Danchimviet - http://danchimviet.com
Nhìn ngang sông Nhật Lệ
http://danchimviet.com/articles/1300/1/-Nhin-ngang-song-Nht-L/Page1.html
Nguyễn Hữu Liêm

 
Tác Giả Nguyễn Hữu Liêm
Đăng/Published on 19.07.09
 
Tiếng Anh nay đã trở nên biểu tượng của đẳng cấp.  À ra vậy!  Nếu người Việt nói tiếng Hán, hay Pháp, hay Anh thì chắc đã không có cuộc chiến vừa qua.  Chiến tranh chỉ là một hệ quả của ngôn ngữ...

Đồng Hới, Quảng Bình, ngày 8 tháng 7:  Phái đoàn giáo dục của một đại học ở Đà Nẳng ghé ngang qua làng tôi bên thị trấn Ái Tử, Quảng Trị đón tôi lên xe đi về phía bắc.  Xe chúng tôi tranh nhau với những chiếc xe hàng và hành khách chạy bạt mạng trên quốc lộ 1A đông xe, đông người.  Đến Đông Hà vào giờ trưa, chúng tôi ghé vào quán ăn bên đường.  Cả ba ngày qua, tôi đã ở trong làng Bích La, Triệu Phong cùng bà con, làng xóm.  Những bữa cỗ làng heo xôi, rượu đế, cúng tế lăng tẩm.  Về đây, đi đâu cũng thấy các bàn tiệc đầy bia Heineken, hay bia Huda, lẫu cá, dĩa rau tươi, hải sản và tiếng nói cười ầm ĩ, bất tận.  Ai cũng muốn nói thật to, bày tỏ ý kiến, cười ha hả áp đặt quan điểm của mình.  Đất nước và con người hôm nay không ngừng những âm thanh thật cao, tối đa âm lượng.  Tài xế luôn tay bóp còi liên tục.  Các bàn nhậu thi nhau “dzô! dzô!”  Đây là cõi mà mọi chúng sinh như đang phải trải qua kinh nghiệm “quán thế âm.”  Không có âm thanh nào làm cho ai phải buồn phiền cả.  Tất cả chỉ còn là tiếng “Om” giải thoát nhiệm mầu.

Xe đi qua Dốc Miếu, Gio Linh, nơi gợi tôi nhớ đến nhà thơ Tố Hữu.  Một người ngồi trong xe ngâm thơ của Tố Hữu rồi đến thơ thiền của Hoàng Quang Thuận.  Đất Gio Linh bây giờ yên lặng đầy mầu xanh cây cỏ.  Tôi nhìn lên phía núi Trường Sơn mà lắc đầu không muốn nghĩ đến những gì đã xẩy ra ở đây hơn 40 năm trước.  Cái dốc đường này đâu có cao bao nhiêu đâu, thế mà sao đối với con người và lịch sử Việt Nam lại phải lao nhọc đến thế?  Chúng tôi tranh luận nhau về thơ và con người Tố Hữu.  Ông là một thi sĩ lớn trong giai đoạn lịch sử đó, một nhân tài say mê và hồn nhiên theo cơn sóng chủ nghĩa, phong trào, và nhiệt tình cách mạng.  Từ những câu thơ cho Điện Biên, cho chiến sĩ, cho giòng sông Nhật Lệ, Thạch Hãn đến khóc thương Sít Ta Lin, Tố Hữu là một con người Việt Nam đúng nghĩa - với tất cả những chân tình, dũng cảm, say mê, tài năng và u muội trong tính chất thiếu niên chung của cả một dân tộc đang cố gắng vươn mình đi vào thời đại mới.  Tôi muốn có một tượng đài cho Tố Hữu ở Dốc Miếu này - với một bảng bia thật to, hoành tráng ghi lại những bài thơ bất hủ, kể cả bài “Khóc Sít Ta Lin,” của nhà thơ chiến tranh này.  Tố Hữu tiên sinh ơi: Nhớ ông tôi nhớ một, nhưng với dân Gio Linh thì tôi thương mười, ông ạ!

Khi xe băng sông Bến Hải, tôi nhìn qua chiếc cầu Hiền Lương cũ ngày xưa.  Ngày 20 tháng 7, 1967 tôi đã từng ra đây dự mít tinh ngày chia đôi đất nước.  Lúc đó mới hơn mười tuổi, nhưng tôi vẫn còn nhớ những âm thanh, những khẩu hiệu, những mầu sắc xa xôi kia.  Sông Bến Hải không có gì là đặc biệt cả.  Nhưng cái tên Bến Hải đã gợi cho tôi những ấn tượng ký ức khó quên. Bốn mươi năm đi qua!  May thay là tôi đã sống còn ở đất nước, vùng vĩ tuyến bom đạn máu xương ghê gớm này.  Tạ ơn Trời Phật!  Chiếc cầu Hiền Lương từng chia cắt hơn là bắc nhịp; sông Bến Hải chia giòng hơn là kết nối.  Nay chiếc cầu mới qua sông xưa xóa hết nỗi u sầu vọng tưởng. Chỉ còn có tôi trong những người ngồi trong xe này, có lẽ thế, lan man với nỗi lòng của nửa thế kỷ trước.   Trong ký ức thiếu niên này, Bến Hải chỉ như là một vạch ngắn trên bãi sông để cho hai đám trẻ con chơi trò tiêu khiển.  Khổ đau ư?  Không đâu!  Mỗi dân tộc, cũng như mỗi đời người, phải có những giòng sông chia rẽ để mà thống hợp, những “cuộc chiến hoa Hồng” để mà cây vườn nở nụ mới.  Con người Quảng Trị, Quảng Bình đã không hề khổ đau.  Họ chỉ có những cơn đau thân xác.  Khổ đau đòi hỏi sự trưởng thành của tâm thức; cơn đau thân xác chỉ là phản ứng cơ thể.  Nếu con người biết khổ đau thì hắn đã trưởng thành.  Con người và dân tộc Việt Nam chưa từng trải nghiệm qua khổ đau nào từ tâm thức cả.

 
 Cô dâu trên cái trắng Quảng Trị (nguồn vnanet.vn)

Đất nước xứ này có những đồi cát trằng, những đầm nước ngọt, những đồng lúa mạ xanh nằm về phía biển; dãy Trường Sơn xanh ngắt huyền bí ở phía kia.  Chỉ cần nhìn những cảnh trí quê hương này, lòng tôi cũng tràn ngập niềm hạnh phúc đơn sơ.  Xe đến Quảng Bình khoảng 3 giờ chiều.  Cơn nắng mùa hè ở đây gay gắt, oi bức.  Chúng tôi quẹo xe vào một con lộ bên giòng Nhật Lệ.  Ông bạn ngồi bên nhắc nhở tôi rằng từ 1965 đến 1973, ở thành phố Đồng Hới này, bên giòng sông này, bên những con đường phơi nắng này, biết bao thịt xương đã ngã xuống, bao nhiêu máu hồng đã chảy.  Tôi hỏi về ý nghĩa của tên giòng sông.  Tại sao là “Nhật Lệ”?  Nước mắt ban ngày?  Giòng sông này to rộng hơn cả Hương Giang, Thu Bồn, Đồng Nai, Thạch Hãn.  Mìền Trung có rất nhiều những giòng sông to rộng với đầy những bến đò đây đó.  Tôi muốn bơi qua hết những giòng sông này.

Phái đoàn giáo dục chúng tôi là khách mời của tỉnh Quảng Bình.  Xe dừng và mọi người vào lấy phòng đã đặt sẵn ở một khách sạn quốc doanh khá sang trọng, nhìn ra cửa sông Nhật Lệ và biển.  Trong khách sạn hầu hết đều ghi chú bằng Anh ngữ.  Nhưng tôi nhìn kỹ thì không có một khách ngoại quốc nào – mà hầu hết là người Việt ngoài Hà Nội vào đây tắm biển.  Tiếng Anh nay đã trở nên biểu tượng của đẳng cấp.  À ra vậy!  Nếu người Việt nói tiếng Hán, hay Pháp, hay Anh thì chắc đã không có cuộc chiến vừa qua.  Chiến tranh chỉ là một hệ quả của ngôn ngữ.  Mà ngôn ngữ là kết tinh của một trình độ tâm thức.  Chữ viết và nói như thế nào thì sẽ có loại chiến tranh và hòa bình thế đấy.  Khách sạn sang trọng, cao cấp, chất lượng cần phải có tiếng Anh – và nhất là không nên có tiếng Việt.  Ta chiến đấu tiêu diệt giai cấp cao cấp đó vì bọn nó có một ngôn ngữ mà ta không hiểu - để rồi ta phải được như bọn đó, chinh phục thứ ngôn ngữ ngoại lai kia bằng cách dán lên trên khăn tắm, trên phòng ngủ, trên các bảng chỉ dẫn sử dụng tiện nghi.  Người Việt bây giờ có hai nơi họ không hiểu những câu viết trên tường là chi.  Một bên là các nơi đền thờ, lăng miếu với các giòng Hán ngữ ngoằn ngoèo, nguệch ngoạc; bên khác là các khách sạn, khu nghĩ dưỡng cao cấp với các chữ tiếng Anh xếp đặt lộn chiều (“free bacteria” thay vì “bacteria free”).  Tôi thích nhất là cùng sống chung với các anh nông dân mới lên tỉnh học làm sang.  Họ cũng giống như tôi – và tôi chính là họ.  Chai nước suối đầu giường với giá 3 dollars chưa chắc gì ngon ngọt hơn nước giếng làng tôi. Nhưng nó phải là ngon ngọt hơn - bởi vì nó đắt tiền hơn, có tên gọi bằng Anh ngữ, và giá cả bằng Mỹ kim.  Dân tộc Việt Nam đang tự giải phóng chính mình ra khỏi quá khứ bằng ngôn ngữ.  Không lạ chi mà cả nước bây giờ đi đâu cũng tràn ngập phong trào học Anh văn.  Cái sang trọng bắt đầu bằng ý chí làm sang.  Đây có thể là một khúc quanh ngôn ngữ thứ hai cho dân tộc.  Chúng ta đang đi đúng đường!

 
 Trường Đại Học Quảng Bình (nguồn: daihoc quang binh)

Chiều xuống, chúng tôi đi ngang qua đại học Quảng Bình.  Ngài hiệu trưởng ở đây, nghe nói, là một con người đặc biệt.  Ngài khai tiền lương năm qua, cũng nghe nói, là 365 triệu đồng. Ngài đóng thuế thu nhập là 58 triệu.  Đó là chỉ theo lời khai.  Còn bổng lộc khác nữa thì chắc là phải gấp ba.  Ngoài vợ ra, ngài còn có đến bảy cô bạn gái, tất cả đều là nữ giáo sư trong trường.  Ai nói rằng nền giáo dục nước nhà không biết đãi ngộ nhân tài?  Bạn thử tưởng tượng bảy cô giáo gốc Quảng Bình cùng chia chung một người tình trong một khung trường đại học.  Tôi yêu quá cuộc chiến hoa hồng không đẫm máu này.  Lịch sử đã sang trang.  Đồng Hới đã chuyển hướng.  Câu chuyện của thành phố và của sinh viên bây giờ không còn là chiến tranh, máu lửa, chết chóc – mà là cái khốn khó loay hoay của những nhà giáo cấp đại học đang thử nghiệm tình yêu nam nữ thay cho lòng yêu nước.  Hận thù nay đã thành ghen tuông.  Dân tộc nay là cá nhân.  Tôi nhìn lên mái ngói đỏ của căn nhà lớp học nửa Tây, nửa Tàu mà thấy như có tiếng chim se sẻ cùng ca cho tôi nghe bài ngợi ca trong sáng và hồn nhiên về con người xứ Quảng.  Ha! Ha!  Triết gia Paul Ricoeur cũng chưa hề nhắc đến cái “second naivete” này!  Hạnh phúc thay chúng ta được làm người - nhất là làm nhà giáo đại học ở xứ sở miền xa.  Vì ai đây suốt cả cuộc đời chỉ biết yêu đương và hy sinh cho đất nước và gái trai.  Sức mạnh bản năng sinh tồn và tiếp nối của nòi giống Việt Nam bao giờ cũng cao ngất như rặng Trường Sơn kia.


Hôm sau tôi trở lại làng Bích La.  Đang ngồi uống cà phê bên đường với bạn hữu bà con vào buổi sáng thì có người la hoảng, kêu to.  Bà chị họ của tôi lấy chồng làng bên đã bị xe chở hàng cán chết ngay nơi bến đỗ mà tôi đón xe đi ra Quảng Bình ngày hôm trước.  Nhà chị nghèo lắm, nghèo, nghèo lắm.  Chị sinh một hơi bốn thằng con trai nheo nhóc, gầy gò suốt ngày hồn nhiên ở truồng chơi với bụi đất.  Ông chồng chị không có công việc chi cả, kể cả cày bừa.  Anh ta suốt ngày say sưa la mắng, đánh đập chị.  Mỗi lần anh chồng chở xe đạp đem chị đi đẻ là to tiếng chửi rủa chị “Vì răng mà mi lại có bầu?”, “Răng mi không nhảy rào (sông) mà chết đi cho rãnh nợ?”, “Đồ chết dịch, răng mi không đâm đầu vào xe tải cho nó cán, để tau khỏi lo?”  Lời nguyền của anh chồng nay đã thành sự thực.  Sáng hôm ấy, chị đạp xe đạp lên chợ Quảng Trị, 10 cây số, mua tỏi, hành, khoai sắn, lá chuối, chở đầy chiếc xe đạp ọp ẹp, chạy ép theo lề quốc lộ 1A đi ra Đông Hà bán lại, kiếm tiền chút ít nuôi bầy con – và cho chồng uống rượu say xỉn.  Khi xe đạp chị chạy qua ngã ba đường ở Ái Tử, bên quán cà phê, chiếc xe tải lớn chạy đường xa, đã đi sát lề, móc vào ghi đông tay lái của chị, vất tung chị vào lề đường.  Chị vỡ sọ ra và chết không kịp ngáp.  Cả làng chạy ra bồng chị lên.  Tôi đứng từ xa nhìn mà cùng khóc với bà con.  Bà bác tôi la lên, “Ôi cái con T. nó khổ lắm.  Nó chết đi là sướng đó.”  Ai nói rằng con người xứ Quảng chưa hề biết khổ đau?

© 2009 Đàn Chim Việt Online