Danchimviet - http://danchimviet.com
Kuku, nhật ký thăm lại hòn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần kết)
http://danchimviet.com/articles/1292/1/Kuku-nht-ky-thm-li-hon-o-t-nn--Nam-Dng-Phn-kt/Page1.html
Lưu Dân

 
Tác Giả Lưu Dân
Đăng/Published on 16.07.09
 
Chúng tôi cũng đã gặp gỡ các ngư dân Việt Nam bị tù giam ở Terempah trong một hoàn cảnh bẽ bàng, buồn tủi vì bị bỏ rơi bởi chính những kẻ vẫn luôn miệng rêu rao là “chính quyền nhân dân”

Trong nhóm chúng tôi cũng không ai từng thực hiện hoặc chứng kiến sự hỏa thiêu hài cốt bao giờ nên chẳng biết tiến hành thế nào. Riêng tôi vài lần được nghe thoang thoáng nhưng trong hoàn cảnh này, có lẽ là người “rành” nhất. Chúng tôi lại bàn với nhau và anh Triệu cũng đồng ý là mọi việc cốt ở tấm lòng, không nề hà thủ tục gì cả.

Rồi chúng tôi bày ra bình hương giữa trời, tang chủ cáo tế trời đất để xin hỏa thiêu di hài và mỗi người một nén nhang cầu nguyện cho linh hồn Cecile siêu thoát. Bộ hài cốt của Cecile Thu Minh được nhẹ nhàng đặt lên trên lớp củi ẩm ướt vì mưa và được mồi bằng dầu hỏa. Ngọn lửa hồng tươi bùng lên và hài cốt dần dần biến thành tro trắng sau khoảng hơn một giờ hỏa thiêu... Ba anh em hốt nắm tro xương và nén lại trong một chiếc túi nhỏ trước khi bỏ vào hộp plastic mà Tài và Tước mang theo từ Việt Nam. Những tro vụn và tàn củi còn sót lại được gom vào hai chiếc bao lớn mang theo lên ca-nô để rải xuống biển trên đường về Letung.

 

Trong lúc cánh thứ nhất "hành quân" trên đồi, hai nhóm thứ nhì và thứ ba (do anh Trưởng đoàn dẫn đầu, gồm hai gia đình Trung - Minh - Thanh và David Lý - Hồ Tắc cùng các anh chị em khác trong đoàn) "tảo thanh" các khu mộ địa phía dưới. Họ quyết định đi chung với nhau thay vì tách làm hai, vì cùng theo một hướng.

 

Đường ra khu mộ khá vất vả. Họ phải băng ngang một con suối nhỏ, mực nước khoảng lưng chừng ống quyển. Chàng nào muốn làm “người hùng cõng giai nhân qua bờ suối” cũng không được, vì chính bản thân mình còn lo chưa xong. Giày vớ bị ướt là... chuyện nhỏ. Hôm nay là ngày thứ nhì ở Kuku, thân thể còn không kể số gì thì giày vớ đâu thuộc vào diện... ưu tiên bảo toàn. Lên dốc con suối hơi khó vì bờ suối đứng thẳng và cao hơn một mét. Vài người địa phương băng qua trước và họ vịn cây, nắm tay kéo lên... từng em một, vì dù bạn có mang loại giày thể thao tốt nhất của siêu cường Mỹ cũng không thể bám vào vách đất như bàn chân trần của họ được.

 

Ra tới khu nghĩa trang nơi có mộ của mẹ David, chúng tôi thấy người địa phương đã phát quang một khoảng trống chừng trăm mét vuông. Trong khi chờ mọi người tới đủ, Trần Lão Gia đi một vòng chụp hình. Không có mộ nào có hình dạng một ngôi mộ bình thường như người ta vẫn nhìn thấy. Tất cả chỉ là những gộp đá có đánh dấu trên đầu ngôi mộ, chúng tôi nghĩ như thế, vì có cục đá còn dấu sơn đỏ. Một ngôi mộ kế bên có vẻ như bị sụp vì giữa mộ bị lõm xuống chừng 3 - 4 tấc.

 

Cả nhóm quây quần góp tay bày biện lễ phẩm cúng tế trên đầu ngôi mộ mẹ của David. Trước khi xướng kinh cầu nguyện, anh Trưởng đoàn cùng bác Hồ Tắc kiểm lại lần cuối các chi tiết trên tấm bia. Bia ghi bằng Hán tự tên họ và ngày tháng qua đời là Trịnh Đinh Hằng, chết ngày 31.07.1979 (lúc ấy 44 - 45 tuổi). Như vậy, tính đến ngày tìm thấy ngôi mộ, bà đã được an táng gần đúng 30 năm.

 

Sau khi khẳng định đúng với mọi chi tiết là mẹ của David, anh Trưởng đoàn khấn vái vong linh người quá vãng: "Thưa chị, tôi là Trần Đông, Giám đốc Văn khố Thuyền nhân Việt Nam, cùng các anh chị em đến đây để tìm kiếm mộ phần của thuyền nhân và thăm lại di tích của người tỵ nạn VN. Cùng đi trong đoàn có David, ở tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ, là con của chị. Cháu lặn lội đường xa ngàn dặm đến đây tìm mộ phần mẹ để đưa di hài của chị về Hoa Kỳ. Thay mặt cho tất cả anh em trong đoàn, tôi xin khấn báo với chị và xin phép được rước hài cốt chị lên để hỏa táng và đưa về đoàn tụ với gia đình. Kính cầu nguyện vong linh của chị và cầu nguyện ơn trên gia hộ cho chị được yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng. Xin chị gia hộ cho đoàn được yên ổn và tìm được nhiều mộ phần thuyền nhân VN như mong ước."

 

Sau tuần nhang khấn báo và đốt giấy vàng bạc theo nghi thức của người Hoa, David cầm cuốc khai mộ với ba nhát cuốc đầu tiên trước khi các phu mộ địa phương tiếp tay anh thực hiện việc khai quật. Họ đào chỉ hơn năm tấc thì tìm thấy quần áo. Thêm chút nữa thấy những lớp đất đổi màu đen. Theo kinh nghiệm của các phu mộ, đó có thể là phần tan rửa của di hài. Họ tiếp tuc đào sâu thêm hơn một mét và mở rộng lòng huyệt đến hai mét nhưng vẫn không tìm thấy được chút xương nào.

 

Tuy cực nhọc - lúc ấy, trời lại đổ cơn mưa lớn - nhưng những người địa phương đã tỏ ra hết sức tận tụy với công việc. Họ không ngại ướt lạnh hoặc nhớp nháp mà chỉ cố làm cho được việc vì cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của một đứa con và tình nghĩa đồng bào của người Việt Nam.

 

Mưa càng lúc càng nặng hạt. Chúng tôi phải căng một chiếc bạt lớn để che tạm trong lúc David và các phu mộ vẫn dầm mưa tiếp tục công việc. Giờ trưa, mọi người ngồi ăn trong lều. Buổi ăn trưa đơn giản nơi hoang dã, chỉ mì xào và nước lọc. Anh Trưởng đoàn nới đùa với mọi người: "Thật hoàn toàn không thể tin nổi có những người bỏ hàng ngàn đô-la đi nửa vòng trái đất vào nơi cùng trời cuối đất này, đội mưa ăn cơm tay cầm như thế này, mà lại còn đòi tổ chức để đi nữa!"

 

Mọi người đều cười: "Như vậy mới có nhiều kỷ niệm!"

 

Cuối cùng David đành phải đầu hàng hoàn cảnh. Anh tự an ủi rằng mẹ mình ở đây lâu quá, con cái không biết chỗ và không ngờ mình lại tìm được đường đến đây. Bà có bạn bè ở đây nhiều và chắc đã quen chỗ nên nên không muốn “định cư” ở đâu nữa. David gom lại mấy mảnh áo của mẹ ra biển giặt rửa rồi đem hỏa táng, trong chiếc hố thứ nhì tại bãi biển, bên cạnh nơi vừa hỏa thiêu hài cốt của chị Thu Minh. Ngôi mộ mẹ của David được đắp đất trở lại và tấm bia được dựng lên ngay vị trí cũ.

 

Khi cuộc khai mộ mẹ của David bắt đầu, một toán 6 người khác lên đường đi tìm mộ Ba của Trung - Minh ở cách đó không xa. Cùng đi với toán này có 3 người địa phương dẫn đường. Nhóm này đi từ mé bên trái của nền chùa, nhìn ra hướng bãi biển nơi Trung và Minh chắc chắn là khu vực mộ phần của Ba mình ngày trước. Cả hai anh đều khẳng định nơi đây là vị trí ngôi mộ của cha, vì chính họ đã tự tay xây mộ và thăm viếng hàng ngày trong mấy tháng ở đảo. Nhóm Trung - Minh tìm quanh cả tiếng đồng hồ nhưng tuyệt nhiên không thấy một chút dấu tích nào của một ngôi mộ xi măng. Từ trước khi khởi hành chuyến đi, ai cũng tin rằng ngôi mộ của Nhà họ Huỳnh có nhiều hy vọng tìm thấy nhất vì mọi chi tiết về vị trí và dấu tích đều rất rõ ràng nhưng, có lẽ do ước muốn của người quá cố, chúng tôi đành đốt nén nhang từ biệt và hẹn sẽ có cơ hội trở lại tìm kiếm thêm một lần nữa.

 

Như dự định, cả đoàn tập trung tại bãi biển vào quãng ba giờ chiều khi mọi việc cũng vừa hoàn tất. Chúng tôi tận dụng thời gian còn lại tản ra chung quanh khu vực văn phòng Cao ủy và bệnh viện cũ để tìm kiếm di vật thuyền nhân với ước vọng sẽ thành lập một viện bảo tàng (hoặc nơi lưu giữ những chứng tích đó) cho các nhà viết sử hoặc cho những thế hệ sau. Tuy thời gian đã xóa nhòa gần hết dấu vết của người tỵ nạn trên hòn đảo này nhưng chúng tôi cũng còn tìm được những đoạn giây neo, vài chiếc dép nhựa và những mảnh chén bát còn sót lại trong các dãy barrack ngày xưa...

Chiếc ca-nô đưa chúng tôi quay về Letung khi trời đã bắt đầu xế chiều. Dù vậy, để "kiếm chút lời", nhóm từ Âu châu lại "vòi" thêm phần bonus: ghé ngang qua bãi Kuku 2 để... nhúng mình năm phút. Chả là họ đã từng sống một khoảng thời gian đáng nhớ ở bãi này nên tận dụng cơ hội... ba mươi năm một lần để sống lại giai đoạn đầy kỷ niệm đó. Mọi người ô-kê cái rụp và viên tài công cũng cười toét miệng gật đầu. Làn nước trong xanh mát rượi và tiếng cười đùa vui vẻ của chúng tôi như truyền nhiễm và làm lay động đến cả những cây dừa cao ngất cô đơn còn sót lại trên bãi...

 

Hoàng hôn xuống thật nhanh trên biển. Chúng tôi về lại Letung khi trời đã sẫm tối. Cứ như các hướng đạo sinh đi "trại chạy", mọi người chỉ kịp dội qua loa vài gáo nước lạnh cho trôi lớp muối biển trên thân thể trước khi tập họp tại "quán đầu ngõ" cho buổi cơm tối. Đêm nay, chúng tôi có những người khách đặc biệt: viên cảnh sát trưởng Letung, vị sĩ quan chỉ huy lực lượng quân sự trên đảo, xếp bến tàu "Mặt Đen" (cũng được mời... cho phải phép) và Adnan Nala, một người mà thực tình cho đến lúc đó chúng tôi cũng chưa biết ông đang làm gì.

 

Buổi ăn tối trong chiếc quán bình dân rộn ràng tiếng nói cười nhưng cũng đậm đà tình cảm với Nala (ông muốn chúng tôi gọi tên như thế cho thân mật). Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm cũ ở các trại Air Raya, Kuku, Galang... như thể các câu chuyện đó vừa xảy ra hôm qua. Những tên cảnh, tên người một thời từng là niềm an ủi, là nguồn hy vọng của người tỵ nạn cũng được ưu ái nhắc đến dù họ vắng mặt; như các nhân viên định cư người Nam Dương của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR): chàng Martin tóc quăn tốt bụng hút thuốc như khói tàu (được tin đã qua đời cách đây 3 năm vì bệnh gan), cô Chandra tròn trĩnh thường phát kẹo cho con nít (nghe rằng đang là một nhà ngoại giao ở tận Dubai), ông George mập vui tính luôn tình nguyện báo tin mừng cho những người "bị đá" (cũng được biết đang là một công chức cao cấp ở thủ đô Jakarta) v.v...

 

Cả một trời quá khứ hiện về trong chiếc quán ấm cúng ở ngôi làng chài này. Nó hiển hiện trước mắt trong giọng kể bùi ngùi của Adnan Nala, người từng sống một cuộc đời đẹp hơn bất cứ quyển tiểu thuyết nào mà bạn đã đọc. Đêm nay, người đàn ông có khuôn mặt dày dạn phong sương với nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ đó đang ngồi cạnh chúng tôi...

 

Hơn 30 năm trước, Nala là một sinh viên trẻ trung yêu đời ở thủ đô Jakarka với cả chân trời tương lai rộng mở trước mặt, nhưng không ngờ cuộc đời anh rẽ sang một hướng hoàn toàn không định trước bởi một mẩu tin nhắn từ người dì ruột ở hòn đảo Letung xa xôi tít mù này.

"Cháu ơi, nhân dịp mấy tuần nghỉ hè, hãy về đây... Gấp lắm cháu ạ, hàng ngày có cả chục, cả trăm người chết... xác tấp vào bờ hoang, xác trôi bập bềnh giữa biển, xác nằm vắt trên ghe... thảm lắm! Họ là những người chạy nạn từ Việt Nam, bỏ hết tất cả, bất chấp bão tố biển khơi và đói khát để tìm một cuộc sống tự do... Dì cũng đang giúp đỡ, an ủi họ... Sắp xếp về ngay cháu nhé, gấp lắm! Dì mong cháu sẽ góp tay xoa dịu phần nào nỗi đau khổ này..."

 

Với chiếc túi vải đựng bộ đồ đi đường và vài ba quyển sách, Nala rời căn phòng trọ êm ấm ở thủ đô để đáp tàu về quê ngoại ngay hôm sau. Chàng sinh viên ăm ắp lý tưởng nhân văn ngày đó chỉ tưởng "công tác nhân đạo tình nguyện" trong vài tuần nghỉ hè nhưng cuối cùng anh đã dành trọn cả tuổi thanh xuân của mình - suốt gần 20 năm trời chứ ít gì - để góp phần làm vơi bớt nỗi khổ đau thăm thẳm của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam.

"Ngày rời Jakarta tôi không mang theo gì cả, vì đâu có ngờ mình sẽ không bao giờ trở lại căn phòng trọ sinh viên độc thân rất vui vẻ đó... Sau mấy tuần hè, tôi không thể nào đành lòng trở lại học hành khi mỗi ngày vẫn còn thấy thảm kịch con người tiếp diễn trước mắt, ở ngay Letung này chứ đâu xa - và những hòn đảo kế cận như Air Raya, Air Biru, Berhala, Keramut... Trong mấy năm đầu, mỗi ngày tôi bế trên tay mình ít nhất một người chết vì kiệt sức hoặc bệnh tật trên đảo, hoặc những xác thuyền nhân trôi giạt vào bờ. Cứ như thế, thời gian vẫn vô tình trôi qua với những chuyện dồn dập từng ngày. Một tháng, rồi một năm, rồi vài ba năm... cho đến khi giai đoạn cao điểm tạm lắng xuống, đầu tôi chỉ còn vài cụm tóc lưa thưa. Trong thời gian đó, tôi học tiếng Việt và được tuyển dụng làm nhân viên cứu trợ khẩn cấp của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Tôi là người đầu tiên khánh thành văn phòng UNHCR ở Tanjung Penang và cũng là người cuối cùng đóng cửa cơ quan này hơn 20 năm sau...

"Không... Tôi không kể câu chuyện này để gợi lại những đau thương mất mát quá lớn của người tỵ nạn Việt Nam thời đó, nhưng thực sự tôi đã khóc vì vui mừng khi gặp lại các bạn sáng nay. Hẳn là linh hồn của những người nằm lại ở đây sẽ được an ủi rất nhiều vì các bạn đã không quên họ... Nếu được sống một cuộc đời khác, tôi chỉ xin giữ lại thời gian đáng nhớ và đầy tình người đó..."

 

Với một giọng kể đầm ấm và thân mật, Nala cười vui tiếp:

 

"Nhưng cũng nhờ cơ duyên làm việc cho người tỵ nạn, tôi mới bị... 'kẹt luôn' ở đây. Tôi kết hôn với một cô giáo làng Letung ngoan hiền và xinh đẹp. Chúng tôi sống hạnh phúc với nhau gần 20 năm qua. Hôm nay, tôi về đây thăm gia đình và tình cờ gặp lại các bạn. Có lẽ, cái duyên của tôi với người Việt Nam chưa dứt!"

 

Cái duyên đó, ngay trong buổi tái ngộ trên hòn đảo Letung này, chúng tôi hân hoan đón nhận một tin vui cũng hết sức bất ngờ: trong lúc chúng tôi còn tất bật khai quật và hỏa thiêu hài cốt ở Kuku, Adnan Nala được chính thức xác nhận đã đắc cử dân biểu của Quốc hội bang Tanjung Pinang! Thảo nào, ông đã nén lại sự sốt ruột sùng sục khi đến thăm chúng tôi ở cầu tàu vào buổi sáng. Chúng tôi càng cảm kích nghĩa tình đó khi biết tối hôm nay, ông đã phải từ chối nhiều lời mời mọc liên hoan khác để đến dự buổi cơm thân mật với chúng tôi trong một quán bình dân bên đường, kể lại chuyện tỵ nạn - bằng tiếng Việt rặc giọng miền Nam và rất đúng văn phạm - mà tròng mắt đỏ hoe... 

 

(Cuộc hạnh ngộ với Nala khiến tôi bùi ngùi nhớ đến Alcoh Wong, một đại ân nhân khác của người tỵ nạn Việt Nam ở Mã Lai và cũng là một người đỡ đần rất nhiều cho công tác của Văn khố Thuyền nhân Việt Nam. Là một sử gia gốc Hoa ở Terrenganu, ông Wong cũng đã dành gần trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho việc cứu giúp, chôn cất và ghi chép thảm kịch con người này trong gần ba thập niên, từ khi thuyền nhân Việt Nam đầu tiên đặt chân lên trại tỵ nạn Bidong năm 1977 cho đến khi ông qua đời vì một cơn bạo bệnh cách đây hơn ba năm...

 

Trong suốt thời gian dài dặc đó, ông Wong đã bôn ba khắp nơi để gõ cửa xin các cơ quan từ thiện cứu trợ cho người tỵ nạn, đã lặn lội đến mọi bãi biển ở Mã Lai mỗi khi nghe tin có xác thuyền nhân Việt Nam trôi dạt vào bờ, đã ghi chép bất cứ chi tiết nào có được của người xấu số để chôn cất, lập bia và in sách cho thân nhân tìm kiếm về sau... Ông đã làm tất cả những việc đó trong âm thầm, bằng thời giờ và tiền túi của mình, mà không mảy may mong chờ một sự đền đáp. Bây giờ, Alcoh Wong đã vĩnh viễn ra đi, nhưng chắc chắn hình ảnh của ông vẫn sống mãi trong lòng những người từng thọ ơn ông...)

 

Buổi cơm tối với liều lượng vitamin tình cảm tràn đầy cùng Nala đã gội rửa sạch sẽ  hai ngày dãi dầu mưa nắng ở Kuku. Chúng tôi hầu như đã gửi lại trên hòn đảo ấy những niềm vui nỗi buồn của thời long đong tỵ nạn, để chỉ còn trân trọng nâng niu giờ phút quý giá bên nhau giữa những người tuy không cùng nguồn gốc chủng tộc - văn hóa nhưng lại vô cùng gần gũi trong tình người và lẽ sống.

 

Tối nay, anh Trưởng đoàn tuyên bố... xả giới nghiêm, mọi người có thể tha hồ "chơi xả láng, sáng dậy... trễ", vì ngày mai là một chương trình hoàn toàn tự do để thư giãn và... phục hồi công lực. Khỏi cần nói, xếp ơi! Thấy ông bận bịu quá nên tụi tui đã tự động chuẩn bị đâu vào đấy cả rồi. Út Hùng ra chợ đẩy về một xe cút kít đầy... bia Tiger. Bác Hồ Tắc vào bếp trổ tài nấu cà-ri cá đuối làm mồi. Bạn Văn Nam lòng vòng kiếm được một chiếc guitar từ thời Suharto mới lên cầm quyền. Cô nương Mimi rảo trong xóm rủ rê các em thiếu nhi đi xem "văn nghệ quốc tế". Ông nhà báo Lựu Đạn đóng vai chủ xị, ai lạng quạng là phạt... chết liền! Và toàn thể anh chị em trong đoàn - không chừa người nào - đều trở thành "ngôi sao một đêm" của xóm chài Letung, nơi chúng tôi so sánh một cách lãng mạn (có kẻ xấu miệng lại bảo là lãng... xẹt!) như một Venice của Á châu.

 

Sân khấu (kiêm bàn nhậu) là phần sàn gỗ trước căn nhà trọ "tổng hành dinh" của đoàn. (Bây giờ nghĩ lại mới thấy... ớn. Rủi bửa đó có chàng nào xỉn xỉn mà "ôm trăng đánh giấc" dưới nước như nhà thơ Lý Bạch thì khốn!). Hai hàng ghế dài bày ra, lổn ngổn ở giữa là... bánh phồng cá, cà-ri cá và những thứ đồ nhậu không tên khác. Mọi người cứ "tự nhiên như ruồi" chứ chẳng có màn... nhà hàng hết lòng phụ vụ quý khách đâu nghen!

 

Khán thính giả bao gồm cả các vị "đại diện" (dịch nôm na là... tai to mặt lớn) chính quyền và quân đội trên đảo - kể cả "Thằng Mặt Đen" bây giờ cũng nhập sòng và đã góp phần trình diễn vài bài hát khá hay - và... một bầy tang tình con nít! Thành phần "diễn viên và ca sĩ chủ lực" không ai khác hơn là... tụi tui, dù chẳng mạng nào qua trường lớp ca hát đâu cả nhưng đã "xuất thần" chẳng kém các thí sinh chung kết của American Idols! Nếu có ai muốn đánh đổi buổi văn nghệ ngẫu hứng đó bằng bất kỳ chiếc vé đại nhạc hội thượng hạng nào trong các hí viện "hoành tráng" nhất ở Úc, Đức, Pháp hay Mỹ với sự hiện diện của các siêu sao "vào cầu rực lửa" lừng danh thế giới, tôi chắc rằng chẳng ai trong đoàn... thèm vào!

 

Vì dễ gì bạn nghe "Khúc hát Air Raya" (một trong những nhạc phẩm đầu tiên được viết bởi chính người tỵ nạn VN ở hải ngoại) từng được sáng tác ở ngay trên hòn đảo này hơn 30 năm trước, dễ gì có cảm xúc bồi hồi "Trở về mái nhà xưa" bởi giọng ca rè của cựu ca truởng Ca đoàn (V)ô nhiễm Nguyễn Triệu, dễ gì được quằn quại cùng "Nửa hồn thương đau" với Oanh Oanh, dễ gì có cơ hội được thưởng thức các "tài năng trẻ" mới vừa "xuất khẩu" từ trong nước (không theo Nghị quyết 36) của Tài và Tước... Rồi được cười lộn ruột với những vũ điệu sút quần của cựu cán bộ nông thôn Hồ Tắc, với những mẩu chuyện tiếu lâm mặn hơn nước biển của ông già làm báo. Và những "mầm non văn nghệ" ở tuổi... tri thiên mệnh; như Đình Chung, Ngọc Thúy, Kim Vân...

 

Nhưng xuất sắc nhất vẫn là những giọng ca hồn nhiên trong sáng của các em nhỏ Letung trong những bài dân ca Nam Dương tuyệt vời. Chỉ nhìn các em say sưa đánh đàn gõ trống (trên chiếc can nhựa đựng nước) với tất cả sự nhiệt tình và ngây thơ của tuổi trẻ, đám người lớn chỉ biết... lắc đầu chào thua. "Thôi tiếc mà chi, than mà chi..." Thời của các bác, các chú, các cô đã qua rồi! Giấc mơ trở thành ca sĩ xin vui vẻ nhường lại từ đây...

 

Rồi buổi tiệc cũng tàn. Chiến trường la liệt xác... quân ta. Làng chài yên ắng trở lại. Khi thu dọn "sân khấu về khuya", tôi đã nghe tiếng gà gáy sáng và lác đác đã có người đẩy ghe ra biển, bắt đầu một ngày mới cho cuộc sống bình dị của người dân địa phương như từ bao đời nay...

 

Ngày 5 (14.04: Berhala - Air Biru): Quê người chạnh nhớ...


Tuy là ngày "sinh hoạt tự do" trong chương trình nhưng chúng tôi cũng đã tận dụng thời gian để... đi cho biết đó biết đây. Theo lời chỉ dẫn của người dân địa phương, cả đoàn rủ nhau đi bộ đến đảo Berhala kế cận, nơi được biết có vài chục ngôi mộ thuyền nhân VN an táng từ gần 30 năm trước. Nghe "đi bộ đến đảo" có vẻ hơi... là lạ, nhưng thật sự là vậy. Một chiếc cầu đá dài và vững chắc đã được xây từ nhiều năm trước (sau thời người tỵ nạn VN đến đây) nối liền Letung với Berhala cho người đi bộ. Xe hơi nhỏ cũng có thể chạy trên chiếc cầu.

 

Trên đảo Berhala chỉ có vài ngôi nhà và một đài hải đăng hướng dẫn tàu bè quốc tế qua lại trên vùng biển này. Nơi đây cũng rất gần với hải phận quốc tế và là một "khu vực nhạy cảm" trong tình hình tranh chấp lãnh hải hiện nay giữa những quốc gia lân cận, đặc biệt là từ khi Trung Quốc công bố "bản đồ lưỡi bò" dành phần chủ quyền của họ trên Biển Đông. Chính phủ Nam Dương không ồn ào tranh cãi về tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán từ phương Bắc nhưng rõ ràng họ đã khẳng định tư cách chủ nhân của mình bằng hành động. Chiếc cầu Berhala và lá cờ đỏ trắng trên đỉnh đảo là một tuyên ngôn không lời, nhưng rõ ràng và quyết liệt biểu hiện ý chí bảo vệ giang sơn của họ.

 

Chúng tôi đi bộ trên chiếc cầu với một tâm trạng nao nao khi nghĩ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phần lãnh thổ của tổ quốc nằm rất xa nơi đây đang bị nuốt chửng thô bạo bởi những kẻ từng một thời tự coi như "vừa là đồng chí, vừa là anh em" với chế độ đương quyền ở quê nhà. Tự dưng, chẳng ai bảo ai, những khúc dân ca, những bài hát đánh thức lòng yêu nước và tình tự dân tộc được cất lên, say sưa và xúc cảm, cứ như chúng tôi đang đi trên con đường cái quan Việt Nam...


"Tôi đi từ Ải Nam Quan qua vài ngàn năm lẻ...", "Anh em ta cùng mẹ cha, nhớ chuyện cũ trong tích xưa khi thế gian còn mù mờ...", "Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn, đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang...", "Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi! Ai chiến thắng không hề chiến bại..."

 

Dường như trời mây non nước Nam Dương cũng cảm thông với tấc lòng hoài quốc của đoàn lữ khách. Ánh nắng buổi sáng nhiệt đới có phần dịu xuống trên lưng áo đã bắt đầu rướm mồ hôi của chúng tôi.


Hôm nay, chúng tôi may mắn gặp được người con trai duy nhất của ông, một Mục sư hiền lành và thân thiện. Ông nói tiếng Anh khá thông thạo nên chúng tôi cũng đỡ... mỏi tay. Ông kể lại nhiều kỷ niệm thời niên thiếu của mình với người tỵ nạn VN và cho biết ông sẽ hiến tặng phần lớn đất đai của mình để xây trường tiểu học và bệnh xá cho dân địa phương, chỉ giữ lại một khoảnh nhỏ có phần mộ của thân phụ và các thuyền nhân VN trên đỉnh đồi...
 
Vì không có người chăm sóc trong nhiều năm nên các phần mộ của thuyền nhân VN bị xiêu lạc, mất dấu. Chúng tôi chỉ tìm thấy vài mô đất và tảng đá nhưng không có bia mộ ghi tên người quá vãng. Dân địa phương cho biết phía sau đồi cũng còn dăm ngôi mộ người Việt nữa nhưng đường dốc rất khó đi... Chúng tôi tập họp lại và cùng vị Mục sư hợp tế cho những người được an táng ở đây. Vì là địa điểm tưởng niệm cuối cùng trong chặng đường hành hương, phần nhang đèn và vàng mả còn lại của David mang từ Hoa Kỳ được mang ra đốt hết trong buổi lễ cầu nguyện này trước khi chúng tôi quay về bến tàu.
 
Khi nghe tin đoàn trở lại Terempah, nhóm ngư dân VN bị bắt mà chúng tôi gặp gỡ trước đó mấy ngày trong chặng đi đã xin phép cảnh sát địa phương đến gặp để tâm tình đồng bào và nhắn tin về nhà. Nói là “xin phép” vì họ đang là những người tù, bị giam lỏng trên hòn đảo này về tội xâm nhập và khai thác hải sản bất hợp pháp trong lãnh hải Nam Dương. Hàng ngày, họ vẫn được ra ngoài làm tạp dịch dưới sự giám sát của cảnh sát Nam Dương để tự nuôi thân bằng mọi việc: khuân vác bến tàu, quét dọn đường xá, phụ hồ xây dựng, khai hoang làm rẫy...
 
Cuộc đời tù tuy khó khăn (thường khi bị chèn ép và đôi lúc bị đánh đập) nhưng họ vẫn cảm thấy chịu đựng được vì ít ra họ còn được cho phép ra khỏi hàng rào của khu tạm giam để kiếm sống, hòa nhập vào sinh hoạt của người địa phương và hít thở không khí tự do. Điều làm họ đau đớn và tủi nhục hơn là thái độ vô cảm đến mức ghẻ lạnh của nhân viên ngoại giao của chính nước mình.
 
Tuy đã nhiều lần cầu cứu với Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam ở Kuala Lumpur nhưng họ chỉ chạm mặt với một bức tường im lặng khủng khiếp. Cái cơ quan có nhiệm vụ đại diện và bảo vệ cho người dân của mình ở nước ngoài này không hề can thiệp, chẳng màng cử người đến thăm hỏi, thậm chí từ chối luôn cả việc chuyển thư của họ về thân nhân trong nước. Vì không có tiền, không có người bênh vực và lại bị giam giữ ở một hải đảo xa xôi, trường hợp của họ hầu như chẳng ai ở thế giới bên ngoài biết đến.
 
Đa số trong nhóm các ngư dân này là từ Nha Trang và Vũng Tàu. Họ chỉ là những người “đi bạn” trên các tàu đánh cá viễn duyên đó và không hề biết đã vi phạm luật hành nghề quốc tế. Có người đã ở đây gần một năm, có người mới chỉ vài tháng và tất cả đang chờ đợi ngày ra tòa hoặc phải nộp tiền phạt mới được trả về nguyên quán. Ở Terempah hiện có khoảng 30 ngư dân Việt Nam còn bị giam giữ vì không có tiền chuộc tàu hoặc chưa lãnh án. Chúng tôi cũng được biết số ngư dân VN bị bắt trong vùng này lên đến hàng trăm và đa số đang bị giam giữ ở Tangjung Pinang.
 
Trong tâm tình đồng bào, nhóm ngư dân VN bị giam ở Terempah kể cho chúng tôi về hoàn cảnh khổ cực và cô đơn của họ qua làn nước mắt: “Nhiều ngày anh em tụi tôi không có việc làm, phải nhịn đói. Ai cũng mong chờ ngày về gặp lại gia đình, nhưng làm sao có được hai ba trăm triệu đồng để nộp phạt? Số tiền đó bằng cả một đời làm lụng của chúng tôi chớ ít sao... Các chủ tàu thì đã phủi tay mà 'Nhà nước mình' cũng làm ngơ. Tụi tôi chỉ biết cầu Trời!”
(Nhớ lại chuyến đi thăm các trại tỵ nạn cũ ở Mã Lai hồi cuối n?m 2005, tôi cũng đã gặp một nhóm “lao động xuất khẩu” biểu tình ở Kuala Lumpur vì bị chèn ép và ngược đãi nhưng chẳng hề được Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam can thiệp hoặc giúp đỡ. Chẳng biết quý ngài nhân viên ngoại giao ở đó làm chuyện gì, ngoài việc ăn chận tiền cò từ dịch vụ buôn bán nước mắt và mồ hôi của nhân dân cùng khổ.)
 
Buổi gặp gỡ ngắn ngủi với nhóm ngư dân ở Terempah bị cảnh sát cắt ngang vì “hết giờ thăm nuôi”. Chúng tôi góp lại những món quà thực tế để giúp họ qua cơn ngặt nghèo và nhận chuyển những lá thư gửi về nhà với cõi lòng nặng trĩu...
 
Chuyến ca-nô tốc hành đưa chúng tôi về lại Matak vào buổi trưa nắng đẹp. Cũng như lượt đi, máy bay đến Tangjung Pinang lại... trễ giờ. Ngồi chờ lây lất trong một quán ăn ven đường, anh Trưởng đoàn và Edi cứ quýnh quáng như gà mắc đẻ, vì nếu không kịp chuyến phà chót trong ngày về Batam, chúng tôi phải nằm lại đây và ngủ... màn trời chiếu đất.
 
Cũng hên, khi mọi người gần như đã... đầu hàng giờ giấc của Air Riau, chúng tôi được báo tin máy bay đã đến và sẽ cất cánh trong vòng 10 phút nữa. Thế là ba-lô lên vai và mạnh ai nấy chạy! Khi người cuối cùng bước qua khỏi cầu thang, máy bay cũng vừa lăn bánh ra phi đạo. Nhờ Edi sắp xếp sẵn, hành lý của chúng tôi gửi lại khách sạn mấy ngày trước đã được chuyển thẳng ra bến phà. Một lần nữa, chúng tôi là nhóm hành khách cuối cùng của chuyến chót trong ngày về Batam, nơi chúng tôi chỉ còn kịp thời gian để nhận phòng ở khách sạn Nagoya và... lăn đùng ra ngủ!
 
Ngày 8 (17.04 Galang - Singapore): Ngưỡng cửa Tình người

Buổi điểm tâm “hoành tráng” trong phòng ăn lịch sự tại khách sạn thuộc hạng xịn này làm chúng tôi nhớ da diết món mì xào ớt mấy ngày qua. Lạ thật, mới hôm qua chớ đâu, mọi người vẫn còn mình trần chân đất, ăn nói bạt mạng như chỗ không người mà bây giờ lại áo quần bảnh bao, cử chỉ lịch sự ra phết! Ai nấy cũng đều gắp nhỏ nhẹ, ăn nhỏ nhẹ, uống nhỏ nhẹ - thậm chí đến rủ nhau vào phòng vệ sinh cũng... nhỏ nhẹ, chả bù lúc “trên trời mây trắng như bông, ở giữa cánh đồng mông trắng như mây” ì xèo trên hoang đảo. Họ làm như một tiếng cười ré lên không đúng chỗ sẽ trở thành mục tiêu cho hàng trăm ánh mắt nhíu lại khó chịu. Té ra, cái đời sống “văn minh đô thị” đã... điều kiện hóa người ta như vậy. Nhưng dường như chẳng có ai lẩm cẩm triết lý về những chuyện ruồi bu đó. Mọi người còn mải mê “gỡ” những tấm hình cuối cùng trước khi chia tay với nhóm từ Pháp (anh chị niên trưởng Tôn Thất Vinh - Vân Hải và cặp sam biển dính nhau khít rịt Chung - Thúy) vì nhóm này sẽ phải bay lên thủ đô Jakarta trong ngày để về lại Paris.
Màn “Lên xe tiễn nhau đi, chưa bao giờ... mừng thế” diễn ra khá... rươm rướm (gớm, chẳng biết mấy bà mấy cô lấy đâu ra thứ chất lỏng quý hiếm này dễ dàng thế!) nhưng cũng gọn nhẹ vì chúng tôi còn phải tranh thủ ngày cuối cùng của chuyến đi để thăm trại tỵ nạn Galang, nơi từng là trạm dừng chân của nhiều cựu Kuku trước khi lên đường định cư.
 
Thật ra, chặng Galang không nằm trong chương trình ban đầu nhưng theo yêu cầu của nhiều người trong đoàn, Trần Lão Gia đã thu xếp với công ty du lịch để chúng tôi trở lại nơi từng được đặt tên là “Ngưỡng cửa của Tự do và Tình người” chỉ cách Batam hơn một tiếng lái xe.
 
Dù chỉ trong vài giờ ngắn ngủi, chúng tôi đã đến được các địa điểm ghi dấu nhiều kỷ niệm trong đời tỵ nạn như Cầu tàu và Chùa Quan Âm ở Galang I, Nghĩa trang Galang III, Miếu Ba Cô và Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Galang II... Tại những nơi này, chúng tôi cũng đã thực hiện những buổi lễ cầu siêu cho hương linh đồng bào nằm lại trước khi trở lại bến phà Batam về Singapore vào buổi chiều.
 
Buổi ăn tối chia tay trên cầu tàu Boat Quay ở Singapore tuy dập dìu tài tử giai nhân, đèn màu rực rỡ cả một khúc sông và nhiều món ăn hấp dẫn nhưng không khí trong nhóm dường như trầm hẳn xuống. Mấy tay “quậy” cũng nín khe không moi ra được một câu bông đùa thường ngày khi chúng tôi uống cạn hớp bia cuối cùng và đứng dậy ôm nhau hát khẽ bài tạm biệt “Gặp nhau đây, rồi chia tay...” lúc đồng hồ chỉ quá nửa đêm.
 
Vài giờ nữa, nhóm Mỹ (Mimi, Anh Huy, David và bác Hồ... tặc) sẽ lim dim trên đoạn đường bay mười mấy giờ về nhà. Nhóm Đức (anh chị Văn Nam - Xuân Hương) còn tiếp tục giang hồ thêm vài ngày cho bõ công. Những người còn lại trở về khách sạn... chờ sáng.
 
Ngày 9 (18.04 Singapore - Home): Gặp nhau đây, rồi chia tay...

Buổi sáng, băng 3T Triệu - Tài - Tước và anh em Nhà họ Huỳnh đã ra ngồi lại quán cà-phê lề đường ở vùng Geylang từ sớm. Trần Lão Gia, út Tuấn Hùng và tôi cũng lục tục tấp vào. Ly cà-phê sữa tổ chảng (chỉ 80 xu Sing) đã giúp chống lên đôi mí mắt lúc nào cũng chực sụp xuống vì thiếu ngủ. Lác đác những cô gái ăn sương thức sớm ghé lại ăn sáng, gương mặt không son phấn trông phờ phạc, mệt mỏi...
 
Thấm thoát mà đã 10 ngày. Mười ngày trước, chúng tôi cũng đã ngồi ở đây, chưa biết đoạn đường sắp tới sẽ ra sao nhưng mọi người đều háo hức, nôn nả. Bây giờ, gia tài tinh thần của từng người phong phú hơn, tình cảm với nhau mặn mà hơn nhưng không tránh khỏi tâm trạng bồi hồi, quyến luyến trước giờ giã từ.
 
Ngoài những người sắp cất cánh về nhà, Út Tuấn Hùng (từ Thụy Điển) sẽ trở lại Galang trong ngày để trùng tu lại Miếu Ba Cô như lời khấn nguyện. Anh Trưởng đoàn ngày mai sẽ tiếp tục lên đường đi Mã Lai đến Hội Hồng Nguyệt ở thủ đô Kuala Lumpur để thu xếp việc scan lại hàng trăm ngàn thẻ thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam từng ghé lại đất nước này. Riêng tôi lại lòng vòng mò đến trại tỵ nạn xưa và tìm thăm những bạn cũ ở Singapore.
 
Mọi người xốc ba-lô lên vai, xiết tay nhau cú chót và chúc nhau “bảo trọng”.
 
Lời kết:
 
Thế đấy, chúng tôi 22 người từ 6 quốc gia, hầu hết chưa quen biết nhau trước, đã sống với nhau trọn vẹn trong gần 10 ngày của chuyến đi để đời này. Chúng tôi đã chia sẻ với nhau những món hải sản tươi rói mới vớt lên từ lòng biển trong veo hoặc những tô mì gói nguội ngắt giữa đêm khuya, trong những khách sạn đầy đủ tiện nghi ở thành phố hoặc những phòng trọ qua đêm ở vùng quê được ngăn bởi tấm vách không đủ độ dày để đẩy lùi tiếng ngáy của... mấy ông thợ kéo gỗ, với những quyến luyến không rời giữa những người bạn mới quen mà đã trở thành tri kỷ, với những nén nhang thành tâm lung linh trước các mộ phần vô danh của thuyền nhân Việt Nam ở nơi cùng trời cuối đất này.
 
Trong chuyến đi, không ai trong đoàn tiên đoán được hết những bất ngờ dọc đường. Chương trình được linh động điều chỉnh liên tục vì sự thay đổi ngoài dự tính. Chúng tôi đã di chuyển bằng mọi phương tiện có thể thu xếp được tại chỗ; từ những phi cơ hiện đại của các hãng hàng không quốc tế đến các chuyến bay nội địa bằng phi cơ cánh quạt thời... Đệ nhị Thế chiến, từ những chiếc ca-nô cao tốc đến các chiếc tàu khách chậm rì, từ những xe du lịch rì rào máy lạnh êm như ru đến các chiếc xe đò cởi hết cả áo vẫn còn chảy mồ hôi (thật là... tội nghiệp cho các bà các cô!), từ các đoạn "xe ôm" từng cặp bất đắc dĩ đến những cuốc... xe dép mỏi nhừ đôi chân. Vậy mà chẳng ai thốt ra một lời than. Vậy mà chỉ nghe tiếng cười, câu hát, chuyện vui rộn ràng trên những đoạn đường tìm về kỷ niệm...
 
Chúng tôi đã hưởng thụ - theo nghĩa đúng nhất - những phong cảnh kỳ vĩ của thiên nhiên và thổ sản địa phương độc đáo mà những du khách dư dã tiền bạc chưa chắc đã mua được. Làm sao bạn có thể ngắm được ánh nắng chiều ráng đỏ trên đường chân trời giữa chập chùng hải đảo? Làm sao bạn có thể ngâm mình dưới làn nước trong veo như thủy tinh trên bãi cát trắng mịn ở bãi biển mà người địa phương đặt tên là "Nước của Trời", uống ngụm nước dừa mới hái và ăn ngay tại bãi những con tôm hùm còn quẫy đuôi tanh tách do các ngư dân mang đến trên những chiếc ghe độc mộc chèo tay? Và làm sao có được những đêm văn nghệ ngẫu hứng vui nhộn bằng các ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Việt và Nam Dương được trình diễn bởi "những giọng hát quốc tế chưa hề cầm micro chuyên nghiệp" nhưng hay chẳng kém bất cứ siêu sao ca nhạc nào?
 
Chúng tôi cũng đã sẻ chia với nhau những dòng nước mắt rưng rưng hạnh phúc khi cùng các bạn đồng hành tìm thấy mộ phần quạnh hiu nhang khói từ hàng chục năm qua của người thân nằm lại trên đảo, nhặt từng chiếc dép, sợi neo, mảnh chén... còn vương mùi dâu bể của cuộc hành trình gian truân và bi thảm nhất trong lịch sử dân tộc.
 
Nhưng thú vị và cảm động nhất vẫn là những ân tình đậm đà với những người mà chúng tôi một thời đã chịu ơn, hoặc với những người đương thời mà chúng tôi đang mắc nợ.
 
Trước hết phải kể đến người dân địa phương hiền hòa và chất phác ở Matak, Terempah, Letung, Air Raya, Keramut... Nhớ lại trước đây, họ đã đón tiếp các đợt thuyền nhân Việt Nam trôi dạt đến vùng quần đảo Anambas này bằng những bàn tay nâng đỡ, những nồi cháo hồi sinh, những tấm áo lành lặn tạm che tấm thân tơi tả vì sóng gió hoặc hải tặc. Bây giờ, cũng chính họ phá rừng mở lối, hướng dẫn tìm mộ, cùng san sớt niềm vui nỗi buồn trong câu chuyện xưa với những người họ từng một thời cưu mang. Dưới lưng áo bạc trắng muối biển và làn da đen sạm nắng gió nhiệt đới, trái tim của họ vẫn đỏ tươi một tình người thủy chung, bất biến. Họ tiếp đón chúng tôi bằng bàn tay nắm chặt và nụ cười hồn nhiên như những bác Ba, chú Tư, cô Năm, dì Sáu... ở miền Trung, miền Tây của quê hương Việt Nam trong lòng những kẻ xa quê lâu lắm mới có dịp trở về - không phân biệt đoàn "du khách quốc tế" này ngày xưa là chén sành bây giờ là chén kiểu.
 
Chúng tôi cũng đã có cơ duyên hạnh ngộ với những ân nhân thầm lặng của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam như Adnan Nala, người đã dành trọn tuổi thanh xuân cho lý tưởng nhân đạo cao thượng mà hy sinh cả tương lai sự nghiệp của mình.
 
Và chúng tôi cũng đã gặp gỡ các ngư dân Việt Nam bị tù giam ở Terempah trong một hoàn cảnh bẽ bàng, buồn tủi vì bị bỏ rơi bởi chính những kẻ vẫn luôn miệng rêu rao là “chính quyền nhân dân”. Có sống những giây phút tận cùng mâu thuẫn và nghịch lý ấy mới thấy thấm thía ý nghĩa của những chữ đồng bào và đồng hương.
 
Sau cùng là anh chàng hướng dẫn viên xuề xòa dễ mến Edi Surbakti, xếp của một công ty du lịch ở Thành phố Batam. Suốt chuyến đi, hầu như anh chỉ ngủ mỗi đêm vài giờ nhưng phải thường trực đối phó với "những việc không tên" nặng như búa tạ mà có lẽ rất ít người trong đoàn biết được. Ngày từ giã chúng tôi, Edi đã không cầm được nước mắt. Anh đã nhiều lần đích thân phụ trách hướng dẫn các đoàn của VKTNVN về thăm các trại tỵ nạn ở Nam Dương từ năm 2005, mỗi lần đối với anh là một kỷ niệm khó quên, nhưng dường như anh chưa hề bộc lộ sự xúc động cao độ như lần này.
 
Là một người hoạt bát và thích bông đùa, Edi lại trở nên lúng túng nghẹn ngào khi nói lời chia tay với một giọng sũng nước. Nhân danh một công dân Nam Dương bình thường và biết xấu hổ, anh đã xin lỗi mọi người về hành vi quấy nhiễu và hối lộ của "những thằng chó chết" (các quan chức tham ô ở địa phương) trong một số chặng đường chúng tôi đã qua. Thật ra, nhiều người trong đoàn hoàn toàn không biết gì về những chuyện ấy cho đến ngày cuối cùng vì anh đã chịu đựng nín nhịn để gìn giữ không khí thoải mái của chuyến đi. Nghe được chuyện, tôi chỉ ao ước phải chi những kẻ đang cầm quyền cai trị đất nước Việt Nam cũng biết xấu hổ như một công dân bình thường Edi ở Nam Dương...
 
Có vài độc giả khi đọc bài phóng sự lê thê này đã hỏi tôi một câu rất thực tế: “Đi như vậy tốn bao nhiêu tiền?”
 
Tôi hiểu câu hỏi này xuất phát từ sự quan tâm chính đáng vì, ngoài nhu cầu tâm linh và mục đích rõ ràng như vậy, họ cũng phải chuẩn bị về khả năng tài chánh để tham dự chuyến đi. Những người tham dự chuyến đi vừa qua cũng đã từng đặt câu hỏi như thế. Và, như vài đoạn viết vui về “anh chàng trùm sò” trong bài, mọi người đều nhẩm tính rằng họ đã “lời to” sau chuyến đi, không những trong ý nghĩa vật chất mà còn cả về phương diện tinh thần.
 
Nhân đây, xin được kể một câu chuyện ngoài lề để kết thúc bài phóng sự này: Sau hàng chục năm “cày sâu cuốc bẩm”, anh Triệu (từ Melbourne - Úc) dành dụm được ít tiền dằn túi để cố gắng thực hiện lời hứa đưa di hài của vợ từ Kuku về gia đình. Anh từng dự tính thực hiện một chuyến đi riêng (trước khi biết đến Văn khố Thuyền nhân VN) với chi phí ước chừng... vài chục ngàn đô-la (xin lỗi anh Triệu, tôi phải nói ít đi một chút cho độc giả tin, chứ nói cả trăm ngàn thì sợ... trộm viếng nhà anh!) vì nó bao gồm các phương tiện di chuyển và giấy tờ rất nhiêu khê, tốn kém; như thuê tàu bè, trực thăng chuyên dụng, nhân công địa phương, thủ tục bốc mộ và mang tro cốt về nước v.v... Nhưng khi được bạn bè và gia đình hỏi về chi phí cho chuyến đi vừa qua với kết quả tốt đẹp ngoài sự mong đợi, anh cho biết toàn bộ chỉ tốn khoảng 6000AUD cho cả ba anh em 3T, kể cả những chi phí riêng. Ai cũng cho là... “quá bèo”, dù so với giá cả và mức sống ở Việt Nam!
 
Các bạn có thể xem thêm tin tức và hình ảnh của chuyến đi tại www.vktnvn.com