạo tàn chỉ thắng lợi được một thời gian rồi cũng phải thất bại sụp đổ tan tành". (Kết)
Điện báo www.Danchimviet.com ngày 17-7-2009: Walter Cronkite phóng viên huyền thoại của Mỹ từ trần thọ 92 tuổi. Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001. Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại Nam. Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003. Chánh Đạo: Mậu Thân 68 Thắng Hay bại? Văn Hoá 1998. Đoàn Thêm: 1965 Việc Từng Ngày, Xuân Thu xuất bản. Đoàn Thêm: 1966 Việc Từng Ngày , Xuân Thu. Đoàn Thêm: 1969 Việc Từng Ngày, Xuân Thu. Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh, 2005. Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988. Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987. Văn Tiến Dũng: Đại thắng Mùa Xuân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HàNội 2005. Trần Đông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng, Nam Việt 2006. Dương Đình Lập: Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi dậy Mùa Xuân 1975, Nhà xuất bản Tổng Hợp T.P.H.C.M 2005. Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990. Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Viet Nam, 1986, Sphinx Publishing. The Word Almanac Of The Viet Nam War: John S. Bowman - General Editor, A Bison-book 1958. Stanley Karnow: Viet Nam, A History, A Penguin Books 1991. Marilyn B. Yuong, John J. Fitzgerald, A. Tom Grunfeld: The Viet Nam War, A history in documents, Oxford University Press 2002. Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam: Người Việt Dallas 21-6-2006 . Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ Cung dịch, Người Việt Dallas số 26-4-2006. Trung Tướng Lữ Lan: Cuộc Chiến Ba Mươi Năm Nhìn Lại Từ Đầu, Sài Gòn nhỏ Dallas 28-4-2006.