Khi dịch bản tin của Washington Post về cái chết của Walter Cronkite, một người trụ cột của ngành truyền thông Mỹ, tôi có nhắc đến lời nhận định bất hủ của ông - một câu nói mà trong sử liệu, phim ảnh cũng như các chương trình TV Mỹ thường hay được trích dẫn như nhắc nhở đến sự sai lầm của chính quyền Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam:
"Khi nói rằng chúng ta sắp đạt được chiến thắng ở Việt Nam hôm nay, trong khi phải đối đầu với những chứng cớ, là mặc nhiên tin vào những kẻ lạc quan (tếu) mà trước đây đã từng bị chứng minh là mình sai," ông Cronkite nói, và lời phê bình đó đã cấy vào tâm trí hàng triệu người Mỹ sự hoài nghi về các bản báo cáo chính thức của chính quyền Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Khán giả của ông Cronkite đoan chắc rằng ông không bao giờ nói láo với họ, trong khi Nhà Trắng và Bộ Quốc Phòng lại không đạt đến mức độ tin tưởng cao như ông." (1)
Mục đích của tôi không phải chỉ muốn nhắc lại chuyện quá khứ, nhưng đã gần 45 năm trôi qua một số truyền thông Mỹ vẫn ngoan cố bóp méo sự thật của cuộc chiến đó. Mỗi khi có một nhân vật quan trọng có liên hệ với cuộc chiến Việt Nam ra đi vào cõi vĩnh hằng, thì y như rằng những nhận định sai lầm của họ vẫn được truyền thông Mỹ nhắc lại như là một nguyên lý hiển nhiên!
Như vậy người Mỹ có trách nhiệm phải giải thích ra sao về những tồn đọng của nghịch lý và lấn cấn trong cuộc tham chiến của họ? Gạt miền Nam sang một bên để lý giải rằng chuyện sai lầm của mình là không ý thức được "tinh thần quốc gia" của phía Cộng sản như ông Mc Namara đã làm sau 40 năm là một chuyện tối nghĩa và ti tiện!
Trước khi mạn bàn đến chuyện cũ (chiến tranh Việt Nam), tôi xin khẳng định lập trường: cá nhân tôi từ lâu vẫn tin rằng cuộc đổ bộ và leo thang ào ạt của quân đội Mỹ vào Việt Nam là một chuyện phản tác dụng (1a), đi ngược lại tính chính thống của cuộc chiến Quốc-Cộng, vì miền Nam vốn là tiền đồn nối dài ý nghĩa và chính nghĩa "quốc gia dân tộc" trong cuộc bảo vệ chống lại sự bành trướng của Cộng sản Quốc tế (được ủy nhiệm cho Hồ chí Minh và lãnh đạo Hà nội).
Tuy nhiên sau nền Đệ Nhất Cộng Hòa các lãnh tụ miền Nam đã nương tựa quá nhiều vào Mỹ, khiến cho lý tưởng và cứu cánh của cuộc đấu tranh bị giảm đi, góp thêm vũ khí tuyên truyền cho Cộng sản (và MTGPMN) miền Bắc. Có lẽ từ đó, chính thể của miền Nam đã nằm chênh vênh bên bờ trơn trợt của hố sâu vực thẳm. Thế cuộc đã chia cho miền Nam những lá bài xấu, nhưng điều đó không bắt buộc miền Nam phải thua. Lẽ ra, thất bại vì chính nghĩa không phải là một chuyện tiệt nhiên được định phận tại thiên thư!
Đương nhiên, như ông Bùi Tín nhận xét trong quyển From Enemy to Friend (Từ Thù Đến Bạn) cuộc chiến Việt Nam không như một ván bài, người ta không thể xóa đi và đánh lại. Miền Nam đã chiến bại, có ví von, giá như Mỹ đừng bỏ cuộc hay miền Nam đừng quá tin vào Mỹ, ông Thiệu đừng 'dọa' Nixon rút quân về Sàigòn (bỏ ngõ vùng I Chiến thuật quá vội vã) thì cục diện không như vầy. Vấn đề ở đây, tôi chỉ phân tích chuyện cũ để phản biện với những nghịch lý của các nhân vật Hoa Kỳ then chốt trong lịch sử.
Cái khó của một người Việt dạy sử Hoa Kỳ như tôi là những lúc phải đương đầu với những câu nói của Daniel Ellsberg (The Pentagon Papers, hồ sơ Mật Ngũ Giác Đài) Walter Cronkite hay Robert Mc Namara trong lúc giảng dạy cũng như khi trích dịch hay viết những bài tương tự. Không những các nhà báo kỳ cựu như ông Walter Cronkite, Peter Jennings (ABC), David Halberstam (New York Times) mà đến cả những phóng viên đương đại như Thomas Friedman của tờ New York Times, một columnist 3 lần đoạt giải "Pulitzer Prize", đều có những nhận định sai lầm về chiến tranh Việt Nam.
Trong một bài viết so sánh Iraq với Việt Nam, ông Thomas Friedman cho rằng Mỹ chưa thuộc bài học Việt Nam, nên tiên đoán, vì kinh nghiệm Việt Nam cho thấy, Mỹ sẽ thua, ngụ ý cho rằng Iraq và Việt Nam có những điểm tương đồng. Thật là một điều sỉ nhục! Đối với tôi và những người Việt ý thức được cuộc tranh đấu của Việt Nam -- cho một nền dân chủ dù phôi thai chống lại một chủ nghĩa Cộng sản quốc tế đã mượn lá cờ dân tộc làm chiêu bài thu hút dân chúng -- đã khởi nguồn gần nửa thế kỷ trước khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam! Trong khi ở Iraq, sau khi lật đổ Saddam Hussein, Hoa Kỳ chỉ mới khai mào một cuộc kháng chiến với sự tham gia của các sắc dân Hồi giáo Sunni và Shi'ite. Iraq và Việt Nam không có một điểm tương đồng nào, từ nguyên do cho đến lý tưởng cũng như các thành phần tham gia hai cuộc chiến.
Ông Friedman (và một số các đồng nghiệp) còn đi xa hơn, ví sự thất bại của Mỹ ở Haditha (Iraq) với cuộc tổng công kích Mậu Thân, một trận đánh mà ông cho là Mỹ và quân đội miền Nam phải bỏ đến hơn một năm để dẹp loạn. Không hiểu vào thời chiến tranh Việt Nam ông ở đâu và làm gì, (còn học trung học St Louis Park High School ở Minnesota và Brandeiss University ở Massachusetts) để bây giờ bổng nhiên trở thành một nhà chuyên môn về chiến trường Việt Nam?
Sau này tình cờ vào mạng Wikipedia, tôi chợt phát hiện sự trùng lập về ngày tháng của trận Mậu Thân giữa ông Friedman và Wikipedia, thật đúng với cái biệt danh "Wikipedian journalist" mà tôi đã gán cho ông trong một bài viết Anh ngữ. Ngày nay, trong giới báo chí và học giả hiểu biết của Hoa Kỳ, ai cũng đều công nhận trận Mậu Thân là một sự thất bại nặng nề cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Quân đội miền Nam và Mỹ đã đánh tan địch quân trong vòng một tháng. Sau này bộ đội chính quy miền Bắc phải được xung công vào miền Nam để thay thế những tổn thất này.
Nhưng vào thời đó, hình ảnh (được truyền hình đến các gia đình ở Mỹ), các anh Việt Cộng chạy lung tung trên đường phố ở các thành phố miền Nam, và những trận đánh sáp lá cà, từ nhà này sang nhà khác đã làm dân chúng Hoa Kỳ kinh hoàng, kể cả hình ảnh những anh lính Việt Cộng chui cống đột nhập vào tòa đại sứ Mỹ cuối cùng bị Quân Cảnh (Military Police) Mỹ cho nổ lựu đạn và lôi xác lên.
Những cuộc nổi dậy, những cuộc đồng khởi, chứng minh sự hậu thuẫn dân tộc mà Cộng sản có được ở miền Nam, không xảy ra như lãnh đạo miền Bắc tuyên truyền, nhưng nó đã xảy ra trên giấy tờ, và sau ngày 30 tháng Tư trên những tên đường như Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Công Lý cũ), Đồng Khởi (Tự Do cũ) để người dân phải ứng khẩu thành hai câu thơ:
"Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên diệt Tự Do"
Khi ông Cựu bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Mc Namara qua đời hai tuần trước đây, người ta cũng nhắc lại lời nhận lỗi gián tiếp của ông là ông không hiểu ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam. Ý ông muốn đồng hóa Đảng Cộng sản Việt Nam với dân tộc Việt Nam!
Trong phim tài liệu đoạt giải Academy, "The Fog of War" (Sương mù chiến tranh) của Errol Morris, ông Mc Namara cho rằng Cộng sản Việt Nam là tiếng nói cũng như đại diện chính thống của dân tộc Việt. Một đoạn phim cho thấy ông cựu Tổng trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch (lúc ấy đã bát tuần) tranh cãi và bào chữa cho lý tưởng Cộng sản (đội lốt quốc gia) của mình. Ông nắm tay và đấm mạnh trong không khí, mặt ông căng ra, gân cổ nổi lên, ông nhe cả răng lợi. Ông đóng kịch hăng say và tài tình đến nỗi ông Mc Namara đã mô tả lại cuộc tranh luận giữa hai người như thể chúng tôi "sắp choảng nhau."
Đó là vào năm 1995 sau khi Hoa kỳ và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với nhau, và đã tổ chức một cuộc họp ngoại giao cao cấp nhất giữa hai cựu thù địch. Ông Mc Namara qua Hà Nội để thử giả thuyết của mình: "Hai nước có thể đạt được mục tiêu của họ mà không phải tổn thất về nhân mạng cao như thế?"
Nguyễn Cơ Thạch: "Ông ạ, ông sai hoàn toàn, chúng tôi chiến đấu để giành độc lập, trong khi các ông chiến đấu để nô lệ hóa chúng tôi."
Robert McNamara: "Ông định nói thế nào, cuộc chiến không phải là một thảm họa cho đất nước ông à, Việt Nam tổn thất hơn 3.400.000 mạng người mà so với tỷ lệ dân số Hoa Kỳ, tương đương với con số 27.000.000 người? Việt Nam đã đạt được cái giải gì? Các ông cũng không thu thập được gì hơn những điều mà chúng tôi đã sẵn sàng giao nhượng cho các ông lúc bắt đầu chiến tranh? Ông có thể có tất cả những gì các ông muốn: độc lập, thống nhất đất nước."
Nguyễn Cơ Thạch: Thưa ông McNamara, ông không đọc sử. Nếu có, thì ông đã biết chúng tôi không phải là con cờ của Trung quốc hay Liên Xô. McNamara, ông có biết điều đó không? Bộ ông không biết là chúng tôi đã tranh đấu chống Trung Hoa trên cả nghìn năm nay sao? Chúng tôi chiến đấu giành độc lập, và chúng tôi có thể tranh đấu cho đến người cuối cùng, một điều chúng tôi quyết chí hy sinh cho đến chót. Không một số tiền nào, không một áp lực nào của Mỹ có thể ngăn cản được chúng tôi." (2)