ĐK: Lần đầu tiên ông nghe phong thanh, tin đồn, về cuộc thảm sát thường dân thời chiến tranh này, là lúc nào?

KTT: Tôi không hề hay biết gì hết trước đó. Tôi du học Anh từ 1990 đến 2000. Tôi biết ít nhiều gì đó từ khi trở lại Đại Hàn. Cho dù cha tôi sanh năm 1922 ở Bắc Hàn và mẹ tôi sanh ở Nam Hàn, Hán Thành, năm 1932, cả hai đều không biết gì hết cho đến năm 2001, và ngay cả giờ, cũng chỉ biết đến một mức độ nào đó.

ĐK: Làm cách nào mà việc này giữ được bí mật với người dân Nam Hàn?

KTT: Tôi nghĩ rằng nạn nhân và gia đình của họ đều sợ bị thể chế độc tài trả thù thêm, còn các thủ phạm thì thấy cần phải biện minh cho hành động của mình để xây dựng một chính phủ mới sau 1945.

ĐK: Tôi đoán là việc dò xét mọi người và cần biết mọi thứ, ngay cả những chuyện dư thừa và không cần thiết, là một phần của văn hóa công an vào lúc đó ở Nam Hàn.

Chắc đối với người Hàn, sự im lặng, bí mật, xầm xì, ngay cả không khí cũng rất ngột ngạt vào thời đó. Đối với ông, lúc còn bé, thời thiếu niên, thanh niên, lớn lên dưới độc tài quân phiệt thì sao? 

KTT: Vì tôi ra đời năm 1960, tại Hán Thành,  nên tôi hoàn toàn cảm nhận thấy đặc tính đàn áp của chính phủ quân phiệt cho đến thập niên 80. Tôi cho là vì vậy mà tôi ngưỡng mộ và được thôi thúc tinh thần bởi nhà lãnh đạo dân quyền Hàm Tích Hiến (Ham Sok Son).
(http://en.wikipedia.org/wiki/Ham_Seok-heon)
(
http://www2.gol.com/users/quakers/Ham_epilogue.htm) 
 http://www2.gol.com/users/quakers/Ham_Acknowledgement.htm

 “Tôi và luận án của tôi mang món nợ vô lường với Hàm Tích Hiến. Sắp sửa đúng mười tám năm kể từ ngày tôi gặp ông, và đã trên chín năm từ ngày ông mất. Nhưng, càng sống lâu chừng nào thì tôi càng ý thức tôi nợ ông bấy nhiêu. Nhất là tôi biết chính ông đã gợi hứng cho tôi biến thành sử gia thay vì tiếp tục làm kỹ sư, biến thành một người tự do rộng rãi hơn là một tín đồ tuyệt đối, một nhà nhân văn hơn là một nhà truyền giáo và một người lãng mạn hơn là một nhà đạo đức. Ông là người đã dạy tôi yêu mến và thích thú môn lịch sử và triết học, và tất cả hầu hết những thứ quan trọng mà tôi cần phải học về đời sống và nhân loại. Đối với tôi, ông là cửa sổ mở đến Sự Thật, Tao (đạo Lão), và Thượng Đế. Tôi ước gì ông sống để nhìn thấy kết quả của niềm hứng khởi và dạy dỗ của ông. Kỷ niệm và gương của ông sẽ mãi mãi trong tôi ngày nào tôi còn sống và còn làm việc ấy. 1998, Kim Thạnh Tú

 ĐK: Tôi đã sơ lược qua một cách thích thú bản luận án TS của ông về “Gandhi của Hàn quốc. Ông cũng cung cấp cho người đọc hiểu biết về văn hóa và nguồn gốc Đại Hàn, thí dụ như giai thoại về bản dịch “nho giáo” về tựa sách của John Stuart Mill On Liberty! Nếu Nam Hàn giờ là một xã hội dân chủ, thì đấy nhờ bởi những nhà tiên phong như Hàm Tích Hiến và các nhà hoạt động trong cuộc tranh đấu chống lại độc tài, chứ không phải nhờ bởi thích thì ban phát của quân đội.

 Tôi đã được đọc những “bào chữa” cho Thảm sát 1950 viện dẫn quốc gia đang vào thời chiến, tình trạng trịệt thóai  khó khăn của quân lực Nam Hàn... Đây là tội ác chiến tranh ở bất cứ quốc gia hay trường hợp nào, và có thể được coi là tội ác chiến tranh dưới bất cứ tiêu chuẩn nào, chí ít có thể kể  tiêu chuẩn Yamashita[i]  đã được Tối Cao Pháp viện Hoa Kỳ chuẩn xác vào năm 1946, dẫn đến việc xử tử tướng Yamashita, tư lịnh quân lực Nhật ở Phi Luật Tân.
Chính những người dấu giếm những tội ác này bằng ấy lâu lại giờ nói rằng chúng đẫ thuộc về quá khứ! Nếu chúng ta theo lý lẽ đó, sẽ không còn cần đến Ủy ban TRC hay bất cứ sự đào vấn lương tâm nào?

KTT: Tôi nghĩ rằng lịch sử hay quá khứ của con người, tương tự rễ cây. Chúng ta không thể trông mong cây nảy nở nếu ta cắt rễ của nó đi. Y hệt vậy, chúng ta không thể mơ tưởng đến xây dựng một tương lai sáng sủa trong khi bỏ lơ lịch sử của mình. Hoạt động tìm-sự-thật của TRC không phải chỉ để dàn xếp mối bất bình của các gia đình nạn nhân, chúng còn tác động như một biện pháp ngăn ngừa tái phạm xảy ra trong tương lai. Mục đích của nó là ngăn ngừa việc một quá khứ bị bóp méo dẫn dắt tới một hiện tại và tương lai bóp méo. Đại Hàn là quốc gia duy nhất ở Á Châu vén màn che đậy quá khứ nhơ nhuốc của chính mình trước công chúng. Cho dù đau đớn đến đâu, biết rõ sự thật có thể giúp chúng ta dựng nên một xã hội tốt đẹp hơn trong tương lai.

ĐK: Sự cố Tế Châu [i] (Jeju) xảy ra ngày 3 tháng Tư, 1948. Lúc đó chưa có chiến tranh. Tế Châu là một đảo được bảo vệ bởi Đệ Thất Hạm đội   và không bị đe dọa bởi quân lực của địch. Tuy nhiên, vẫn có 30.000 thường dân bị giết trong một chiến dịch “bình định”. Trung tá Kim Ích Liệt  (về sau Trung Tướng), lúc đó là chỉ huy trưởng  trung đoàn 9 tại Tế Châu, đã từ chối không tuân lệnh của Tướng Dean (Đứng đầu  Chính phủ Quân đội Mỹ tại Hàn quốc) vì Kim cho rằng đấy là tội ác chiến tranh theo luật quốc tế. Ông được thay thế bằng một sĩ quan dễ bảo hơn. Tướng Kim đã phản đối một cách rạch ròi những tội ác này trong hồi ký của ông.
Sự cố Tế Châu có thể được xem là khởi đầu của cái có người gọi là “Thời đại của quỷ dữ” tại Đại Hàn?

KTT: Đúng, đúng, thật vậy! Cuộc nổi dậy Tế Châu đã được khởi xướng bởi một nhóm phe tả để  phản kháng sự kiện sáu thường dân bị cảnh sát giết. Phản ứng hốt hoảng và không suy xét cực đoan của quân đội, của cảnh sát và của các nhóm hữu khuynh[ii] đối với  thường dân đã khiến ngay cả những người bình thường trở nên cảm tình với nhóm lãnh đạo phe tả. Sau đó các nhóm khuynh hữu cực kỳ hoang tưởng lại còn hành xử tàn nhẫn hơn với những người dân thường này. Ở khía cạnh này thì cuộc Nổi dậy Tế Châu là một thế giới vi mô của cuộc xung đột phân cực giữa cánh tả và cánh hữu ở bán đảo Hàn quốc thế kỷ hai mươi.

Theo Chính phủ Quân đội Mỹ tại Hàn quốc (American Military Government in Korea, AMGIK, và cầm quyền tại Nam Hàn từ tháng Chín, 1945 – tháng Tám, 1948), “chương trình giềt người tập thể” tại Tế Châu đã diễn ra vì cần thiết. Theo quan điểm của AMGIK, cuộc thảm sát là thiết yếu để thành lập một chính phủ bù nhìn được ủng hộ bởi Hoa Kỳ ở Nam Hàn. Nhờ thế, AMGIK thành lập đượcmột quốc gia dân chủ Nam Hàn để làm trái độn tvới một Bắc Hàn do cộng sản điều khiển. Về việc này, Thiếu tướng W. Dean của AMGIK và Chỉ huy Nội an Triệu Bỉnh Ngọc [iii] (Cho Byeong-Ok) cố tình mô tả méo mó cuộc Nổi dậy Tế Châu là “náo loạn do cộng sản giật dây với sự ủng hộ của cộng sản quốc tế.” Khi làm như vậy, cả hai đều biện minh cho hành động đàn áp cuộc Nổi dậy Tế Châu bằng bạo lực, và đóng góp vào sự chia cắt có hệ thống bán đảo Hàn quốc này.

Ngay từ lúc đầu của cuộc Nổi dậy, AMGIK chọn lựa đàn áp đổ máu với bất kỳ giải pháp hòa bình nào. Vào ngày 28 tháng Tư, 1948, có một toan tính hiệp ước giữa Kim Đạt Tam [iv] (Kim Dal-Sam), lãnh đạo chống đối, và Kim  Ích Liệt  của trung đoàn 9, nhưng công an sau đó đã đội lốt chống đối để đốt làng Orari, cho AMGIK cái cớ mà ngưng đàm phán [v]. Bất cứ toan tính đàm phán hay dự tính hòa bình cũng đều bị dập tắt hoàn toàn. Phù hợp với chính sách đó, ngày 6 tháng Năm, một Kim  Ích Liệt  ôn hòa bị thải hồi và thay vào đó là một Phác Trân Cảnh [vi](Park Jin-Kyung) hung hăng.

 Theo quan điểm của tôi, sự cố Tế Châu là một vi phạm nhân quyền quan trọng, kết quả của lạm dụng quyền lực công chúng ở lịch sử đương đại Hàn quốc. Như vậy, tôi định giá cuộc Nổi dậy Tế Châu từ nhận thức của một phong trào nhân quyền hơn là từ mặt  ý thức hệ hay là an ninh quốc gia. Cuộc Nổi dậy Tế Châu là một gương xấu hổ về “kết quả biện minh cho phương tiện” Như vậy, điều tôi nhấn mạnh là không thể nhân danh bất cứ hệ tư tưởng nào hay là an ninh quốc gia để vi phạm những quyền căn bản con người. (Xin đọc tài liệu bên dưới).

ĐK: Chúng ta có biết (hay nghe nói) đến những cuộc thảm sát thường dân nào khác trước vụ Tế Châu và đấy cũng nằm trong phạm vi điều tra của TRC?

KTT: Tôi không được biết đến. Phạm vi điều tra của TRC bao trùm năm phần: phong trào chống Nhật trong thời thuộc địa và lịch sử di dân Hàn quốc; cuộc thảm sát thường dân sau 1945; vi phạm nhân quyền bởi nhà nước; những sự cố về những kết tội mù mờ và những cái chết không minh bạch; điều tra lại những đề khoản trên và những sự cố xác định bởi Ủy ban. 

ĐK: Tôi biết TRC tiếp tục làm việc và tiếp tục những khai quật mới vào hè năm nay. Ông có thể cập nhật hóa việc này?

KTT: Những khai quật mới sẽ khởi sự vào đầu tháng Bảy năm nay. Đã có khoảng 500 bộ xương đào được từ 7 nơi hành quyết trong năm nay, và sẽ có khoảng 500 bộ xương từ 7 nơi khác trong năm tới với những khai quật tiếp theo.

ĐK: Phong trào Dân chủ hóa Quang Châu (Gwangju Democratisation Movement, GDM) [vii] là một biến cố lớn trong việc dân chủ hóa Nam Hàn. Cuộc thảm sát trong năm 1980 có nằm trong nhiệm vụ của TRC không?

KTT: Không. Về GDM, vui lòng đọc trạm này: http://eng.518.org/eng/

ĐK: Quang Châu xảy ra gần với chúng ta hơn, vậy sự thật chắc là dễ xác định hơn?

KTT: Có mà không, bởi vì không những chỉ có nạn nhân và gia đình còn đây mà cũng còn các thủ phạm trong những địa vị có ảnh hưởng và quyền lực trong xã hội Nam Hàn, cho đến ngày nay. Và cũng rất mỉa mai, thủ tục hợp pháp nảy sinh trong xã hội Nam Hàn sau khi dân chủ hóa, lại ngăn trở việc trừng phạt hồi tố thủ phạm GDM dưới thời chính phủ cũ khi thời hạn đã qua. Tài liệu chứng cớ mới được công bố dưới US Freedom of Information Act gợi ý rõ ràng sự đồng lõa của Hoa Kỳ với thủ phạm, chế độ quân phiệt của Tướng Tiền Đẩu Hoán (Chun Doo Hwan)

ĐK: Cảm ơn TS Kim Thạnh Tú đã giúp phần nào soi sáng thêm những biến cố đã được giữ bí mật một cách không thể ngờ được là trong những bằng ấy năm. Khi tội ác ở cường độ này xảy ra, cả thế giới cần biết đến sự thật.


Ghi chú (vii) là của TS Kim Thạnh Tú. Các ghi chú khác của Đỗ Kh.

 [i] Chang, Ha-joon. “Bad Samaritans, the Myth of Free Trade and the Secret History of Capitalism” (New York: Bloomsbury Press, 2008), p 5.

 [ii] Tướng Yamashita (« Cọp dữ Mã Lai Á ») vào năm 1945 ra lệnh cho quân Nhật dưới quyền triệt thoái khỏi Manila. Phó đề đốc Iwabuchi bất tuân quân lệnh, tử thủ thành phố. Khi cùng đường, quân Nhật tàn sát thường dân, tổng số với những người thiệt mạng trong cuộc giao tranh lên đến 100.000. Theo « Tiêu chuẩn Yamashita », người chỉ huy phải chịu trách nhiệm và kiểm soát được thuộc hạ, ngăn ngừa được họ không gây ra tội ác. Tướng Yamashita bị treo cổ sau chiến tranh. Khi lên đoạn đầu đài ông tặng lại luật sư Mỹ đôi giày cõi ngựa nổi tiếng. Theo tiêu chuẩn tội ác này, tướng Mc Arthur tại Triều Tiên phải bị treo cặp kính đen và tặng lại luật sư chí ít là cái cổ, nhưng MacArthur không hề bị truy tố.

[iii] Tế Châu, diện tích 1.781 km2 (khoảng gấp ba đảo Phú Quốc), dân số vào lúc đó 300.000, nằm ở cực Tây Nam của bán đảo Triều Tiên, là khu vực an ninh nhất của Nam Hàn ngay cả trong thời chiến. Vào thời điểm 1948, theo trung tá Kim Ích Liệt, trên đảo ảnh hưởng cộng sản không đáng kể. Sự cố Tế Châu được quen gọi là Tứ Tam (Sasam), ngày 3 tháng 4.

[iv] Trong thời kỳ này, an ninh trên đảo được đặt dưới quyền của cảnh sát. Tại Tế Châu ngòai dân đảo còn có các tóan thanh niên tỵ nạn từ Bắc Hàn được các tổ chức hữu khuynh mang đến. Các nhóm này, vì lập trường có sẵn nên được cơ quan an ninh tin dùng, phần lớn lại là thanh niên trẻ không mang theo gia đình nên nhanh chóng lộng hành và mâu thuẫn với cư dân bản xứ. Sau khi công an cảnh sát và các tổ chức hữu khuynh thất bại trong việc dẹp lọan, quân đội Nam Hàn, tức Trung đòan 9, mớI được giao phó trách nhiệm này.

[v] Quốc vụ trưởng đặc trách công an trong chính quyền AMGIK, về sau là đối thủ của Lý Thừa Vãng trong bầu cử tổng thống 1960. Trong cuộc họp cao cấp tại Tế Châu, Triệu Bỉnh Ngọc đã tố điêu với tướng Dean là trung tá Kim Ích Liệt cộng sản nằm vùng theo lệnh của thân phụ ở Bắc (thân phụ trung tá Kim qua đời khi ông mới 5 tuổi). Trung tá Kim điên tiết nhảy lên bóp cổ ông Triệu trước mặt mọi người trong đó có tướng Tham mưu trưởng Nam Hàn. Chỉ huy công an Tế Châu nhảy vào cứu xếp bị ông Kim (đai đen 3 đẳng Nhu đạo) đá trúng hạ bộ và loại khỏi vòng chiến. Ông Triệu thoát chết không phải nhờ Tham mưu trưởng đập bàn hay Tòan quyền Dean  la hét mà nhờ lúc đó Quốc vụ trưởng đặc trách dân sự cũng ngồi đó. Ông này ôm mặt khóc rống lên rằng “Chúng ta hèn kém không tự mình giành được độc lập mà phải nhờ ngọai nhân nên mới đến nỗi này! Thật nhục nhã!” khiến mọi người dừng tay!

[vi] Theo Bắc Hàn, ông sau trốn thóat ra Bắc, và tử trận trong khi phục vụ quân đội Bắc Hàn vào thời chiến tranh nhưng có nơi cho đây là một Kim Đạt Tam giả được đặt ra để tuyên truyền, còn lãnh tụ thật của cuộc nổi dậy là thành phần không cộng sản và đã bỏ mình trong cuộc “bình định “ Tế Châu.

[vii] Kim, Ik-Yeol. “Posthumous Works: Truth of Sasam”, The Sasam Talks 2 (Seoul: Jeonyae-won, 1994), pp.129~130.

[viii] Thi hành lệnh “tiêu thổ bình định”, Trung tá này bị ngay các quân sĩ  dưới quyền ông bất phục và sát hại ông sau đó.

[ix] Sau khi tổng thống Phác Chính Hy (Park Chung Hee) bị giám đốc Trung ương Tình báo ám sát vào cuối năm 1979, phong trào dân chủ bừng trở lại. Tướng Tiền Đẩu Hoán lên cầm quyền và ban hành Thiết quân luật. Ngày 18 tháng 5 1980, sinh viên tại Quang Châu bị Nhảy dù đàn áp khiến quần chúng vào cuộc, chiếm thành phố và đuổi quân đội ra khỏi. Ngày 27 tháng 5 quân đội chiếm lại được Quang Châu, số thường dân thiệt mạng lên đến 144 người theo chính quyền lúc đó nhưng con số thật vẫn không rõ. Quang Châu trở thành biểu tượng của đấu tranh dân chủ và tự do tại Nam Hàn, mở đường cho công cuộc dân chủ hóa sau này. Sự cố Quang Châu được quen gọi là “518” tại Nam Hàn.