Trong nhóm chúng tôi cũng không ai từng thực hiện hoặc chứng kiến sự hỏa thiêu hài cốt bao giờ nên chẳng biết tiến hành thế nào. Riêng tôi vài lần được nghe thoang thoáng nhưng trong hoàn cảnh này, có lẽ là người “rành” nhất. Chúng tôi lại bàn với nhau và anh Triệu cũng đồng ý là mọi việc cốt ở tấm lòng, không nề hà thủ tục gì cả.

Rồi chúng tôi bày ra bình hương giữa trời, tang chủ cáo tế trời đất để xin hỏa thiêu di hài và mỗi người một nén nhang cầu nguyện cho linh hồn Cecile siêu thoát. Bộ hài cốt của Cecile Thu Minh được nhẹ nhàng đặt lên trên lớp củi ẩm ướt vì mưa và được mồi bằng dầu hỏa. Ngọn lửa hồng tươi bùng lên và hài cốt dần dần biến thành tro trắng sau khoảng hơn một giờ hỏa thiêu... Ba anh em hốt nắm tro xương và nén lại trong một chiếc túi nhỏ trước khi bỏ vào hộp plastic mà Tài và Tước mang theo từ Việt Nam. Những tro vụn và tàn củi còn sót lại được gom vào hai chiếc bao lớn mang theo lên ca-nô để rải xuống biển trên đường về Letung.

 

Trong lúc cánh thứ nhất "hành quân" trên đồi, hai nhóm thứ nhì và thứ ba (do anh Trưởng đoàn dẫn đầu, gồm hai gia đình Trung - Minh - Thanh và David Lý - Hồ Tắc cùng các anh chị em khác trong đoàn) "tảo thanh" các khu mộ địa phía dưới. Họ quyết định đi chung với nhau thay vì tách làm hai, vì cùng theo một hướng.

 

Đường ra khu mộ khá vất vả. Họ phải băng ngang một con suối nhỏ, mực nước khoảng lưng chừng ống quyển. Chàng nào muốn làm “người hùng cõng giai nhân qua bờ suối” cũng không được, vì chính bản thân mình còn lo chưa xong. Giày vớ bị ướt là... chuyện nhỏ. Hôm nay là ngày thứ nhì ở Kuku, thân thể còn không kể số gì thì giày vớ đâu thuộc vào diện... ưu tiên bảo toàn. Lên dốc con suối hơi khó vì bờ suối đứng thẳng và cao hơn một mét. Vài người địa phương băng qua trước và họ vịn cây, nắm tay kéo lên... từng em một, vì dù bạn có mang loại giày thể thao tốt nhất của siêu cường Mỹ cũng không thể bám vào vách đất như bàn chân trần của họ được.

 

Ra tới khu nghĩa trang nơi có mộ của mẹ David, chúng tôi thấy người địa phương đã phát quang một khoảng trống chừng trăm mét vuông. Trong khi chờ mọi người tới đủ, Trần Lão Gia đi một vòng chụp hình. Không có mộ nào có hình dạng một ngôi mộ bình thường như người ta vẫn nhìn thấy. Tất cả chỉ là những gộp đá có đánh dấu trên đầu ngôi mộ, chúng tôi nghĩ như thế, vì có cục đá còn dấu sơn đỏ. Một ngôi mộ kế bên có vẻ như bị sụp vì giữa mộ bị lõm xuống chừng 3 - 4 tấc.

 

Cả nhóm quây quần góp tay bày biện lễ phẩm cúng tế trên đầu ngôi mộ mẹ của David. Trước khi xướng kinh cầu nguyện, anh Trưởng đoàn cùng bác Hồ Tắc kiểm lại lần cuối các chi tiết trên tấm bia. Bia ghi bằng Hán tự tên họ và ngày tháng qua đời là Trịnh Đinh Hằng, chết ngày 31.07.1979 (lúc ấy 44 - 45 tuổi). Như vậy, tính đến ngày tìm thấy ngôi mộ, bà đã được an táng gần đúng 30 năm.

 

Sau khi khẳng định đúng với mọi chi tiết là mẹ của David, anh Trưởng đoàn khấn vái vong linh người quá vãng: "Thưa chị, tôi là Trần Đông, Giám đốc Văn khố Thuyền nhân Việt Nam, cùng các anh chị em đến đây để tìm kiếm mộ phần của thuyền nhân và thăm lại di tích của người tỵ nạn VN. Cùng đi trong đoàn có David, ở tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ, là con của chị. Cháu lặn lội đường xa ngàn dặm đến đây tìm mộ phần mẹ để đưa di hài của chị về Hoa Kỳ. Thay mặt cho tất cả anh em trong đoàn, tôi xin khấn báo với chị và xin phép được rước hài cốt chị lên để hỏa táng và đưa về đoàn tụ với gia đình. Kính cầu nguyện vong linh của chị và cầu nguyện ơn trên gia hộ cho chị được yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng. Xin chị gia hộ cho đoàn được yên ổn và tìm được nhiều mộ phần thuyền nhân VN như mong ước."

 

Sau tuần nhang khấn báo và đốt giấy vàng bạc theo nghi thức của người Hoa, David cầm cuốc khai mộ với ba nhát cuốc đầu tiên trước khi các phu mộ địa phương tiếp tay anh thực hiện việc khai quật. Họ đào chỉ hơn năm tấc thì tìm thấy quần áo. Thêm chút nữa thấy những lớp đất đổi màu đen. Theo kinh nghiệm của các phu mộ, đó có thể là phần tan rửa của di hài. Họ tiếp tuc đào sâu thêm hơn một mét và mở rộng lòng huyệt đến hai mét nhưng vẫn không tìm thấy được chút xương nào.

 

Tuy cực nhọc - lúc ấy, trời lại đổ cơn mưa lớn - nhưng những người địa phương đã tỏ ra hết sức tận tụy với công việc. Họ không ngại ướt lạnh hoặc nhớp nháp mà chỉ cố làm cho được việc vì cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của một đứa con và tình nghĩa đồng bào của người Việt Nam.

 

Mưa càng lúc càng nặng hạt. Chúng tôi phải căng một chiếc bạt lớn để che tạm trong lúc David và các phu mộ vẫn dầm mưa tiếp tục công việc. Giờ trưa, mọi người ngồi ăn trong lều. Buổi ăn trưa đơn giản nơi hoang dã, chỉ mì xào và nước lọc. Anh Trưởng đoàn nới đùa với mọi người: "Thật hoàn toàn không thể tin nổi có những người bỏ hàng ngàn đô-la đi nửa vòng trái đất vào nơi cùng trời cuối đất này, đội mưa ăn cơm tay cầm như thế này, mà lại còn đòi tổ chức để đi nữa!"

 

Mọi người đều cười: "Như vậy mới có nhiều kỷ niệm!"

 

Cuối cùng David đành phải đầu hàng hoàn cảnh. Anh tự an ủi rằng mẹ mình ở đây lâu quá, con cái không biết chỗ và không ngờ mình lại tìm được đường đến đây. Bà có bạn bè ở đây nhiều và chắc đã quen chỗ nên nên không muốn “định cư” ở đâu nữa. David gom lại mấy mảnh áo của mẹ ra biển giặt rửa rồi đem hỏa táng, trong chiếc hố thứ nhì tại bãi biển, bên cạnh nơi vừa hỏa thiêu hài cốt của chị Thu Minh. Ngôi mộ mẹ của David được đắp đất trở lại và tấm bia được dựng lên ngay vị trí cũ.

 

Khi cuộc khai mộ mẹ của David bắt đầu, một toán 6 người khác lên đường đi tìm mộ Ba của Trung - Minh ở cách đó không xa. Cùng đi với toán này có 3 người địa phương dẫn đường. Nhóm này đi từ mé bên trái của nền chùa, nhìn ra hướng bãi biển nơi Trung và Minh chắc chắn là khu vực mộ phần của Ba mình ngày trước. Cả hai anh đều khẳng định nơi đây là vị trí ngôi mộ của cha, vì chính họ đã tự tay xây mộ và thăm viếng hàng ngày trong mấy tháng ở đảo. Nhóm Trung - Minh tìm quanh cả tiếng đồng hồ nhưng tuyệt nhiên không thấy một chút dấu tích nào của một ngôi mộ xi măng. Từ trước khi khởi hành chuyến đi, ai cũng tin rằng ngôi mộ của Nhà họ Huỳnh có nhiều hy vọng tìm thấy nhất vì mọi chi tiết về vị trí và dấu tích đều rất rõ ràng nhưng, có lẽ do ước muốn của người quá cố, chúng tôi đành đốt nén nhang từ biệt và hẹn sẽ có cơ hội trở lại tìm kiếm thêm một lần nữa.

 

Như dự định, cả đoàn tập trung tại bãi biển vào quãng ba giờ chiều khi mọi việc cũng vừa hoàn tất. Chúng tôi tận dụng thời gian còn lại tản ra chung quanh khu vực văn phòng Cao ủy và bệnh viện cũ để tìm kiếm di vật thuyền nhân với ước vọng sẽ thành lập một viện bảo tàng (hoặc nơi lưu giữ những chứng tích đó) cho các nhà viết sử hoặc cho những thế hệ sau. Tuy thời gian đã xóa nhòa gần hết dấu vết của người tỵ nạn trên hòn đảo này nhưng chúng tôi cũng còn tìm được những đoạn giây neo, vài chiếc dép nhựa và những mảnh chén bát còn sót lại trong các dãy barrack ngày xưa...

Chiếc ca-nô đưa chúng tôi quay về Letung khi trời đã bắt đầu xế chiều. Dù vậy, để "kiếm chút lời", nhóm từ Âu châu lại "vòi" thêm phần bonus: ghé ngang qua bãi Kuku 2 để... nhúng mình năm phút. Chả là họ đã từng sống một khoảng thời gian đáng nhớ ở bãi này nên tận dụng cơ hội... ba mươi năm một lần để sống lại giai đoạn đầy kỷ niệm đó. Mọi người ô-kê cái rụp và viên tài công cũng cười toét miệng gật đầu. Làn nước trong xanh mát rượi và tiếng cười đùa vui vẻ của chúng tôi như truyền nhiễm và làm lay động đến cả những cây dừa cao ngất cô đơn còn sót lại trên bãi...

 

Hoàng hôn xuống thật nhanh trên biển. Chúng tôi về lại Letung khi trời đã sẫm tối. Cứ như các hướng đạo sinh đi "trại chạy", mọi người chỉ kịp dội qua loa vài gáo nước lạnh cho trôi lớp muối biển trên thân thể trước khi tập họp tại "quán đầu ngõ" cho buổi cơm tối. Đêm nay, chúng tôi có những người khách đặc biệt: viên cảnh sát trưởng Letung, vị sĩ quan chỉ huy lực lượng quân sự trên đảo, xếp bến tàu "Mặt Đen" (cũng được mời... cho phải phép) và Adnan Nala, một người mà thực tình cho đến lúc đó chúng tôi cũng chưa biết ông đang làm gì.

 

Buổi ăn tối trong chiếc quán bình dân rộn ràng tiếng nói cười nhưng cũng đậm đà tình cảm với Nala (ông muốn chúng tôi gọi tên như thế cho thân mật). Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm cũ ở các trại Air Raya, Kuku, Galang... như thể các câu chuyện đó vừa xảy ra hôm qua. Những tên cảnh, tên người một thời từng là niềm an ủi, là nguồn hy vọng của người tỵ nạn cũng được ưu ái nhắc đến dù họ vắng mặt; như các nhân viên định cư người Nam Dương của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR): chàng Martin tóc quăn tốt bụng hút thuốc như khói tàu (được tin đã qua đời cách đây 3 năm vì bệnh gan), cô Chandra tròn trĩnh thường phát kẹo cho con nít (nghe rằng đang là một nhà ngoại giao ở tận Dubai), ông George mập vui tính luôn tình nguyện báo tin mừng cho những người "bị đá" (cũng được biết đang là một công chức cao cấp ở thủ đô Jakarta) v.v...

 

Cả một trời quá khứ hiện về trong chiếc quán ấm cúng ở ngôi làng chài này. Nó hiển hiện trước mắt trong giọng kể bùi ngùi của Adnan Nala, người từng sống một cuộc đời đẹp hơn bất cứ quyển tiểu thuyết nào mà bạn đã đọc. Đêm nay, người đàn ông có khuôn mặt dày dạn phong sương với nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ đó đang ngồi cạnh chúng tôi...

 

Hơn 30 năm trước, Nala là một sinh viên trẻ trung yêu đời ở thủ đô Jakarka với cả chân trời tương lai rộng mở trước mặt, nhưng không ngờ cuộc đời anh rẽ sang một hướng hoàn toàn không định trước bởi một mẩu tin nhắn từ người dì ruột ở hòn đảo Letung xa xôi tít mù này.

"Cháu ơi, nhân dịp mấy tuần nghỉ hè, hãy về đây... Gấp lắm cháu ạ, hàng ngày có cả chục, cả trăm người chết... xác tấp vào bờ hoang, xác trôi bập bềnh giữa biển, xác nằm vắt trên ghe... thảm lắm! Họ là những người chạy nạn từ Việt Nam, bỏ hết tất cả, bất chấp bão tố biển khơi và đói khát để tìm một cuộc sống tự do... Dì cũng đang giúp đỡ, an ủi họ... Sắp xếp về ngay cháu nhé, gấp lắm! Dì mong cháu sẽ góp tay xoa dịu phần nào nỗi đau khổ này..."

 

Với chiếc túi vải đựng bộ đồ đi đường và vài ba quyển sách, Nala rời căn phòng trọ êm ấm ở thủ đô để đáp tàu về quê ngoại ngay hôm sau. Chàng sinh viên ăm ắp lý tưởng nhân văn ngày đó chỉ tưởng "công tác nhân đạo tình nguyện" trong vài tuần nghỉ hè nhưng cuối cùng anh đã dành trọn cả tuổi thanh xuân của mình - suốt gần 20 năm trời chứ ít gì - để góp phần làm vơi bớt nỗi khổ đau thăm thẳm của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam.

"Ngày rời Jakarta tôi không mang theo gì cả, vì đâu có ngờ mình sẽ không bao giờ trở lại căn phòng trọ sinh viên độc thân rất vui vẻ đó... Sau mấy tuần hè, tôi không thể nào đành lòng trở lại học hành khi mỗi ngày vẫn còn thấy thảm kịch con người tiếp diễn trước mắt, ở ngay Letung này chứ đâu xa - và những hòn đảo kế cận như Air Raya, Air Biru, Berhala, Keramut... Trong mấy năm đầu, mỗi ngày tôi bế trên tay mình ít nhất một người chết vì kiệt sức hoặc bệnh tật trên đảo, hoặc những xác thuyền nhân trôi giạt vào bờ. Cứ như thế, thời gian vẫn vô tình trôi qua với những chuyện dồn dập từng ngày. Một tháng, rồi một năm, rồi vài ba năm... cho đến khi giai đoạn cao điểm tạm lắng xuống, đầu tôi chỉ còn vài cụm tóc lưa thưa. Trong thời gian đó, tôi học tiếng Việt và được tuyển dụng làm nhân viên cứu trợ khẩn cấp của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Tôi là người đầu tiên khánh thành văn phòng UNHCR ở Tanjung Penang và cũng là người cuối cùng đóng cửa cơ quan này hơn 20 năm sau...

"Không... Tôi không kể câu chuyện này để gợi lại những đau thương mất mát quá lớn của người tỵ nạn Việt Nam thời đó, nhưng thực sự tôi đã khóc vì vui mừng khi gặp lại các bạn sáng nay. Hẳn là linh hồn của những người nằm lại ở đây sẽ được an ủi rất nhiều vì các bạn đã không quên họ... Nếu được sống một cuộc đời khác, tôi chỉ xin giữ lại thời gian đáng nhớ và đầy tình người đó..."

 

Với một giọng kể đầm ấm và thân mật, Nala cười vui tiếp:

 

"Nhưng cũng nhờ cơ duyên làm việc cho người tỵ nạn, tôi mới bị... 'kẹt luôn' ở đây. Tôi kết hôn với một cô giáo làng Letung ngoan hiền và xinh đẹp. Chúng tôi sống hạnh phúc với nhau gần 20 năm qua. Hôm nay, tôi về đây thăm gia đình và tình cờ gặp lại các bạn. Có lẽ, cái duyên của tôi với người Việt Nam chưa dứt!"

 

Cái duyên đó, ngay trong buổi tái ngộ trên hòn đảo Letung này, chúng tôi hân hoan đón nhận một tin vui cũng hết sức bất ngờ: trong lúc chúng tôi còn tất bật khai quật và hỏa thiêu hài cốt ở Kuku, Adnan Nala được chính thức xác nhận đã đắc cử dân biểu của Quốc hội bang Tanjung Pinang! Thảo nào, ông đã nén lại sự sốt ruột sùng sục khi đến thăm chúng tôi ở cầu tàu vào buổi sáng. Chúng tôi càng cảm kích nghĩa tình đó khi biết tối hôm nay, ông đã phải từ chối nhiều lời mời mọc liên hoan khác để đến dự buổi cơm thân mật với chúng tôi trong một quán bình dân bên đường, kể lại chuyện tỵ nạn - bằng tiếng Việt rặc giọng miền Nam và rất đúng văn phạm - mà tròng mắt đỏ hoe... 

 

(Cuộc hạnh ngộ với Nala khiến tôi bùi ngùi nhớ đến Alcoh Wong, một đại ân nhân khác của người tỵ nạn Việt Nam ở Mã Lai và cũng là một người đỡ đần rất nhiều cho công tác của Văn khố Thuyền nhân Việt Nam. Là một sử gia gốc Hoa ở Terrenganu, ông Wong cũng đã dành gần trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho việc cứu giúp, chôn cất và ghi chép thảm kịch con người này trong gần ba thập niên, từ khi thuyền nhân Việt Nam đầu tiên đặt chân lên trại tỵ nạn Bidong năm 1977 cho đến khi ông qua đời vì một cơn bạo bệnh cách đây hơn ba năm...

 

Trong suốt thời gian dài dặc đó, ông Wong đã bôn ba khắp nơi để gõ cửa xin các cơ quan từ thiện cứu trợ cho người tỵ nạn, đã lặn lội đến mọi bãi biển ở Mã Lai mỗi khi nghe tin có xác thuyền nhân Việt Nam trôi dạt vào bờ, đã ghi chép bất cứ chi tiết nào có được của người xấu số để chôn cất, lập bia và in sách cho thân nhân tìm kiếm về sau... Ông đã làm tất cả những việc đó trong âm thầm, bằng thời giờ và tiền túi của mình, mà không mảy may mong chờ một sự đền đáp. Bây giờ, Alcoh Wong đã vĩnh viễn ra đi, nhưng chắc chắn hình ảnh của ông vẫn sống mãi trong lòng những người từng thọ ơn ông...)

 

Buổi cơm tối với liều lượng vitamin tình cảm tràn đầy cùng Nala đã gội rửa sạch sẽ  hai ngày dãi dầu mưa nắng ở Kuku. Chúng tôi hầu như đã gửi lại trên hòn đảo ấy những niềm vui nỗi buồn của thời long đong tỵ nạn, để chỉ còn trân trọng nâng niu giờ phút quý giá bên nhau giữa những người tuy không cùng nguồn gốc chủng tộc - văn hóa nhưng lại vô cùng gần gũi trong tình người và lẽ sống.

 

Tối nay, anh Trưởng đoàn tuyên bố... xả giới nghiêm, mọi người có thể tha hồ "chơi xả láng, sáng dậy... trễ", vì ngày mai là một chương trình hoàn toàn tự do để thư giãn và... phục hồi công lực. Khỏi cần nói, xếp ơi! Thấy ông bận bịu quá nên tụi tui đã tự động chuẩn bị đâu vào đấy cả rồi. Út Hùng ra chợ đẩy về một xe cút kít đầy... bia Tiger. Bác Hồ Tắc vào bếp trổ tài nấu cà-ri cá đuối làm mồi. Bạn Văn Nam lòng vòng kiếm được một chiếc guitar từ thời Suharto mới lên cầm quyền. Cô nương Mimi rảo trong xóm rủ rê các em thiếu nhi đi xem "văn nghệ quốc tế". Ông nhà báo Lựu Đạn đóng vai chủ xị, ai lạng quạng là phạt... chết liền! Và toàn thể anh chị em trong đoàn - không chừa người nào - đều trở thành "ngôi sao một đêm" của xóm chài Letung, nơi chúng tôi so sánh một cách lãng mạn (có kẻ xấu miệng lại bảo là lãng... xẹt!) như một Venice của Á châu.

 

Sân khấu (kiêm bàn nhậu) là phần sàn gỗ trước căn nhà trọ "tổng hành dinh" của đoàn. (Bây giờ nghĩ lại mới thấy... ớn. Rủi bửa đó có chàng nào xỉn xỉn mà "ôm trăng đánh giấc" dưới nước như nhà thơ Lý Bạch thì khốn!). Hai hàng ghế dài bày ra, lổn ngổn ở giữa là... bánh phồng cá, cà-ri cá và những thứ đồ nhậu không tên khác. Mọi người cứ "tự nhiên như ruồi" chứ chẳng có màn... nhà hàng hết lòng phụ vụ quý khách đâu nghen!

 

Khán thính giả bao gồm cả các vị "đại diện" (dịch nôm na là... tai to mặt lớn) chính quyền và quân đội trên đảo - kể cả "Thằng Mặt Đen" bây giờ cũng nhập sòng và đã góp phần trình diễn vài bài hát khá hay - và... một bầy tang tình con nít! Thành phần "diễn viên và ca sĩ chủ lực" không ai khác hơn là... tụi tui, dù chẳng mạng nào qua trường lớp ca hát đâu cả nhưng đã "xuất thần" chẳng kém các thí sinh chung kết của American Idols! Nếu có ai muốn đánh đổi buổi văn nghệ ngẫu hứng đó bằng bất kỳ chiếc vé đại nhạc hội thượng hạng nào trong các hí viện "hoành tráng" nhất ở Úc, Đức, Pháp hay Mỹ với sự hiện diện của các siêu sao "vào cầu rực lửa" lừng danh thế giới, tôi chắc rằng chẳng ai trong đoàn... thèm vào!

 

Vì dễ gì bạn nghe "Khúc hát Air Raya" (một trong những nhạc phẩm đầu tiên được viết bởi chính người tỵ nạn VN ở hải ngoại) từng được sáng tác ở ngay trên hòn đảo này hơn 30 năm trước, dễ gì có cảm xúc bồi hồi "Trở về mái nhà xưa" bởi giọng ca rè của cựu ca truởng Ca đoàn (V)ô nhiễm Nguyễn Triệu, dễ gì được quằn quại cùng "Nửa hồn thương đau" với Oanh Oanh, dễ gì có cơ hội được thưởng thức các "tài năng trẻ" mới vừa "xuất khẩu" từ trong nước (không theo Nghị quyết 36) của Tài và Tước... Rồi được cười lộn ruột với những vũ điệu sút quần của cựu cán bộ nông thôn Hồ Tắc, với những mẩu chuyện tiếu lâm mặn hơn nước biển của ông già làm báo. Và những "mầm non văn nghệ" ở tuổi... tri thiên mệnh; như Đình Chung, Ngọc Thúy, Kim Vân...

 

Nhưng xuất sắc nhất vẫn là những giọng ca hồn nhiên trong sáng của các em nhỏ Letung trong những bài dân ca Nam Dương tuyệt vời. Chỉ nhìn các em say sưa đánh đàn gõ trống (trên chiếc can nhựa đựng nước) với tất cả sự nhiệt tình và ngây thơ của tuổi trẻ, đám người lớn chỉ biết... lắc đầu chào thua. "Thôi tiếc mà chi, than mà chi..." Thời của các bác, các chú, các cô đã qua rồi! Giấc mơ trở thành ca sĩ xin vui vẻ nhường lại từ đây...

 

Rồi buổi tiệc cũng tàn. Chiến trường la liệt xác... quân ta. Làng chài yên ắng trở lại. Khi thu dọn "sân khấu về khuya", tôi đã nghe tiếng gà gáy sáng và lác đác đã có người đẩy ghe ra biển, bắt đầu một ngày mới cho cuộc sống bình dị của người dân địa phương như từ bao đời nay...

 

Ngày 5 (14.04: Berhala - Air Biru): Quê người chạnh nhớ...


Tuy là ngày "sinh hoạt tự do" trong chương trình nhưng chúng tôi cũng đã tận dụng thời gian để... đi cho biết đó biết đây. Theo lời chỉ dẫn của người dân địa phương, cả đoàn rủ nhau đi bộ đến đảo Berhala kế cận, nơi được biết có vài chục ngôi mộ thuyền nhân VN an táng từ gần 30 năm trước. Nghe "đi bộ đến đảo" có vẻ hơi... là lạ, nhưng thật sự là vậy. Một chiếc cầu đá dài và vững chắc đã được xây từ nhiều năm trước (sau thời người tỵ nạn VN đến đây) nối liền Letung với Berhala cho người đi bộ. Xe hơi nhỏ cũng có thể chạy trên chiếc cầu.

 

Trên đảo Berhala chỉ có vài ngôi nhà và một đài hải đăng hướng dẫn tàu bè quốc tế qua lại trên vùng biển này. Nơi đây cũng rất gần với hải phận quốc tế và là một "khu vực nhạy cảm" trong tình hình tranh chấp lãnh hải hiện nay giữa những quốc gia lân cận, đặc biệt là từ khi Trung Quốc công bố "bản đồ lưỡi bò" dành phần chủ quyền của họ trên Biển Đông. Chính phủ Nam Dương không ồn ào tranh cãi về tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán từ phương Bắc nhưng rõ ràng họ đã khẳng định tư cách chủ nhân của mình bằng hành động. Chiếc cầu Berhala và lá cờ đỏ trắng trên đỉnh đảo là một tuyên ngôn không lời, nhưng rõ ràng và quyết liệt biểu hiện ý chí bảo vệ giang sơn của họ.

 

Chúng tôi đi bộ trên chiếc cầu với một tâm trạng nao nao khi nghĩ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phần lãnh thổ của tổ quốc nằm rất xa nơi đây đang bị nuốt chửng thô bạo bởi những kẻ từng một thời tự coi như "vừa là đồng chí, vừa là anh em" với chế độ đương quyền ở quê nhà. Tự dưng, chẳng ai bảo ai, những khúc dân ca, những bài hát đánh thức lòng yêu nước và tình tự dân tộc được cất lên, say sưa và xúc cảm, cứ như chúng tôi đang đi trên con đường cái quan Việt Nam...


"Tôi đi từ Ải Nam Quan qua vài ngàn năm lẻ...", "Anh em ta cùng mẹ cha, nhớ chuyện cũ trong tích xưa khi thế gian còn mù mờ...", "Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn, đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang...", "Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi! Ai chiến thắng không hề chiến bại..."

 

Dường như trời mây non nước Nam Dương cũng cảm thông với tấc lòng hoài quốc của đoàn lữ khách. Ánh nắng buổi sáng nhiệt đới có phần dịu xuống trên lưng áo đã bắt đầu rướm mồ hôi của chúng tôi.

Trang: « Trước  1 2  Kế tiếp »