Đồng Hới, Quảng Bình, ngày 8 tháng 7:  Phái đoàn giáo dục của một đại học ở Đà Nẳng ghé ngang qua làng tôi bên thị trấn Ái Tử, Quảng Trị đón tôi lên xe đi về phía bắc.  Xe chúng tôi tranh nhau với những chiếc xe hàng và hành khách chạy bạt mạng trên quốc lộ 1A đông xe, đông người.  Đến Đông Hà vào giờ trưa, chúng tôi ghé vào quán ăn bên đường.  Cả ba ngày qua, tôi đã ở trong làng Bích La, Triệu Phong cùng bà con, làng xóm.  Những bữa cỗ làng heo xôi, rượu đế, cúng tế lăng tẩm.  Về đây, đi đâu cũng thấy các bàn tiệc đầy bia Heineken, hay bia Huda, lẫu cá, dĩa rau tươi, hải sản và tiếng nói cười ầm ĩ, bất tận.  Ai cũng muốn nói thật to, bày tỏ ý kiến, cười ha hả áp đặt quan điểm của mình.  Đất nước và con người hôm nay không ngừng những âm thanh thật cao, tối đa âm lượng.  Tài xế luôn tay bóp còi liên tục.  Các bàn nhậu thi nhau “dzô! dzô!”  Đây là cõi mà mọi chúng sinh như đang phải trải qua kinh nghiệm “quán thế âm.”  Không có âm thanh nào làm cho ai phải buồn phiền cả.  Tất cả chỉ còn là tiếng “Om” giải thoát nhiệm mầu.

Xe đi qua Dốc Miếu, Gio Linh, nơi gợi tôi nhớ đến nhà thơ Tố Hữu.  Một người ngồi trong xe ngâm thơ của Tố Hữu rồi đến thơ thiền của Hoàng Quang Thuận.  Đất Gio Linh bây giờ yên lặng đầy mầu xanh cây cỏ.  Tôi nhìn lên phía núi Trường Sơn mà lắc đầu không muốn nghĩ đến những gì đã xẩy ra ở đây hơn 40 năm trước.  Cái dốc đường này đâu có cao bao nhiêu đâu, thế mà sao đối với con người và lịch sử Việt Nam lại phải lao nhọc đến thế?  Chúng tôi tranh luận nhau về thơ và con người Tố Hữu.  Ông là một thi sĩ lớn trong giai đoạn lịch sử đó, một nhân tài say mê và hồn nhiên theo cơn sóng chủ nghĩa, phong trào, và nhiệt tình cách mạng.  Từ những câu thơ cho Điện Biên, cho chiến sĩ, cho giòng sông Nhật Lệ, Thạch Hãn đến khóc thương Sít Ta Lin, Tố Hữu là một con người Việt Nam đúng nghĩa - với tất cả những chân tình, dũng cảm, say mê, tài năng và u muội trong tính chất thiếu niên chung của cả một dân tộc đang cố gắng vươn mình đi vào thời đại mới.  Tôi muốn có một tượng đài cho Tố Hữu ở Dốc Miếu này - với một bảng bia thật to, hoành tráng ghi lại những bài thơ bất hủ, kể cả bài “Khóc Sít Ta Lin,” của nhà thơ chiến tranh này.  Tố Hữu tiên sinh ơi: Nhớ ông tôi nhớ một, nhưng với dân Gio Linh thì tôi thương mười, ông ạ!

Khi xe băng sông Bến Hải, tôi nhìn qua chiếc cầu Hiền Lương cũ ngày xưa.  Ngày 20 tháng 7, 1967 tôi đã từng ra đây dự mít tinh ngày chia đôi đất nước.  Lúc đó mới hơn mười tuổi, nhưng tôi vẫn còn nhớ những âm thanh, những khẩu hiệu, những mầu sắc xa xôi kia.  Sông Bến Hải không có gì là đặc biệt cả.  Nhưng cái tên Bến Hải đã gợi cho tôi những ấn tượng ký ức khó quên. Bốn mươi năm đi qua!  May thay là tôi đã sống còn ở đất nước, vùng vĩ tuyến bom đạn máu xương ghê gớm này.  Tạ ơn Trời Phật!  Chiếc cầu Hiền Lương từng chia cắt hơn là bắc nhịp; sông Bến Hải chia giòng hơn là kết nối.  Nay chiếc cầu mới qua sông xưa xóa hết nỗi u sầu vọng tưởng. Chỉ còn có tôi trong những người ngồi trong xe này, có lẽ thế, lan man với nỗi lòng của nửa thế kỷ trước.   Trong ký ức thiếu niên này, Bến Hải chỉ như là một vạch ngắn trên bãi sông để cho hai đám trẻ con chơi trò tiêu khiển.  Khổ đau ư?  Không đâu!  Mỗi dân tộc, cũng như mỗi đời người, phải có những giòng sông chia rẽ để mà thống hợp, những “cuộc chiến hoa Hồng” để mà cây vườn nở nụ mới.  Con người Quảng Trị, Quảng Bình đã không hề khổ đau.  Họ chỉ có những cơn đau thân xác.  Khổ đau đòi hỏi sự trưởng thành của tâm thức; cơn đau thân xác chỉ là phản ứng cơ thể.  Nếu con người biết khổ đau thì hắn đã trưởng thành.  Con người và dân tộc Việt Nam chưa từng trải nghiệm qua khổ đau nào từ tâm thức cả.

 
 Cô dâu trên cái trắng Quảng Trị (nguồn vnanet.vn)

Đất nước xứ này có những đồi cát trằng, những đầm nước ngọt, những đồng lúa mạ xanh nằm về phía biển; dãy Trường Sơn xanh ngắt huyền bí ở phía kia.  Chỉ cần nhìn những cảnh trí quê hương này, lòng tôi cũng tràn ngập niềm hạnh phúc đơn sơ.  Xe đến Quảng Bình khoảng 3 giờ chiều.  Cơn nắng mùa hè ở đây gay gắt, oi bức.  Chúng tôi quẹo xe vào một con lộ bên giòng Nhật Lệ.  Ông bạn ngồi bên nhắc nhở tôi rằng từ 1965 đến 1973, ở thành phố Đồng Hới này, bên giòng sông này, bên những con đường phơi nắng này, biết bao thịt xương đã ngã xuống, bao nhiêu máu hồng đã chảy.  Tôi hỏi về ý nghĩa của tên giòng sông.  Tại sao là “Nhật Lệ”?  Nước mắt ban ngày?  Giòng sông này to rộng hơn cả Hương Giang, Thu Bồn, Đồng Nai, Thạch Hãn.  Mìền Trung có rất nhiều những giòng sông to rộng với đầy những bến đò đây đó.  Tôi muốn bơi qua hết những giòng sông này.