Danchimviet - http://danchimviet.com
Giải pháp Bảo Đại [2]
http://danchimviet.com/articles/1294/1/Gii-phap-Bo-i-2/Page1.html
Trọng Đạt

 
Tác Giả Trọng Đạt
Đăng/Published on 17.07.09
 
Bảo Đại không tham quyền cố vị, khi cần hy sinh sẵn sàng từ bỏ địa vị không như các chính quyền kế vị ông khi bị nhân dân chống đối biểu tình đầy đường đầy chợ vẫn cứ ngồi lì ra không chịu xuống.

Tháng 2-1951 Hồ Chí Minh bắt đầu chửi Mỹ, người bạn trước đây đã giúp Hồ nhiều khí giới để chống phát xít Nhật nay lại quay ra giúp Pháp, trong số các tay lãnh đạo Việt Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp là hai người tôn sùng Mao và lý thuyết quân sự Mao. Các Đại đoàn 304, 308, 312 đã xâm nhập trung du Bắc Việt, đe dọa Hà Nội, trận chiến leo thang ác liệt, tính đến tháng 11 năm 1950 có 15 ngàn quân Pháp tử trận, Việt Minh bắt đầu đánh lớn, ngày 13-1-1951 họ đánh đồn Bao Chúc gần Vĩnh Yên, chiếm được nhiều cao điểm quanh Vĩnh Yên, khi ấy Hà Nội coi như sắp mất, trận Vĩnh Yên diễn ra dữ dội. De Lattre trưng dụng máy bay lập cầu không vận tiếp tế cho Vĩnh Yên.

Trận này Võ Nguyên Giáp chỉ huy theo chiến thuật biển người thí quân hằng hà sa số. Trận chiến không có cứu thương, hai bên chỉ lo bắn giết, thương binh bị bỏ lại quằn quại trên vũng máu cho tử thần. Giáp huy động sư đoàn 308, 312 hết lớp này đến lớp khác y như sóng người, đại liên Pháp bắn không xuể, hai bên bây giờ trộn trấu, Việt Minh đánh chia cắt 6 ngàn quân Pháp, 24 tiểu đoàn Việt Minh giáp mặt 3 liên đoàn Pháp.

Trận đánh diễn ra thật ác liệt, De Lattre bỗng quyết định táo bạo tàn nhẫn mà không ai ngờ tới, ông cho tập trung 100 phi cơ ném 300 quả bom săng lửa (napalm) xuống giữa trận tuyến thí quân cả hai bên, lửa đỏ rực cả một góc trời, một biển lửa kinh khủng để lại hàng đống xác cháy thui. Trong trận này Việt Minh mất 6 ngàn người, 500 bị bắt làm tù binh, Giáp và cố vấn Tầu cũng không ngờ De Lattre chơi bạo đến thế, đồ tể Giáp lại gặp tên cuồng sát De Lattre. Sau khi đã bổ sung quân số và trang bị lại đầy đủ Giáp dùng các Đại đoàn 308, 312, 316 tấn công Mạo Khê đe dọa Hải Phòng, lực lượng Pháp gồm 400 lính Thổ. Các đợt xung phong biển người của Việt Minh hết lớp này đến lớp khác, mặc dù đã hy sinh mấy ngàn bộ đội nhưng vẫn không chiếm được mục tiêu.

Trận sông Đáy kéo dài trên một phòng tuyến 80 cây số, gần một tháng trời, Đại đoàn 308 đánh Ninh Bình, 304 đánh Phủ Lý,  320 đánh Phát Diệm, trận đánh diễn ra dữ dội, Pháp chết và bị thương gần 1000 người, Việt Minh để lại khoảng 350 xác chết, 200 súng ống đủ các loại.
 
Tướng De Lattre và mặt trận Sông Đáy 29-5-51. Nguồn: etablissements.ac-amiens.fr

Trận Yên Cư Hạ diễn ra trên mấy ngọn đồi thuộc miền Nam Bắc Việt đầu tháng 6-1951 Sư  đoàn 308 Việt Minh đánh biển người chiếm được hai pháo đài, năm giờ sáng Pháp đến cứu viện, Việt Minh bỏ lại 200 xác chết, các đợt xung phong biển người không hạ được đồn. Toàn bộ chiến dịch bờ sông Đáy Việt Minh tổn thất khoảng 10 ngàn người, phía người Pháp cho biết họ bị thiệt hại bằng một phần tư. Tháng 10-1947, hai tiểu đoàn nhẩy dù Pháp khoảng 1100 người nhẩy xuống Bắc Cạn trúng tổng hành dinh Hồ Chí Minh bắt hụt bộ tổng tham mưu trong gang tấc, nay tháng 6-1951 Pháp lại nhảy dù đột kích chợ Cháy và lại bắt hụt Hồ chí Minh lần nữa.

De Lattre đã đánh bại Võ Nguyên Giáp liên tiếp mấy trận, ông đã cứu Bắc Việt thoát khỏi sụp đổ trước các cuộc tấn công thí quân điên cuồng của Việt Minh. Mặc dù bị thiệt hại nặng nề về quân số, đẩy bao nhiêu thanh niên vào họng súng đại liên mà vẫn không chiếm được mục tiêu nhưng các trận thí quân ấy lại đạt thắng lợi về tâm lý, nó cho thấy quyết tâm đánh thí mạng của Việt Minh tới thắng lợi cuối cùng. Người Pháp bắt đầu run sợ biết rằng từ nay sẽ phải đương đầu với những cuộc xung phong đẫm máu của đối phương. Mặc dù chính phủ và quân đội Quốc Gia đã được thành lập và được nhiều người theo về nhưng quân Pháp quá tàn ác, khi hành quân vào làng chúng cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà, bắn giết dã man... đã đẩy người ta về phía Việt Minh, Pháp thất bại về chính trị nhiều hơn là quân sự.

Đầu năm 1952 tướng năm sao De Lattre chết tại Pháp vì bệnh ung thư, Salan lên thay ông trong chức vụ tư  lệnh Đông Dương. Chiến sự ngày càng ác liệt hơn, người  Pháp ngày càng ghê sợ, chán ghét cuộc chiến tranh Đông Dương trước một kẻ thù liều lĩnh cố đấm ăn xôi, thí quân kinh khủng.  

Nhiều người trách Quốc Trưởng Bảo đại và các vị Thủ tướng đã không tranh đấu đòi độc lập vẹn toàn, chính phủ chỉ là bù nhìn, nhưng thực tế cho thấy muốn đòi độc lập hoàn toàn không phải dễ vì từ 1950 chiến tranh đã leo thang dữ dội. Việt Minh được Trung Cộng viện trợ ồ ạt đã dần dần làm chủ chiến trường, chúng ta vẫn phải dựa vào sự bảo vệ của quân đội Pháp, dù có đòi được độc lập cũng không thể giữ được, Chính phủ Quốc Gia sẽ bị Việt Minh tiêu diệt ngay, người ta chỉ biết chê mà không nhìn nhận sự thật. Quốc trưởng và các nhà cầm quyền đã xây dựng và để lại được cho đời sau nhiều thành quả.

Quân đội Quốc gia được thành lập và phát triển nhanh, năm 1950 mới có 5 tiểu đoàn, năm 1951 tăng lên 26 tiểu đoàn, năm 1953 lên 6 sư đoàn gồm 167 ngàn binh sĩ và 3500 sĩ quan, lương bổng do chính phủ trả tượng trưng một ít còn lại do Mỹ đài thọ. Cấp chỉ huy được đào tạo tại các trường võ bị, trường Võ bị liên quân Đà lạt khai giảng 5-11-1950, trường Quân y thành lập 7-8-1950, trường Không quân thành lập 24-6-1951, trường Hải quân từ 1-1-1952. Các tổ chức quân sự khác cũng được thành lập như Toà án quân sự ngày 22-11-1951, Bộ Tổng Tham Mưu ngày 12-4-1952, nhiều luật lệ quân sự được ban hành: Qui chế Quân đội Dụ số 1 ngày 30-1-1051, Bộ Quân luật Dụ số 8 ngày 14-4-51, Chế độ Quân dịch Dụ số 29 ngày 29-6-1953...
 
Nguồn: conongviet.com

Tổ chức Tư pháp và các Toà án Việt nam do Dụ số 4 ngày 18-10-1949, Qui chế các thẩm phán, do các Sắc lệnh ngày 1-12-1950, Toà án Hành chánh được thiết lập từ 5-1-1950.

Hành chánh địa phương: Các Hội đồng đô thành, thành phố và thị xã được tổ chức từ 1952.

Các tổ chức chuyên môn hành chánh như Viện thống kê ngày 10-12-1949, Việt Nam thống tấn xã ngày 22-1-1951, Quốc gia kiến ốc cục 15-6-1951, Sổ số kiến thiết Quốc gia 16-8-1951, Sở Du lịch Quốc gia 5-6-1951, Công ty hàng không 30-10-1951, Trường Quốc Gia Hành chánh 7-4-1952.

Giáo dục văn hoá: Trường Đại Học Văn Khoa, Sở Bảo tồn cổ tích ngày 4-1-1950, Trường Cao đẳng sư phạm 16-1-1950.

Kinh tế xã hội. Bộ Luật Lao động ban hành ngày 10-7-1952, Bộ luật cải cách điền địa ngày 4-6-53.

Qui chế nghiệp đoàn 16-11-1952; Qui chế Công chức Quốc gia Dụ số 9 ngày 14-7-1950; Qui chế các Hiệp hội Dụ số 10 ngày 6-8-1950; Qui chế Thể thao thanh niên Sắc lệnh 53 ngày 17-6-1950; Qui chế Hàng hải Dụ số 6 ngày 19-4-1951; Bộ luật thuế trực thu, gián thu Dụ số 4 ngày 13-4-1953….

Từ tháng 7-1949 đến tháng 7-1954 Quốc gia Việt Nam đã có 8 chính phủ và 5 vị Thủ tướng.

Chính phủ Bảo Đại Từ 1-7-1949 đến 22-1-1950, hơn 6 tháng

Chính phủ Nguyễn Phan Long từ 22-1-1950 đến 6-5-1950, hơn 3 tháng

Chính phủ Trần Văn Hữu từ  6-5-1950 đến 21-2-1951, hơn 9 tháng.

Chính phủ Trần Văn Hữu từ 21-2-1951 tới 7-3-1952, hơn 12 tháng  

Chính phủ Trần Văn Hữu 7-3-1952 tới 25-6-1952 hơn 3 tháng
 
Chính phủ Nguyễn Văn Tâm từ 25-6-1952 tới 8-1-1953, hơn 6 tháng

Chính phủ Nguyễn Văn Tâm từ 8-1-1953 tới 11-1-1954, hơn 12 tháng.

Chính phủ Bửu Lộc từ 11-1-1954 tới 7-7-1954, hơn 5 tháng.

Trong khoảng năm năm có quá nhiều chính phủ như vậy bất lợi cho đất nước đang trong tình trạng chiến tranh nghiêm trọng. 

Cuộc chiến tranh Đông Dương ngày càng mở rộng ác liệt tại miền Bắc, lực lượng Việt Minh ngày càng hùng hậu vì được Trung Cộng cung cấp vũ khí dồi dào lại thêm một kho nhân lực vô tận, dù bị tử thương nhiều nhưng họ vẫn làm chủ chiến trường. Tướng Salan lên thay De Lattre mất tinh thần đã dự định rút xuống dưới vĩ tuyến thứ 16 bỏ miền Bắc nay đã bị Việt Minh làm ung thối. Người Pháp biết không thể thắng Việt Minh trong cuộc chiến tranh dai dẳng cố đấm ăn xôi này, dân Pháp đa số đều quá chán ghét cuộc chiến tranh Đông Dương và muốn rút lui  càng sớm càng tốt vì nó đã gây biết bao tốn kém tiền bạc và thiệt hại nhân mạng. Việt Minh chấp nhận thí quân năm đổi một hoặc mười đổi một để giết cho nhiều người Pháp hòng gây áp lực với phe chống chiến tranh tại Pháp. Ngày 28-5-1953 Tướng Navarre được cử sang làm tư lệnh quân viễn chinh Pháp, mỗi tư lệnh có một kế họach khác nhau.

Navarre nói nhận viện trợ quân sự của Mỹ là mất chủ quyền, người Pháp bi quan nghĩ rằng dù thắng trận cũng mất Đông Dương vì nay chi phí quân sự đa số do Mỹ đài thọ, năm 1950 quân viện của Mỹ cho Pháp là 17% nhưng đến năm 1954 tăng lên tới 75%, tổng số quân Đông Dương gồm 444 ngàn người, lính Pháp và Bắc Phi 125 ngàn, lính bản xứ và Quân Đội Quốc Gia  320 ngàn, không quân có 550 máy bay đủ các loại, hải quân 390 tầu chiến, giang thuyền nhưng chủ lực quân vẫn thua Việt Minh. Giữa năm 1953 chủ lực quân Pháp có khoảng 170 ngàn người nhưng đã bị du kích cầm chân ở trung châu mất 100 ngàn nên thiếu quân di động
 
Vua Bảo Đại và Tướng Navarre. Nguồn: historycentral.com
Người Pháp đã chuẩn bị Việt Nam hoá chiến tranh, giao lại chiến trường cho Quân Đội Quốc Gia nhưng trang bị còn yếu kém chưa đủ sức chống lại Việt Minh. Trước tháng 10 năm1953 không ai nghĩ Việt Minh có thể đánh lớn. Navarre không có kinh nghiệm nhiều về chiến tranh Đông Dương, ông đưa kế hoạch trấn đóng Điện Biên Phủ ngăn chận Việt Minh qua Ai lao, cầm chân chủ lực Việt Minh và ngăn chận đường tiếp tế từ Trung Hoa. Điện Biên Phủ là một khu lòng chảo có núi đồi bao quanh cách xa Hà Nội 300 cây số.


Việt Minh buộc phải lâm trận vì nếu không sẽ tuyệt đường sinh lộ, họ chuyển quân ngày đêm đến chuẩn bị cho chiến dịch vĩ đại. Chủ Lực quân Việt Minh gồm khoảng năm Sư đoàn cỡ 60 ngàn người chưa kể du kích và địa phương quân, nhiều vũ khí nặng, 36 khẩu cao xạ, khoảng 100 đại bác và súng cối. Lực lượng Pháp gồm 15 ngàn người đa số là lính nhảy dù, trong số đó 4,500 là lực lượng không tác chiến. De Castries nhử cho Việt Minh xuống lòng chảo để tóm gọn hết. Người Pháp đã phạm một sai lầm trầm trọng là khai quang lòng chảo nên Điện Biên Phủ đã thành miếng mồi ngon cho pháo binh Việt Minh từ trên các ngọn đồi núi xung quanh bắn xuống.

Ngày 13-3-1954 lúc 5 giờ chiều trận tấn công bắt đầu. Trận này Việt Minh dốc toàn lực đánh Pháp để lấy ưu thế tại bàn hội nghị Genève bắt đầu họp từ ngày 26-4. Điện Biên Phủ là cuộc thí quân kinh hoàng nhất. Trận kết thúc lúc một giờ sáng 7-5-54, phía Việt Minh bị tổn thất khoảng 10 ngàn người, có tài liệu nói  20 ngàn người, vào khoảng  gấp năm lần Pháp để đổi lấy chiến thắng. Pháp bị tử thương trên 4 ngàn  người trong đó hơn một nửa là người Âu còn lại là lính thuộc địa, hơn  8 ngàn  người bị bắt làm tù binh, chỉ có một phần ba sống sót khi được trao trả.

Trận Điện Biên Phủ thực ra chỉ là một địa ngục trần gian ghê tởm, một nấm mồ vĩ đại chôn vùi hằng vạn thanh niên yêu nước, Pháp thua vì đã khinh địch, không ngờ hoả lực và nhân lực của Việt Minh mạnh đến thế.     

Hai tháng sau khi Điện Biên thất thủ, ông Ngô Đình Diệm được Quốc trưởng bổ nhiệm chức vụ Thủ tướng thay ông Bửu Lộc. Ông Diệm lên chấp chánh vào ngày 7-7-1954, ở trong Nam ra Hà Nội được người ta tiếp đón trọng thể, ông ra vội vàng, tiếp xúc một ít người rồi lại vào Sài Gòn. Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí nói ông Diệm là người đạo gốc, thanh liêm, đức độ, mấy đời thờ nhà Nguyễn.

Ngày 20-7-1954 hai phái đoàn Việt Minh và Pháp đã ký kết hiệp định chia đôi đất nước tại Genève thủ đô của Thụy Sĩ. Cuộc chiến tranh đã khiến cả Pháp lẫn Việt Minh đều thấm mệt và cùng muốn nghỉ tay. Trong 8 năm chiến tranh nước Pháp đã thay 19 chính phủ mà vẫn chưa giải quyết được vấn đề Đông Dương. Hai bên mệt mỏi đã cùng đến Genève để tìm giải pháp hoà bình. Hội nghị khai mạc từ 26-4-1954 để giải quyết chiến tranh Đông Dương và Triều Tiên.
 
 
Trận Điện Biên Phủ thực ra chỉ là một địa ngục trần gian ghê tởm, một nấm mồ vĩ đại chôn vùi hằng vạn thanh niên yêu nước. Nguồn: historycentral.com

Hai bên Việt Minh và Pháp đã ký kết hiệp định vào ngày 20-7-1954 đình chiến tại Việt, Mên, Lào. Nước Việt Nam được chia đôi từ vĩ tuyến thứ 17, lấy sông Bến Hải làm ranh giới phân chia hai miền Nam Bắc, dân chúng hai bên được quyền di cư vào Nam, ra Bắc theo ý muốn, thời hạn di cư  là 300 ngày. Phái đoàn Mỹ và Quốc Gia Việt Nam không ký vào bất cứ văn kiện nào của hiệp định. Việt Minh và Pháp sẽ họp nhau ở Trung Giá để thi hành hiệp định.

Năm 1953 thủ tướng Nguyễn Văn Tâm theo đường lối của Quốc Trưởng lên tiếng đòi đổi qui chế Liên Hiệp Pháp, triệu tập Quốc dân đại hội các tôn giáo Cao Đài, Hoà Hảo, Thiên Chúa Giáo... đòi rút ra khỏi Liên Hiệp Pháp, đòi độc lập, gây căng thẳng tình hình Việt Pháp. Đầu năm 1954 thủ tướng Bửu Lộc lên thay, hồi ấy một phần nhờ Mỹ thúc ép Pháp, sau mấy tháng vận động Thủ tướng đã ký với Pháp hai hiệp ước ngày 4-6-1954 thu hồi độc lập với chủ quyền hoàn toàn, ông đã làm tròn sứ mạng Quốc trưởng giao phó. Chính phủ Bửu Lộc cũng đã phải đương đầu một cách vô vọng với âm mưu quốc tế chia đôi đất nước tại hội nghị Genève. Đến 20-7 thì đất nước bị chia đôi, nền độc lập hoàn toàn từ chỉ vẻn vẹn có 46 ngày.

Chiến tranh đã chấm dứt, quân Pháp tử trận trên 100 ngàn người, khoảng 75 ngàn bị thương, hơn 30 ngàn bị bắt làm tù binh nhưng chỉ có một phần ba sống sót. Việt Minh không công bố số thiệt hại nhưng thường là gấp  bốn lần, có tài liệu cho biết độ nửa triệu người, vào khoảng 250 ngàn thường dân chết vì bom đạn. …Tổng cộng gần một triệu người mạng vong trong cơn khói lửa, họ đã chết cho một cuộc chiến tranh vô ích.
 
Tướng Pháp Delthei, trái, và ông Tạ Quang Bửu ký hiệp định Geneva tháng 7, 1954. Nguồn: AFP / GETTY IMAGES

Sang năm 1954 Bảo Đại sang Pháp và ở luôn bên ấy, trở về làm Quốc trưởng năm 1948 ông nghĩ rằng có thể đem lại hoà bình, hạnh phúc cho quốc dân, nhưng chiến tranh ngày càng mở rộng, đổ máu quá nhiều nên ông ngao ngán và bỏ bê việc nước rồi sa ngã vào vòng tửu sắc, tứ đổ tường, mọi việc chính sự giao hết cho tân Thủ tướng. Ông Diệm được Bảo Đại trao toàn quyền hành động, là người cương quyết khác hẳn đường lối mềm dẻo như các Thủ tướng tiền nhiệm. Ông Diệm chủ trương thoát ra khỏi Liên Hiệp Pháp để liên kết trực tiếp với Mỹ, khác hẳn đường lối Bảo Đại. Vừa lên chấp chánh, Thủ tướng đã gạt bỏ những người mà Quốc Trưởng tin dùng như các vị Thủ hiến ba kỳ, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, Trung tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng... Hinh đòi dùng vũ lực lật đổ chính phủ, kết án ông Diệm độc tài, sau Pháp và Bảo Đại phải đưa Hinh về Pháp tháng 11-1954.

Thủ tướng Ngô Đình Diệm được sự thuận lợi may mắn đang không làm chủ một đất nước đã được Pháp trao trả độc lập hoàn toàn trên nguyên tắc, nhưng trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn trước tình trạng sứ quân chia năm xẻ bảy, nào Bình Xuyên, Cao Đài, Hoà Hảo. Trước đây Pháp đã giúp các lực lượng giáo phái võ trang chống Việt Minh, tích cực giúp đỡ Bình Xuyên, một đảng cướp lớn đóng đô tại Sài Gòn Chợ Lớn. Ông Diệm chủ trương quân sự, hành chánh, tài chánh phải thống nhất, sáp nhập các lực lượng võ trang giáo phái vào quân đội Quốc Gia, chấm dứt tình trạng sứ quân.


Tháng một năm 1955 Thủ tướng cho lệnh đóng cửa các ổ cờ bạc Đại Thế Giới kim Chung, xóm Bình Khang, nhà chứa Vườn Lài của Bình Xuyên chấm dứt nhiệm vụ của ông Nguyễn Đệ, chánh văn phòng của Quốc Trưởng. Mặc dù chính phủ đã bồi thường cho Bình Xuyên một ngân khoản khổng lồ nhưng Bảy Viễn vô cùng căm giận tìm cách lật đổ Thủ tướng, các giáo phái bắt đầu bất mãn với chính phủ vì ông Diệm không chịu cấp ngân khoản cho họ như dưới thời Pháp thuộc.

Bình Xuyên, Cao Đài, Hoà Hảo liên kết với nhau thành lập Mặt trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia ngày 21-3-1955 gồm các ông Đức Hộ Pháp Phạm Công tắc, các Tướng Trần Văn Soái, Nguyễn Thành Phương, Lê văn Viễn, Lâm Thành Nguyên, Lê Quang Vinh, Trịnh Minh Thế. Mặt trận yêu cầu chính phủ phải cải tổ nội các, ông Diệm rất nản lòng khi thấy tình hình phức tạp, chính phủ của ông như trứng đứng đầu gậy, lúc này chính sự rối bời y như dưới thời Đông Chu Liệt Quốc. Cuối tháng 3-1955 Bình Xuyên được Pháp xúi dục gây hấn  bắn vào trại nhẩy dù Trần Hưng Đạo, pháo kích Dinh Độc lập khiến cho ông Diệm suýt chết vì một trái nổ ngay trong phòng làm việc.

Khi Thủ tướng  gạt bỏ những người đã được Quốc Trưởng tin dùng, Quốc trưởng bèn chế ngự đòi mở rộng chính phủ vì lý do đại đoàn kết, Thủ tướng lại muốn sáp nhập các lực lượng riêng, đảng  phái vào Quân đội Quốc Gia. Từ 1955 không khí ngày càng căng thẳng, cái hố ngăn cách giữa Quốc trưởng và Thủ tướng ngày càng sâu, cuộc sung đột bắt đầu bằng tuyên bố, thông điệp, điện văn giữa hai nhà lãnh đạo, các phe liên hệ ùa theo. Bảo Đại bênh vực Bảy Viễn vì cùng trong phe nhóm của thực dân nhất là Viễn lại cung cấp tiền tài cho ông ăn chơi, cờ bạc.

Trong khi Bình Xuyên đang gây hấn, chiến sự sắp bùng nổ thì Quốc Trưởng triệu hồi Thủ Tướng về Pháp để cất chức ông. Ngô Đình Diệm bèn triệu tập hội nghị các nhân sĩ và chính đảng gồm mười tám chính đảng và mấy chục nhân sĩ  để tham khảo ý kiến. Các đảng phái, nhân sĩ đều nhiệt liệt ủng hộ Thủ tướng, ba tổ chức lớn nhất là Dân Xã thuộc Hoà Hảo, do Nguyễn Bảo Toàn làm bí thư, Việt Nam Phục Quốc Hội thuộc  Cao Đài do Hồ Hán Sơn làm đại diện và Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến của Trịnh Minh Thế, họ thành lập Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, Hội nghị đòi truất phế Bảo Đại, ai nấy vô cùng bất mãn trước quyết định của ông vua vong bản này.

Mặc dù Thủ Tướng bị Bình Xuyên và các giáo phái gây hấn, bị Quốc Trưởng áp lực và Pháp giật giây đàn em tay sai, nhưng ông Diệm cũng rất may lại được các đảng phái Quốc Gia yêu nước hết sức ủng hộ, yểm trợ tinh thần và sức mạnh. Giữa tháng 2-1955 Thiếu tướng Trịnh Minh Thế đem 8 ngàn quân, và cuối tháng 3-1955 trung tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương đem 5 ngàn quân về hợp tác với chính phủ. Ngoài ra ông Diệm còn được người Mỹ ngầm ủng hộ nên Pháp không dám ra tay mặc dù quân Pháp vẫn còn đóng đầy ra tại Sài Gòn. Tình hình ngày càng rối ren, Pháp cương quyết thanh toán Ngô Đình Diệm cho dù ông từ chức Thủ Tướng. Tứ bề thọ địch, bị dồn vào thế cưỡi cọp nên ông Diệm phải liều mạng đánh tới cùng. Khi chiến tranh sắp xảy ra, Pháp kéo 30 ngàn quân và mấy trăm xe thiết giáp vào Sài Gòn nói là để bảo vệ kiều dân nhưng thực ra để hậu thuẫn cho Bảy Viễn.

Ngày 26-4-1955 ông Diệm cách chức Lai Văn Sang, Tổng giám đốc cảnh sát, người của Bình Xuyên và cử Đại Tá Nguyễn ngọc Lễ lên thay, Sang không chịu xuống, Nguyễn Ngọc Lễ phải sang Đa Kao lập trụ sở mới. Ngày 28-4-1955 súng nổ đạn bay giữa Sài Gòn Chợ Lớn, Đại tá Đỗ Cao Trí tư lệnh Nhảy Dù bèn hạ lệnh tấn công, lực lượng Bình Xuyên toàn bộ có 5 tiểu đoàn Công an xung phong nhưng chỉ toàn là bọn đầu trộm đuôi cướp không biết trận mạc bao giờ, thấy súng nổ thì chạy như vịt ngay. Trước khi tháo chạy về Gò Công, chúng pháo kích khu Nancy Chợ quán, hằng ngàn nhà bị cháy, 500 người chết.

Mấy tháng sau Thủ Tướng cử Đại tá Dương Văn Đức mở chiến dịch Đinh tiên Hoàng đánh Năm Lửa, Ba Cụt... thống nhất miền Nam. Khi Bình Xuyên gây chiến dữ dội, Bảo Đại triệu hồi ông Diệm sang Pháp để cách chức, Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng đưa ra quyết nghị truất phế Bảo Đại, giải tán chính phủ Ngô Đình Diệm và ủy cho ông Diệm thành lập chính phủ cách mạng lâm thời, tổ chức Tổng tuyển cử, thành lập chế độ Cộng Hoà. Ngày 18-10-1955 ông Bảo Đại từ thành phố Cannes bên Pháp ra sắc lệnh châm dứt nhiệm vụ ông Diệm nhưng văn kiện đã chẳng được ai chú ý.

Ông Diệm sẵn uy tín đã có bèn cho báo chí sửa soạn dư luận, chửi rủa Bảo Đại bán nước theo Tây... rồi cho tổ chức Trưng Cầu Dân Ý ngày 23-10-1955 truất phế Bảo Đại lên làm Tổng Thống, tuyên bố thành lập nền Cộng Hoà tuy chưa có Hiến Pháp. Mặc dù ông Diệm đắc cử với số phiếu tối đa 96% nhưng nói về nguyên tắc dân chủ cuộc Trưng cầu dân ý chưa đủ để đưa ông Diệm lên làm Tổng thống mà phải qua một cuộc Tổng tuyển cử nhưng phần vì người dân hồi ấy chưa có ý thức nhiều về Dân chủ, Cộng hoà, phần vì thấy ông Diệm là người yêu nước nên họ cũng không có biểu hiện gì chống đối. Ông Diệm được Bảo Đại trao toàn quyền được khoảng mười tháng từ ngày 7-7-1954 đến cuối tháng 4-1955 thì sự bất đồng ý kiến giữa hai nhà lãnh đạo đã đến chỗ gay go và cuối cùng đưa tới cuộc chiến một mất một còn sau hơn một năm trao quyền.

Bảo Đại đã phạm vào nhiều sai lầm, ông dựa vào Thực dân Pháp trong khi Pháp đã hết thời, năm 1954 có tới 75% chi phí quân sự là của Mỹ. Pháp đã trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam từ ngày 4-6-1954 rồi ký Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 để rút quân đâu còn quyền hành gì để hậu thuẫn cho Bảo Đại. Ông Diệm đã chủ trương thoát ra khỏi Liên Hiệp Pháp, hất cẳng thực dân để đi với Mỹ, đã được Mỹ đứng sau lưng nên cái thế thua, được đã quá rõ ràng. Vả lại Bảo Đại đã hoàn toàn mất lòng dân, bị các đảng phái Quốc gia chống đối, ông đã đi ngược lại quyền lợi của Quốc Gia dân tộc, làm tay sai cho Pháp cấu kết với những tổ chức phá hoại đất nước như Nguyễn Văn Hinh, Bình Xuyên, Năm Lửa, Ba Cụt... Bảo Đại bênh vực Bảy Viễn vì hắn cung cấp tiền bạc cho ông , từ bao lâu nay người  ta  đã quá chán ghét bọn thực dân và thù ghét tên tướng cướp đại gian đại ác này.

Sách Mạnh Tử nói "Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hoà", thầy Mạnh giảng nghĩa: Kẻ địch lân bang cất quân sang đánh nước ta thì chúng có Thiên thời, ta có núi non hiểm trở, thành lũy cao, hào sâu là ta có địa lợi, ta có hào sâu, lũy cao nhưng quân sĩ thấy kẻ địch tới bèn quăng gươm giáo chạy là vì ta không có nhân hoà tức không được lòng người. Cách đây hai ngàn năm trăm năm người ta đã đặt lòng dân lên hàng đầu, làm chính trị mà thất nhân tâm thì vạn sự bất thành.

Chế độ quân chủ hoàn toàn chấm dứt, một trang sử mới được dở qua, miền Nam đã chuyển qua chế độ Cộng Hoà. Ông Đoàn Thêm có nhận định về sự kết thúc ấy như sau.

"Nên cuộc Trưng cầu dân ý, dù có hay không, ngay thẳng hay lắt léo, cũng không thể nào đảo ngược hộ ông một thế cờ đã bí.

Năm 1948, ông là hiện thân của một sự tất yếu lịch sử (une nécessité historique). Song cũng như mọi con người của mọi thời cuộc, ông không thể tồn tại khi xứ sở chuyển sang giai đoạn khác: rồi đến lượt người sau cũng vậy."

Có người nói việc truất phế Bảo Đại không phải do ông Diệm mà tại Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng đề ra, ông Diệm vẫn còn trung thành với nhà Nguyễn, gia đình ông Diệm đã ba đời thờ nhà Nguyễn. Người thì bảo việc truất phế Bảo Đại không phải do ông Diệm mà do người Mỹ, nay nhiều hồ sơ bí mật đã được giải mã, việc truất phế  là một việc tiền định chứ không phải tại ông Diệm. Những lời biện minh bênh vực trên thực ra không cần thiết vì việc truất phế cũng là một tất yếu lịch sử như việc đưa Ngài về trị vì năm 1948, nay Bảo Đại đã theo Tây, đi đôi với tên tướng cướp thì không còn xứng đáng được coi là Quốc trưởng

Ông Bảo Đại đã biết lập trường ông Diệm khác với lập trường của mình, Bảo Đại thân Tây, ông Diệm chủ trương thoát ra khỏi Liên Hiệp Pháp để đi thẳng với Mỹ, nhưng vẫn trao toàn quyền cho ông Diệm tháng 7-1954 vì nghĩ rằng dù bất đồng chính kiến nhưng ông Diệm không dám truất phế cựu hoàng. Người Mỹ đã soăn soe muốn trực tiếp viện trợ cho Quốc Gia Việt Nam từ mấy năm trước nhưng vì hồi ấy địa vị Pháp còn mạnh nên Mỹ chưa xen vô được, nay Pháp đã hết thời, lịch sử đã chuyển sang một giai đoạn khác.

Trên thực tế không phải tất cả những hồ sơ giải mật đều đúng sự thật. Việc truất phế Bảo Đại một phần do quần chúng, các đảng phái, một phần do người Mỹ và nhất là ông Diệm đã ngầm chủ trương từ đầu, ngay sau khi lên chấp chánh ông đã dần dần loại bỏ những người Quốc trưởng tin dùng để đưa đám thân cận thay vào. Nhìn lại các biến cố lịch sử cận đại ta sẽ thấy rằng người Mỹ chỉ lật đổ được một chế độ khi họ đã được người dân ủng hộ, như việc họ truất phế được Bảo Đại 1955 và lật đổ được ông Diệm 1963 khi cả hai chế độ đã đi tới chỗ mất lòng dân, thối nát. Một mình người Mỹ không thể đảo ngược lịch sử, họ luôn luôn ném đá dấu tay, dựa vào quần chúng, họ chờ cho cả hai chế độ đi tới chỗ thật suy bại rồi mới ra tay lật đổ.

Sự việc truất phế Bảo Đại như đã trình bày thể hiện ý muốn toàn dân, ý dân là ý trời nhưng nhiều người cũng chê bai ông Diệm đã cho báo chí chửi bới Bảo Đại thậm tệ, Thiếu tướng Hoàng Lạc trong cuốn Những Sự Thật Chưa Hề Được Nhắc Tới cho rằng ông Diệm đã cho báo chí bôi nhọ Bảo Đại một cách bỉ ổi, chúng tôi còn nhớ báo đăng một bức hí hoạ vẽ bà Nam Phương Hoàng Hậu khóc với Bảo Đại bằng mấy câu nham nhở.

"Đêm bao nhiêu gái cũng vừa.
Vì nghe lời Thực lên cơ hội này"

Một bức khác vẽ hình ông Bảo Đại mặc quần lót ôm một bà đầm ăn mặc hở hang với một câu mỉa mai.

"Dân vi quí hay dâm vi quí"

Người ta còn làm văn tế sống Bảo Đại câu trên câu dưới đối nhau chan chát như.
       
"Nhớ người xưa Thụy chính là tên, Nguyễn kia là họ
Mặt lợn tai dơi, mình người bụng bọ.
.......
    
Dưới váy con đĩ cô hầu có nhìn đâu buổi thế giới phân hai,
Vùi đầu đám bạc, quân bài có biết đâu khi quốc gia xẻ nửa.
Mặt lợn ỉ u mê quá xá mặc thây tổ quốc nguy nan,
Quân mèo đường lêu lổng chốn cùng chối kệ giang sơn nghiêng ngửa
.......     

Ông Bảo Đại ăn chơi bỏ bê việc nước tuy nhiên có một số cá tính khác biệt với các chính trị gia sau này, trước hết ông là người nhân đức, không phải là một chính trị gia cần phải cương quyết đôi khi phải cứng rắn, biết là không làm được nên đã giao toàn quyền cho ông Diệm. Để tránh đổ máu cho nhân dân nên ông đã thoái vị năm 1945, năm 1955 ông ngăn cản Thủ tướng Ngô đình Diệm dùng vũ lực để thống nhất miền Nam một phần cũng vì muốn tránh đổ máu cho nhân dân. Từ thời còn ngồi trên ngai vàng trước 1945 và sau này trở về làm Quốc trưởng 1948 chưa bao giờ nghe nói ông cho lệnh đàn áp, bắt bớ, tra tấn, giết hại ai như các chính phủ sau này. Bảo Đại không tham quyền cố vị, khi cần hy sinh sẵn sàng từ bỏ địa vị không như các chính quyền kế vị ông khi bị nhân dân chống đối biểu tình đầy đường đầy chợ vẫn cứ ngồi lì ra không chịu xuống. Ông không đưa người trong Hoàng Tộc, anh em thân thuộc vào trong chính quyền.

Năm 1955 ông Bảo Đại bị coi như theo Tây, vong bản.... đó là điều không ai phủ nhận, con người làm lên lịch sử đã có sự mâu thuẫn, nếu ngược dòng thời gian sáu năm về trước chúng ta sẽ thấy Giải pháp Bảo Đại là một tất yếu lịch sử đã mang lại nhiều kết quả tốt đẹp cho chính thể Quốc Gia. Như đã trình bày ở trên Bảo Đại là người đầu tiên gây dựng lên chính quyền Quốc Gia Việt Nam có thể coi như một vị khai quốc công thần. Các vị Thủ tướng chính phủ Quốc Gia Việt Nam cũng đã có công tranh đấu cho nền độc lập bằng ngoại giao với Pháp như đã trình bầy ở trên nhưng sau này, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà tất cả đều bị coi là tay sai thực dân, bán nước vì thói thường dậu đổ bìm bìm leo, được làm vua, thua làm giặc.

Ông Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hoà, ông Diệm được coi như có công thống nhất miền Nam, dẹp được loạn sứ quân, giữ vững được miền Nam cuối thập niên 50. Chế độ đã thực hiện được nhiều việc tốt đẹp trong những năm đầu nhưng rồi cũng lại đi vào vết xe đổ của ông Bảo Đại, thối nát mất lòng dân và cuối cùng sụp đổ tan tành, thê thảm.      
(Kết)
                   
© Đàn Chim Việt Online       

Tài Liệu Tham Khảo
 
Trần Trọng Kim: Một Cơn Gió Bụi
Hoàng Văn Chí: Từ Thực Dân Đến Cộng Sản. Chân Trời Mới, 1965.
Cao Thế Dung: Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa, Alpha 1991.
Đoàn Thêm: Những Ngày Chưa Quên, Quyển Thượng (1939-1954), Quyển Hạ(1954-1963), Xuân Thu 2000.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Nam Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Texas 1990.
Lâm Lễ Trinh: Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang, 2006.
Phan Thứ Lang: Bảo Đại, Vị Vua Triều Nguyễn Cuối Cùng, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân, 1999.
Vũ Ngự Chiêu: Phía Bên Kia Cuộc Cách Mạng 1945, Đế Quốc Việt Nam 3-8-1945, Văn Hoá 1996
Henri Navarre: L'Agonie de l'Indochine.
Stanley Karnow: A Viet Nam History, Penguin Books, 1990.
The World Almanac Of The VietNam War: Bison Book, 1985.
Ellen J. Hammer:  The struggle for Indochina, 1940-1955, Viet Nam And The French Experience.
Philippe Devillers & Jean Lacouture: End Of A War, Indochina 1954. Federick A Praeger publisher, New York, Washington, London, 1969.
Đinh Yên Thảo: Vua Bảo Đại, The Last Emperor, Trẻ, Dallas ngày 27-7-2005.
Lâm Lễ Trinh: Truất Phế Bảo Đại Và Khai Sinh Nền Đệ Nhất Cộng Hoà, Người Việt-Dallas, Ngày 21-10-2005.
Nguyễn Lý Tưởng : Từ Nô Lệ Thực Dân Đến Nô Lệ Cộng Sản, Người Việt, Cali, Giai Phẩm Xuân 2005.
Trần Đông Phong: Đối Lập Chính Trị Dưới Thời Ngô Đình Diệm, Vụ Thủ Tiêu Ông
Nguyễn Bảo Toàn, Thời Luận, Giai Phẩm Xuân 2005.
Tạ Quốc Tuấn: Nhật Bản Chiếm Đóng Việt Nam, Người Việt Dallas ngày 11-3-2005.
Tạ Quốc Tuấn: Nhật Bản Đảo Chính Pháp Ở Việt Nam, Người Việt Dallas ngày 25-3-2005.
Tú Gàn: Trong Cơn Hỗn Loạn, Sài Gòn Nhỏ, New Orléans, ngày 20-10-2006.

Hình minh họa: Đàn Chim Việt