Tháng 2-1951 Hồ Chí Minh bắt đầu chửi Mỹ, người bạn trước đây đã giúp Hồ nhiều khí giới để chống phát xít Nhật nay lại quay ra giúp Pháp, trong số các tay lãnh đạo Việt Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp là hai người tôn sùng Mao và lý thuyết quân sự Mao. Các Đại đoàn 304, 308, 312 đã xâm nhập trung du Bắc Việt, đe dọa Hà Nội, trận chiến leo thang ác liệt, tính đến tháng 11 năm 1950 có 15 ngàn quân Pháp tử trận, Việt Minh bắt đầu đánh lớn, ngày 13-1-1951 họ đánh đồn Bao Chúc gần Vĩnh Yên, chiếm được nhiều cao điểm quanh Vĩnh Yên, khi ấy Hà Nội coi như sắp mất, trận Vĩnh Yên diễn ra dữ dội. De Lattre trưng dụng máy bay lập cầu không vận tiếp tế cho Vĩnh Yên.

Trận này Võ Nguyên Giáp chỉ huy theo chiến thuật biển người thí quân hằng hà sa số. Trận chiến không có cứu thương, hai bên chỉ lo bắn giết, thương binh bị bỏ lại quằn quại trên vũng máu cho tử thần. Giáp huy động sư đoàn 308, 312 hết lớp này đến lớp khác y như sóng người, đại liên Pháp bắn không xuể, hai bên bây giờ trộn trấu, Việt Minh đánh chia cắt 6 ngàn quân Pháp, 24 tiểu đoàn Việt Minh giáp mặt 3 liên đoàn Pháp.

Trận đánh diễn ra thật ác liệt, De Lattre bỗng quyết định táo bạo tàn nhẫn mà không ai ngờ tới, ông cho tập trung 100 phi cơ ném 300 quả bom săng lửa (napalm) xuống giữa trận tuyến thí quân cả hai bên, lửa đỏ rực cả một góc trời, một biển lửa kinh khủng để lại hàng đống xác cháy thui. Trong trận này Việt Minh mất 6 ngàn người, 500 bị bắt làm tù binh, Giáp và cố vấn Tầu cũng không ngờ De Lattre chơi bạo đến thế, đồ tể Giáp lại gặp tên cuồng sát De Lattre. Sau khi đã bổ sung quân số và trang bị lại đầy đủ Giáp dùng các Đại đoàn 308, 312, 316 tấn công Mạo Khê đe dọa Hải Phòng, lực lượng Pháp gồm 400 lính Thổ. Các đợt xung phong biển người của Việt Minh hết lớp này đến lớp khác, mặc dù đã hy sinh mấy ngàn bộ đội nhưng vẫn không chiếm được mục tiêu.

Trận sông Đáy kéo dài trên một phòng tuyến 80 cây số, gần một tháng trời, Đại đoàn 308 đánh Ninh Bình, 304 đánh Phủ Lý,  320 đánh Phát Diệm, trận đánh diễn ra dữ dội, Pháp chết và bị thương gần 1000 người, Việt Minh để lại khoảng 350 xác chết, 200 súng ống đủ các loại.
 
Tướng De Lattre và mặt trận Sông Đáy 29-5-51. Nguồn: etablissements.ac-amiens.fr

Trận Yên Cư Hạ diễn ra trên mấy ngọn đồi thuộc miền Nam Bắc Việt đầu tháng 6-1951 Sư  đoàn 308 Việt Minh đánh biển người chiếm được hai pháo đài, năm giờ sáng Pháp đến cứu viện, Việt Minh bỏ lại 200 xác chết, các đợt xung phong biển người không hạ được đồn. Toàn bộ chiến dịch bờ sông Đáy Việt Minh tổn thất khoảng 10 ngàn người, phía người Pháp cho biết họ bị thiệt hại bằng một phần tư. Tháng 10-1947, hai tiểu đoàn nhẩy dù Pháp khoảng 1100 người nhẩy xuống Bắc Cạn trúng tổng hành dinh Hồ Chí Minh bắt hụt bộ tổng tham mưu trong gang tấc, nay tháng 6-1951 Pháp lại nhảy dù đột kích chợ Cháy và lại bắt hụt Hồ chí Minh lần nữa.

De Lattre đã đánh bại Võ Nguyên Giáp liên tiếp mấy trận, ông đã cứu Bắc Việt thoát khỏi sụp đổ trước các cuộc tấn công thí quân điên cuồng của Việt Minh. Mặc dù bị thiệt hại nặng nề về quân số, đẩy bao nhiêu thanh niên vào họng súng đại liên mà vẫn không chiếm được mục tiêu nhưng các trận thí quân ấy lại đạt thắng lợi về tâm lý, nó cho thấy quyết tâm đánh thí mạng của Việt Minh tới thắng lợi cuối cùng. Người Pháp bắt đầu run sợ biết rằng từ nay sẽ phải đương đầu với những cuộc xung phong đẫm máu của đối phương. Mặc dù chính phủ và quân đội Quốc Gia đã được thành lập và được nhiều người theo về nhưng quân Pháp quá tàn ác, khi hành quân vào làng chúng cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà, bắn giết dã man... đã đẩy người ta về phía Việt Minh, Pháp thất bại về chính trị nhiều hơn là quân sự.

Đầu năm 1952 tướng năm sao De Lattre chết tại Pháp vì bệnh ung thư, Salan lên thay ông trong chức vụ tư  lệnh Đông Dương. Chiến sự ngày càng ác liệt hơn, người  Pháp ngày càng ghê sợ, chán ghét cuộc chiến tranh Đông Dương trước một kẻ thù liều lĩnh cố đấm ăn xôi, thí quân kinh khủng.  

Nhiều người trách Quốc Trưởng Bảo đại và các vị Thủ tướng đã không tranh đấu đòi độc lập vẹn toàn, chính phủ chỉ là bù nhìn, nhưng thực tế cho thấy muốn đòi độc lập hoàn toàn không phải dễ vì từ 1950 chiến tranh đã leo thang dữ dội. Việt Minh được Trung Cộng viện trợ ồ ạt đã dần dần làm chủ chiến trường, chúng ta vẫn phải dựa vào sự bảo vệ của quân đội Pháp, dù có đòi được độc lập cũng không thể giữ được, Chính phủ Quốc Gia sẽ bị Việt Minh tiêu diệt ngay, người ta chỉ biết chê mà không nhìn nhận sự thật. Quốc trưởng và các nhà cầm quyền đã xây dựng và để lại được cho đời sau nhiều thành quả.

Quân đội Quốc gia được thành lập và phát triển nhanh, năm 1950 mới có 5 tiểu đoàn, năm 1951 tăng lên 26 tiểu đoàn, năm 1953 lên 6 sư đoàn gồm 167 ngàn binh sĩ và 3500 sĩ quan, lương bổng do chính phủ trả tượng trưng một ít còn lại do Mỹ đài thọ. Cấp chỉ huy được đào tạo tại các trường võ bị, trường Võ bị liên quân Đà lạt khai giảng 5-11-1950, trường Quân y thành lập 7-8-1950, trường Không quân thành lập 24-6-1951, trường Hải quân từ 1-1-1952. Các tổ chức quân sự khác cũng được thành lập như Toà án quân sự ngày 22-11-1951, Bộ Tổng Tham Mưu ngày 12-4-1952, nhiều luật lệ quân sự được ban hành: Qui chế Quân đội Dụ số 1 ngày 30-1-1051, Bộ Quân luật Dụ số 8 ngày 14-4-51, Chế độ Quân dịch Dụ số 29 ngày 29-6-1953...
 
Nguồn: conongviet.com

Tổ chức Tư pháp và các Toà án Việt nam do Dụ số 4 ngày 18-10-1949, Qui chế các thẩm phán, do các Sắc lệnh ngày 1-12-1950, Toà án Hành chánh được thiết lập từ 5-1-1950.

Hành chánh địa phương: Các Hội đồng đô thành, thành phố và thị xã được tổ chức từ 1952.

Các tổ chức chuyên môn hành chánh như Viện thống kê ngày 10-12-1949, Việt Nam thống tấn xã ngày 22-1-1951, Quốc gia kiến ốc cục 15-6-1951, Sổ số kiến thiết Quốc gia 16-8-1951, Sở Du lịch Quốc gia 5-6-1951, Công ty hàng không 30-10-1951, Trường Quốc Gia Hành chánh 7-4-1952.

Giáo dục văn hoá: Trường Đại Học Văn Khoa, Sở Bảo tồn cổ tích ngày 4-1-1950, Trường Cao đẳng sư phạm 16-1-1950.

Kinh tế xã hội. Bộ Luật Lao động ban hành ngày 10-7-1952, Bộ luật cải cách điền địa ngày 4-6-53.

Qui chế nghiệp đoàn 16-11-1952; Qui chế Công chức Quốc gia Dụ số 9 ngày 14-7-1950; Qui chế các Hiệp hội Dụ số 10 ngày 6-8-1950; Qui chế Thể thao thanh niên Sắc lệnh 53 ngày 17-6-1950; Qui chế Hàng hải Dụ số 6 ngày 19-4-1951; Bộ luật thuế trực thu, gián thu Dụ số 4 ngày 13-4-1953….

Từ tháng 7-1949 đến tháng 7-1954 Quốc gia Việt Nam đã có 8 chính phủ và 5 vị Thủ tướng.

Chính phủ Bảo Đại Từ 1-7-1949 đến 22-1-1950, hơn 6 tháng

Chính phủ Nguyễn Phan Long từ 22-1-1950 đến 6-5-1950, hơn 3 tháng

Chính phủ Trần Văn Hữu từ  6-5-1950 đến 21-2-1951, hơn 9 tháng.

Chính phủ Trần Văn Hữu từ 21-2-1951 tới 7-3-1952, hơn 12 tháng  

Chính phủ Trần Văn Hữu 7-3-1952 tới 25-6-1952 hơn 3 tháng
 
Chính phủ Nguyễn Văn Tâm từ 25-6-1952 tới 8-1-1953, hơn 6 tháng

Chính phủ Nguyễn Văn Tâm từ 8-1-1953 tới 11-1-1954, hơn 12 tháng.

Chính phủ Bửu Lộc từ 11-1-1954 tới 7-7-1954, hơn 5 tháng.

Trong khoảng năm năm có quá nhiều chính phủ như vậy bất lợi cho đất nước đang trong tình trạng chiến tranh nghiêm trọng. 

Cuộc chiến tranh Đông Dương ngày càng mở rộng ác liệt tại miền Bắc, lực lượng Việt Minh ngày càng hùng hậu vì được Trung Cộng cung cấp vũ khí dồi dào lại thêm một kho nhân lực vô tận, dù bị tử thương nhiều nhưng họ vẫn làm chủ chiến trường. Tướng Salan lên thay De Lattre mất tinh thần đã dự định rút xuống dưới vĩ tuyến thứ 16 bỏ miền Bắc nay đã bị Việt Minh làm ung thối. Người Pháp biết không thể thắng Việt Minh trong cuộc chiến tranh dai dẳng cố đấm ăn xôi này, dân Pháp đa số đều quá chán ghét cuộc chiến tranh Đông Dương và muốn rút lui  càng sớm càng tốt vì nó đã gây biết bao tốn kém tiền bạc và thiệt hại nhân mạng. Việt Minh chấp nhận thí quân năm đổi một hoặc mười đổi một để giết cho nhiều người Pháp hòng gây áp lực với phe chống chiến tranh tại Pháp. Ngày 28-5-1953 Tướng Navarre được cử sang làm tư lệnh quân viễn chinh Pháp, mỗi tư lệnh có một kế họach khác nhau.