Danchimviet - http://danchimviet.com
Giải pháp Bảo Đại [1]
http://danchimviet.com/articles/1285/1/Gii-phap-Bo-i-1/Page1.html
Trọng Đạt

 
Tác Giả Trọng Đạt
Đăng/Published on 15.07.09
 
Có lẽ vì người ta mải mê lên án Bảo Đại là Việt gian theo Tây mà không ai nhớ tới, hoặc biết tới những đóng góp của ông cho đất nước trong một giai đoạn lịch sử gay go tang tóc vào những năm cuối cùng của thập niên 40 và những năm đầu thập niên 50

Trong một bài viết về cuộc đời của cựu hoàng Bảo Đại đăng trên báo Trẻ tại Dallas, Texas, số ngày 27-7-2006, "Vua Bảo Đại, The Last Emperor", tác giả Đinh Yên Thảo nhận xét

"Là vị vua chấp chính gắn liền với một giai đoạn quan trọng của lịch sử Việt Nam, rồi trở thành một cựu hoàng lưu vong tại Pháp, ông là một vị vua không được sử gia, học giả hay giới truyền thông có nhìn nhận ưu ái về các đóng góp của ông cho đất nước Việt Nam"
 
Thật vậy, nhân cái chết của cựu hoàng ngày 31-7-1997 tại Pháp, một số giáo đường và Hội đoàn hải ngoại có tưởng niệm ông như một vị vua Việt Nam cuối cùng, nhiều báo chí, đài phát thanh đã đề cập tới cuộc đời của ông nhưng tịnh không nghe thấy ai nói tới những thành quả, công trạng của ông trong các giai đoạn làm vua, chấp chính. Trên tờ Văn nghệ Tiền Phong tại Virginia năm 1997, một độc giả lên án Bảo Đại là Việt Gian, năm 1955 ông đã dung dưỡng Bình Xuyên, Ba Cụt, Năm Lửa... phá rối tình hình chính trị miền Nam. Thật vậy, đã một thời kỳ ông bị toàn dân lên án là theo Tây, người ta đã tổ chức những cuộc biểu tình tố cáo ông làm tay sai cho Thực dân, cấu kết với những tổ chức phá hoại đất nước như Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Bình Xuyên, Năm Lửa, Ba Cụt, Nguyễn Văn Vỹ...
 
 
Lễ đăng quang của vua Bảo Ðại. Nguồn: nguyentl.free.fr

Có lẽ vì người ta mải mê lên án Bảo Đại là Việt gian theo Tây mà không ai nhớ tới, hoặc biết tới những đóng góp của ông cho đất nước trong một giai đoạn lịch sử gay go tang tóc vào những năm cuối cùng của thập niên 40 và những năm đầu thập niên 50. Sự thực thì những thành quả ấy phần thì đã lùi vào dĩ vãng từ hơn nửa thế kỷ qua, phần vì ít có người chịu ghi chép lại nên người ta coi như ông không có công trạng gì cho đất nước.

Ông Đoàn Thêm, một vị công chức cao cấp của chính phủ Quốc gia Việt  Nam thời đó và sau này dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, đã bỏ công ghi lại những việc từng ngày để giúp cho đời sau tìm hiểu thời cuộc. Ông cũng soạn hai cuốn Những Ngày Chưa Quên, Quyển thượng từ 1939-1954 và Quyển hạ từ 1954-1963 để ghi chép một cách vô tư các biến cố lịch sử theo lối biên niên. Sau khi đã ghi chép những kết quả tốt đẹp của giải pháp Bảo Đại, ông có đôi lời tâm tình như sau.

"Những tài liệu kể trên đã do tôi thâu thập giữa năm 1955, khi những trào lưu phản đối Quốc Trưởng Bảo Đại đương ào ạt lan tràn. Nhiều tờ báo chứa đầy căm hờn với những lời đả kích dữ dội. Vấn đề gạt ông được chính thức đặt ra, ai nấy đều tin rằng ông không thể đứng vững. Riêng tôi thấy ông cũng nên lùi.

Song đối với kẻ đem tâm thành tìm hiểu việc nước thiết nghĩ bình tĩnh nhận xét là điều kiện ưu tiên để tới gần sự thật. Nên tôi đã lặng lẽ kiểm điểm một mình công cuộc của ông và của một lớp người, để tự soi sáng cho tôi. Vì đối với bất cứ nhân vật hay chánh thể nào, tôi không muốn nghĩ ác vì tưởng lầm, hoặc nói ác vì không biết rõ."
Theo những ghi chép vô tư không thiên kiến của ông Đoàn Thêm, chúng ta thấy giải pháp Bảo Đại đã mang lại cho tình hình chính trị, xã hội, kinh tế... nước ta những năm 1948, 49, 50, 51... nhiều thành quả tốt đẹp, Bảo Đại đã là người có công gây dựng chính Phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên.

Từ 1949 cho tới 1975, nước Việt Nam tự do, dân chủ đã trải qua ba thời kỳ chính quyền lâu dài: Bảo Đại 1949-1954, năm năm; Ngô Đình Diệm 1954-1963; chín năm, Nguyễn Văn Thiệu 1967-1975, tám năm. Chúng ta thấy cả ba chính quyền ấy đều đã có những việc làm tốt đẹp lúc đầu và sau cùng lại bị nhân dân lên án có tội. Bảo Đại có công gây dựng chính thể Quốc Gia Việt Nam đầu tiên nhưng đến 1955 lại bị kết án theo Tây. Ngô Đình Diệm có công thống nhất miền Nam nhưng sau 1-11-1963 lại bị báo chí chửi rủa cả năm trời về đủ thứ tội nào độc tài gia đình trị, đàn áp Phật giáo, thủ tiêu những người đối lập... Nguyễn Văn Thiệu đã ổn định được tình hình chính trị nhiễu nhương, chấm dứt nạn biểu tình tuyệt thực, tích cực chống Cộng Sản xâm lăng nhưng đến cuối trào lại bị lên án tham nhũng thối nát và sai lầm trong di tản chiến thuật đưa  miền Nam tới sự sụp đổ tan tành.

Mấy năm sau khi bị lật đổ, ông Diệm đã được nhiều người bênh vực và nhìn nhận ông đã có công xây dựng miền Nam vững mạnh một thời. Nay ông Thiệu cũng đã được người ta bênh vực, họ bảo mất nước là tại Đồng minh tháo chạy chứ không phải tại ông sai lầm. Riêng về ông Bảo Đại là bậc khai quốc công thần, người đã có công gây dựng chính phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên thì hầu như chẳng thấy ai nói tới. Một phần vì người ta có thành kiến về ông, phần vì ông mất gốc bỏ xứ lưu vong nên ít ai biết tới những thành quả công việc ông đã làm. Mục đích bài này không phải để bênh vực cho ông Bảo Đại mà chỉ là một cái nhìn tổng quát về một giải pháp tốt đẹp trong những bước đầu thành lập một nước Việt Nam Tự Do.
 
Hoàng tử Vĩnh Thuỵ. Nguồn: nguyentl.free.fr

Bảo Đại tên Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, sinh 22-10-1913 tại Huế, mất ngày 31-7-1997 tại Paris, con vua Khải Định và bà Từ Cung. Năm 1922 Hoàng Tử được vợ chồng cựu Khâm sứ Charles đưa về Pháp nuôi và cho đi học. Năm 1925 vua Khải Định băng hà, năm sau Hoàng tử Vĩnh Thụy 13 tuổi được đưa về nước lên ngôi kế vị vua cha lấy niên hiệu Bảo Đại, là vua thứ 13 củaTriều Nguyễn rồi lại sang Pháp tiếp tục việc học. Sau khi tốt nghiệp ngành chính trị học năm 1932 ông về nước chính thức lên làm vua. Tháng 3 năm 1933 Bảo Đại làm lễ thành hôn với cô Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà lên làm Nam Phương Hoàng Hậu, bà người miền Nam, theo Thiên  chúa giáo và mang quốc tịch Pháp. Du học tại Pháp về, với tinh thần tiến bộ Bảo Đại đã thực hiện được nhiều cải cách như bãi bỏ chế độ cung tần, thứ phi, bỏ tục bắt dân quì lạy, các quan Tây vào chầu không phải xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy, ông cũng cải tổ bộ máy hành chánh.

Ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính pháp tại Đông Dương, chỉ trong một đêm chế độ thực dân Pháp hoàn toàn sụp đổ. Đại sứ Nhật yết kiến nhà vua và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Bảo Đại bèn tuyên bố độc lập ngày 10-3-1945 và gia nhập khối Đại Đông Á, nhà vua ra tuyên ngôn độc lập ngày 11-3-1945. Ông mời Giáo sư Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng thành lập nội các ngày 17-4-1945, lấy bài Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước làm quốc ca, lấy cờ vàng quẻ ly gồm hai vạch liền và một gạch gẫy ở giữa làm quốc kỳ.
 
Chân dung Vua Bảo Đại, Hoàng hậu Nam Phương và Thái tử Nguyễn Phúc Bảo Long. Đây là vị Hoàng đế, Hoàng hậu và Thái tử cuối cùng của Nguyễn Triều và của Việt Nam.
Nguồn: picasaweb.google.com


Ngày 10-8-1945 Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Thủ Tướng Trần Trọng Kim xin từ chức ngày 7-8 vì bất lực, chính phủ không có quân đội. Khi ấy tình hình trong nước rất lộn xộn, Khâm Sai đại thần Phan Kế Toại của triều đình tại Hà Nội đã liên lạc với các đảng phái quốc gia để tìm phương cứu nước nhưng Trung ương các đảng ở tận Trung Hoa. Ngày 17-8 nhà vua gửi công văn tới các nhà lãnh tụ Đồng Minh như Truman, Churchill, De Gaule, Tưởng Giới Thạch... để xin họ công nhận nền độc lập của Việt Nam nhưng không có ai trả lời.

Chiều ngày 17-8 tại Hà Nội, Tổng Hội công chức tổ chức biểu tình trước nhà Hát lớn để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi chủ quyền, Việt Minh trà trộn trong đám biểu tình phất cờ đỏ sao vàng cướp chính quyền.  Mấy ngày sau tại Huế phong trào Việt Minh bừng bừng nổi dậy, những cận thần, nội các Trần Trọng Kim cũng biến đâu mất vì sợ hãi. Đại sứ Nhật xin yết kiến nhà vua và Thủ tướng Trần Trọng Kim để xin dẹp loạn, tái lập trật tự, giữ ngôi Thiên tử cho Hoàng đế Bảo Đại theo lệnh của Tokyo, ông ta cho biết mặc dù nước Nhật đã đầu hàng Đồng minh nhưng quân đội Nhật vẫn có nhiệm vụ giữ gìn trật tự cho tới khi Đồng Minh vào tiếp thu giải giới, điều đáng tiếc là nhà vua và Thủ tướng đã từ chối sự giúp đỡ của họ. 

Ngày 22-8 Việt Minh gửi điện văn vào Huế yêu cầu Bảo Đại thoái vị, họ đã cướp được chính quyền xin Ngài từ bỏ ngai vàng vì nền độc lập của nước nhà. Các vị triều thần như Thủ Tướng, Tổng Lý Ngự Tiền Văn Phòng cũng khuyên nhà vua thoái vị, phần vì quá sợ hãi Việt Minh đang bành trướng mạnh lại có vũ trang, tháng 6 năm 1945 Hồ chí Minh đã được Mỹ thả dù xuống chiến khu cung cấp cho họ 5 ngàn khẩu súng đủ các loại để chống Nhật. Chính phủ Trần Trọng Kim không có quân đội nên dù muốn chống lại phong trào cũng khó, nhà vua lại là người nhân đức không muốn thấy cảnh nhân dân đổ máu vì nồi da xáo thịt.

Bảo Đại trả lời bức điện văn trên rằng Ngài sẵn sàng thoái vị vì nền độc lập của đất nước. Ngày 23-8-1945 sau khi được tin nhà vua sẵn sàng thoái vị, Việt Minh liền công bố thành phần chính phủ lâm thời do Hồ chí Minh làm Chủ tịch nhà nước. Ngày 25-8-1945, trước cửa Ngọ môn lâu, hàng chục ngàn người bàng hoàng kinh ngạc tụ tập nghe nhà vua đọc bản tuyên ngôn thoái vị. Vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Việt Minh rồi nói Ngài hy sinh ngai vàng, hy sinh tất cả vì hạnh phúc của nhân dân, vì nền độc lập của Việt Nam, sự đoàn kết trong lúc này là sự cần thiết cho tổ quốc, Ngài kết luận thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.

Sau khi nhà vua đã tuyên bố thoái vị rồi họ Hồ mới từ Tân trào về Hà Nội, người ta vẫn chưa biết Hồ chí Minh là ai. Ngày 2-9 -1945 họ Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập trước hàng chục ngàn người tham dự. Ngày 6-9 Pháp theo chân quân Anh đến Sài Gòn giải giới quân Nhật rồi xua quân chiếm Sài Gòn, Vũng Tầu, Gò Công, Vĩnh Long, Cao nguyên Trung phần... Mấy ngày sau gần hai trăm ngàn quân Tầu tràn vào Bắc Việt để giải giới quân Nhật, các đảng phái Quốc Gia, Việt Cách, Nguyễn Hải Thần, Vũ hồng Khanh theo chân quân Tầu về nước, các đảng Quốc gia về trễ, không lôi cuốn được nhân dân.

Quân Tầu đóng lì ra không chịu về, hai phe Quốc gia và Việt Minh phải thành lập chính phủ liên hiệp, Việt Minh nhường cho Quốc gia 70 ghế tại Quốc hội. Pháp đòi đem quân ra Bắc, họ Hồ phải thuận cho Pháp ra Bắc để thay Tầu giải giới Nhật vì sợ Tầu ở lỳ ra, giữa hai tình trạng tồi tệ, họ cho rằng phải chọn cái đỡ tệ hơn. Tháng 3-1946 quân Pháp ở Hải Phòng tiến về Hà Nội, họ cương quyết chiếm lại Đông dương dù phải đổ máu vì còn nhiều quyền lợi như nhà máy, xí nghệp, đồn điền, rừng cao xu, mỏ than, tiệm buôn... mà họ cho là tài sản, mồ hôi nước mắt của mình.

Tháng 7-1946 được Pháp giúp đỡ, Võ nguyên Giáp cho tấn công các lực lượng Quốc gia tại các tỉnh thượng du, họ tàn sát hết cả thương binh tù binh. Pháp giúp Việt Minh tiêu diệt Quốc gia xong bèn trở mặt gây hấn với Việt Minh. Cuối năm 1946 Việt Minh có vào khoảng một trăm ngàn người kể cả du kích, ba chục ngàn quân phía trên vĩ tuyến 16. Về vũ khí mới đầu Việt minh có 5 ngàn khẩu súng do Mỹ giúp từ tháng 6-1945, sau họ mua được nhiều súng lậu của Hoa kiều, của Quốc dân đảng Trung Hoa, từ đầu đến cuối năm 1946, mười ngàn người Nhật ở lại theo Việt Minh đã  giúp họ chế tạo được khoảng 10 ngàn súng cá nhân, 30 ngàn lựu đạn, mìn.

Khuya ngày 19-12-1946 Võ Nguyên Giáp cho lệnh tấn công quân Pháp tại Hà Nội, Trung đoàn Thủ đô chiến đấu rất anh dũng, sau hai tháng cầm cự, hy sinh hằng ngàn người, Trung đoàn phải rút khỏi Hà Nội.

Năm 1947 Việt Minh yếu thế phải rút vào hậu phương chỉ để du kích ở lại quấy phá.

Tại Hà Đông, Hà Nội dân tản cư đã dần dần trở về thành từ giữa năm 1947. Việt Minh làm ngơ cho dân chúng về tỉnh thành vì nhiều người không chịu nổi cuộc sống lưu vong gian khổ, ở nhờ phiền toái. Trước đây khi phát động toàn quốc kháng chiến họ kết án những ai ở lại là Việt gian, nên nhà nhà đều phải khăn gói ra đi vả lại cũng là để trốn tránh mũi tên hòn đạn của thực dân tàn bạo, trẻ không tha già không thương. Nay họ làm ngơ cho dân về thành cũng là để cho người trà trộn lấy tin tình báo, mua đồ nhu yếu cho hậu phương kháng chiến.

Pháp mở rộng khu vực ảnh hưởng chiếm Trung châu Bắc Việt, Trung Việt, các tỉnh cao nguyên, Nam Bộ. Việt Minh rút dần vào chiến khu chỉ để lại du kích ở đồng bằng. Ở tỉnh thành Pháp bằt đầu chiêu dụ dân chúng, đón tiếp người hồi cư, trả lương cho công chức. Dân tản cư kéo về ngày một đông hơn, dân quê có, dân tỉnh hồi cư cũng có, họ không chịu nổi cuộc sống tản cư gian khổ và cũng không tin tưởng Việt Minh. Các xí nghiệp của Tầu, Pháp, Ấn khai trương trở lại, các cửa hiệu đã đầy những hàng nhập cảng đồng hồ bút máy, vải vóc, sa tanh... xe hơi chưa nhiều nhưng xe đạp mới đã sắp thành dẫy trước các rạp hát, trường học, tiệm ăn tiệm nhảy lại mở của tưng bừng, cuộc sống bắt đầu nhộn nhịp như xưa.

Pháp lập chính phủ Nam kỳ quốc Sài Gòn và Hội Đồng An Dân Hà Nội, Hội Đồng Chấp Chánh ở Huế, họ dùng những người thân Pháp hoặc có quốc tịch Pháp. Người dân không tin chính sách tiêu thổ kháng chiến của Việt Minh nên đã trốn về thành nhưng họ cũng mâu thuẫn, về thành mà vẫn công kích Pháp.

Chính phủ Pháp triệu hồi D'Argenlieu và cử Bollaert sang làm Cao ủy, chính sách trực trị đã cáo chung, Bollaert tin tưởng thoả mãn nguyện vọng độc lập sẽ tách những người Quốc gia khỏi Cộng Sản trở về với Pháp. Tại Hà Đông ngày 15-5-1947 và ngày 10-9 1947 Bollaert hứa hẹn trên nguyên tắc thừa nhận nền độc lập của Việt Nam trong sự liên kết với Pháp, ông ta tìm một người có uy tín, được toàn dân biết tên tuổi, đứng trên các đảng phái để qui tụ các nhóm địa phương rồi trực tiếp đàm thoại với Pháp, người đó phải ôn hoà thừa nhận quyền lợi của Pháp. Chỉ có cựu hoàng Bảo Đại hội đủ các điều kiện ấy.

Tại thành thị xã hội dần dần ổn định, cuộc sống lại thanh bình như xưa, tâm lý chung người dân gió chiều nào theo chiều ấy, bên nào mạnh là họ theo vì Việt Minh đang yếu thế, Pháp thì mở rộng địa bàn hoạt động.

Sau năm 1945 có khoảng 10 ngàn quân Nhật ở lại theo Việt Minh kháng chiến, họ huấn luyện cho Việt Minh tại Sơn Tây, mùa hè năm 1947 Việt Minh có đủ vũ khí trang bị cho 120 ngàn quân. Người Nhật giúp Việt Minh lập cơ xưởng chế tạo vũ khí tại miền thượng du Bắc Việt. Đến cuối năm 1953 hầu hết những người Nhật theo Việt Minh bị thủ tiêu, họ làm theo yêu cầu của cố vấn Hồng quân Trung Hoa. Mặc dù đầy đủ súng ống nhưng còn rất yếu so với Pháp vì chúng có đủ xe tăng, đại bác. Hồi ấy Việt Minh vẫn mua vũ khí của Trung Hoa Quốc Dân Đảng cũng như nhờ họ giúp đỡ.

Đối với tình hình trong nước lúc ấy Pháp biết không thể chỉ dùng quân sự mà phải phối hợp chính trị, chiến tranh tâm lý để thắng địch. Họ cần một người ôn hòa, đáng tin cậy, thân Pháp và phải thừa nhận quyền lợi của Pháp ở Đông Dương, người ấy sẽ giúp họ chiêu dụ nhân dân. Báo chí ở Ba Lê nhắc đến cựu hoàng Bảo Đại. Mấy tháng sau khi Việt Minh cướp chính quyền, Bảo Đại được mời làm cố vấn cho Hồ Chí Minh, tháng 9-1946 ông được đưa qua Trùng Khánh để tiếp xúc với Tưởng Giới Thạch, sau đó ông bỏ trốn qua Hồng Kông.

Tại Việt Nam báo Hà Nội có tờ đưa ý kiến thỉnh cựu hoàng ở Hồng Kông về lãnh đạo phong trào Quốc gia chống Cộng Sản và thu hồi độc lập, đề nghị này đã được các đảng phái bàn cãi.

Nhiều cuộc biểu tình như tại Hà Nội ngày 1-9-1947 và tại Huế ngày 12-8 -1947 cũng như tại Sài Gòn để ủng hộ việc cử phái đoàn đi mời cựu hoàng về cứu vãn thời cuộc. Nhân dân không tin cả Pháp lẫn Việt Minh, họ cho rằng vì Ngài thoái vị nên mới sảy ra chiến tranh đổ máu, nay Ngài có lấy lại ngôi vị thì cũng xứng đáng thôi. Các đảng phái, đoàn thể cũng bất đồng ý kiến với nhau, có người nói Trần Trọng Kim hiền quá, đảng phái bị Việt Minh đánh tan rã rồi, lãnh tụ không ai chịu ai, chia rẽ nhau...không có ai cao quí hơn Ngài để mọi người tin phục, Ngài theo chính sách dân chủ "dân vi quí".

Nhà vua thoái vị vì ông Khâm sai đại thần sợ quá  đánh điện xin Ngài hãy thoái vị để tránh đổ máu, nếu Ngài lấy lại ngôi thì cũng xứng đáng thôi, cựu hoàng được thiện cảm vì ông là thanh niên tiên tiến mới 34 tuổi.

Giải pháp Bảo Đại được nêu ra từ đầu năm 1947 nhưng hơn hai năm sau mới thành sự thật, Pháp thăm dò dư luận khá lâu. Các nhà cách mạng Quốc gia chống Việt Minh lưu vong tại Hồng Kông đề nghị ông Bảo Đại đứng lên lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độc lập bằng ngoại giao, Pháp cũng liên lạc với ông và đề nghị tương tự, Cựu hoàng ghi nhận các ý kiến nhưng vẫn còn dè dặt. Bảo Đại tuyên bố với phái đoàn quốc nội ra Hồng Kông mời Ngài về nước, ông nói tôi vì hạnh phúc của dân mà thoái vị, nay nếu nhân dân lại muốn tôi ra giúp nước và điều đình với Pháp tôi sẽ sẵn sàng nhận để đòi hỏi độc lập thống nhất cho Việt Nam.

Ngày 6-12-1947 Bảo Đại nhận lời mời của Cao uỷ Bollaert và gặp ông tại vịnh Hạ Long để trao đổi nhận xét tình thế rồi lại về Hương Cảng. Cuộc hội kiến để thăm dò lập trường, Cựu hoàng chờ xác nhận của Pháp và nhân sĩ Sài Gòn về chủ quyền Việt Nam và sự sáp nhập miền Nam vào lãnh thổ Quốc gia. Đến ngày 19-12-1947 lại có thêm một phái đoàn nữa của các ông Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu sang Hương Cảng thúc dục Ngài về lãnh trọng trách, ông chấp nhận và nói còn phải sang Âu châu vận động, trong khi chờ đợi tạm lập chính quyền Quốc gia để liên lạc với Pháp.

Kế hoạch thành tựu, ngày mồng 5-6-1948 trên một chiến hạm tại vịnh Hạ Long, Bollaert nhân danh chính phủ Pháp long trọng tuyên bố nước Việt Nam độc lập trong Liên hiệp Pháp. Cựu hoàng Bảo Đại xác nhận chính thức việc điều đình với Pháp trên căn bản đó và công nhận một chính phủ lâm thời do Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân điều khiển. Nguyễn Văn Xuân nhậm chức trước mặt vài chục đại diện các xu hướng, các Hội đồng, đoàn thể Trung, Nam, Bắc ông tuyên bố lãnh trách nhiệm theo "thánh ý". Ông kêu gọi quốc dân đoàn kết, cảm ơn quan Thượng sứ, Ngài Bảo Đại rồi hô to "Việt Nam độc lập vạn tuế, Đại Pháp vạn tuế."

Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân quốc tịch Pháp, ban hành qui chế lâm thời ấn định thể chế Việt Nam do Sắc lệnh số 3 số 5, lấy cờ vàng ba vạch đỏ làm Quốc kỳ, bài Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước làm quốc ca. Thủ Đô đặt tại Sài gòn, nước chia làm ba phần, mỗi phần có Hội đồng địa phương, Chính phủ địa phương do Tổng trấn cai trị, trong Nam Tổng trấn ngang hàng phó thủ tướng, cao hơn bộ trưởng, ngoài Bắc, Trung Tổng trấn ngang hàng Quốc vụ khanh, sau này đổi thành Thủ Hiến.

Phần lớn công việc còn do Pháp nắm giữ, trong Nam từ cuối năm 1945, ngoài Bắc, Trung từ 1947 họ mở lại các công sở cũ như cảnh sát, ngân khố, quan thuế, công chánh... Từ 1948 các cơ quan Quốc gia đã được mở song song với các cơ sở Pháp. Trong giai đoạn đầu chính phủ Quốc gia chưa có quyền, chỉ có tính cách tượng trưng, chỉ lo giúp dân hồi cư, mở trạm cứu thương, trường học, đáng kể là lập toà án, các đoàn cảnh vệ, Trường võ bị Huế, nơi huấn luyện sĩ quan Việt Nam đầu tiên, ông Nguyễn văn Xuân là cái gạch nối giữa Pháp và Bảo Đại.

Cuộc điều đình Việt Pháp gặp nhiều trở lực, các đảng phái cực tả, Xã Hội, Cộng Sản chống giải pháp Bảo Đại, Thực dân lại vận động cho Nam Kỳ tự trị, Quốc Hội nhóm họp ngày 19-8-1948 xét Hiệp định Hạ Long nhưng không đi tới thoả thuận vì bất đồng ý kiến. Chính phủ Pháp thương thuyết với Cựu hoàng mãi tới ngày 21-2-1949 mới hoàn tất dự án thoả ước. Việc sáp nhập Nam kỳ vào lãnh thổ Việt nam phải do Quốc Hội Pháp xác định. Ngày 8-3-1949 tại điện Elysée, Cựu hoàng và Tổng thống Pháp Vincent Aurilole trao đổi văn thư  thừa nhận Việt Nam Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp.

Hội đồng Nam Kỳ sau nhiều ngày bàn cãi đi tới biểu quyết ngày 24-4-1949 cho miền Nam qui hoàn lãnh thổ Việt Nam, đến 28-4-1949 biểu quyết đã được Quốc Hội Pháp chuẩn y. Ngày 14-6-1949 Quốc Trưởng Bảo Đại hiệu triệu quốc dân tại toà Đô sảnh Sài Gòn sau khi miền Nam sáp nhập vào lãnh thổ Quốc gia. Ông tóm tắt các thắng lợi đã giành được trong cuộc tranh thủ độc lập thống nhất đất nước và hứa hẹn thúc đẩy sự tiến bộ, Cựu Hoàng kêu gọi nhân dân hãy đồng tâm nhất trí. Người dân cho rằng Pháp trả được phần nào hay phần nấy, nay Ngài đã về y như nhà có nóc.

Chính phủ Bảo Đại chấp chính từ tháng 7-1949 đến đầu năm 1950, kế đó là các chính phủ Nguyễn Phan Long 1950, Trần Văn Hữu 1950-1951. Chế độ không có hiến pháp mà chỉ có hai đạo dụ ngày 1-7-1949 về tổ chức công quyền. Quốc trưởng có quyền lập pháp, ban hành đạo dụ, Thủ tướng được ủy nhiệm do quốc trưởng bổ nhiệm.

Bảo Đại về nước trị vì đã gây được niềm tin tưởng nơi người dân y như nhà có nóc mà núp, có cột mà dựa. Từ đấy dân chúng hồi cư tấp nập về thành thị, riêng tại các tỉnh Bắc Ninh, Hà Đông, Hà Nội, Sơn Tây. . trong tháng 7-1949 mỗi ngày có vài nghìn người, riêng ngày 30-10 tại Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây... số người trở về lên tới 35 ngàn người. Quân Pháp lan tràn kiểm soát vùng duyên hải đông dân như Bùi Chu, Phát Diệm ngày 16-10-1949. Công chức kéo về rất nhiều, chính giới Pháp, Việt đã cho giải pháp Bảo Đại đem lại thắng lợi trước cảnh hồi cư  đông đúc tại nhiều tỉnh miền Bắc, người dân bỏ già Hồ về với cựu hoàng.

Diện tích vùng thuộc Pháp tại Trung châu tăng lên gấp ba, số ruộng cầy cấy tăng lên nhiều. Gạo xuất cảng từ 59 ngàn tấn năm 1945 tăng lên 379 ngàn tấn năm 1950, nhân công dồi dào, an ninh bảo đảm hơn, các ngành sản xuất than đá, vải sợi, xi măng, đường…  đều tiến bộ. Trị giá nhập cảng năm 1946 là 16 tỷ đồng quan Pháp đến năm 1949 tăng lên 73 tỷ đồng. Hàng hoá tràn ngập các cửa tiệm, chợ búa, các ngành sản xuất cũng tiến hẳn lên, lương bổng công tư chức khá cao. Cựu hoàng về nước đem theo nhiều thuận lợi, hàng nhập cảng ngày càng nhiều, vùng chiếm đóng nay là vùng Quốc Gia mở rộng dễ dàng, Việt Minh chỉ đột kích, khủng bố chưa có trận đánh lớn.

Các nước Mỹ, Anh, Úc và nhiều nước trên thế giới tự do thừa nhận chính phủ Quốc gia, tình hình kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự đều sáng sủa. Thủ đô chính trị là Sài Gòn, các phái đoàn ngoại giao đều thiết lập ở đó. Mãi tới 21-6-1949 bản văn thoả ước Élysée mới được công bố, xác nhận bản tuyên cáo tại vịnh Hạ Long, thoả ước Élysée thừa nhận Việt Nam độc lập, thống nhất, có chủ quyền ngoại giao, nội trị, có quân đội và tư pháp riêng. Việt Kiều tại Pháp được hưởng những quyền lợi tương đương như của Pháp kiều tại Việt Nam về cư trú, vãng lai, quyền tự do... tuy nhiên có hạn chế:

- Việt nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp nhận hướng dẫn và phối hợp của Pháp, bị thắt buộc về ngoại giao, quân sự  kinh tế.

- Việt nam có quyền cử Lãnh sự, Đại sứ ra nước ngoài, tiếp nhận đại diện ngoại giao các nước, ký kết các hiệp ước quốc tế song mỗi trường hợp phải có đồng ý của Pháp. Trong giai đoạn đầu Việt Nam chỉ đặt Đại sứ tại Vatican, Thái Lan, Trung Hoa, Ấn độ… còn các nơi khác, Pháp thay mặt dùm Việt nam!

- Việt Nam có quân đội riêng để tự vệ song phải góp sức bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp cũng bảo vệ Việt Nam, sĩ quan huấn luyện là người Pháp, Pháp cung cấp vũ khí. Một uỷ ban quân sự hỗn hợp được thành lập để chuẩn bị kế hoạch phòng thủ chung. Thời chiến, lực lượng Việt nam phải đặt dưới quyền sử dụng của Tư lệnh hành quân Pháp.

- Tiền Việt Nam phải do đồng Phật Lăng bảo đảm.

- Về Kinh tế, tài chánh mọi sự thay đổi luật lệ về tài sản, xí nghiệp Pháp phải có sự thoả thuận của chính phủ Pháp.

- Về văn hoá Việt Nam sẽ tổ chức giáo dục Quốc gia, thừa nhận Pháp ngữ có một ưu vị, Pháp được tự do mở trường, Pháp sẽ mở một Viện đại học theo qui chế chương trình Pháp.

- Về chủ quyền nội trị, Việt Nam sẽ hoàn toàn tự trị, Pháp sẽ trả dần dần, Việt Nam có toàn quyền tư Pháp.

- Pháp không cản trở sự hợp nhất ba kỳ, Pháp từ bỏ các nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng... Miên Lào được xử dụng chung sông MeKong, thương cảng Sài Gòn, Viện đại học, Viện Pasteur... ba nước sẽ ấn định thể lệ hợp tác.

- Trong thời chiến binh quyền do Pháp nắm, nói chung Pháp vẫn có quyền quyết định tối hậu.

Người Pháp biết ngoài Cựu Hoàng không ai đủ tư cách nói chuyện để tìm một giải pháp ôn hoà. Người ta hay chỉ trích cựu hoàng không đòi được độc lập nhiều hơn, thực ra Việt Nam chưa thể độc lập hoàn toàn được, ta chưa có ngoại tệ, quân đội, vẫn cần có quân đội Pháp bảo vệ cho ta chống lại Việt Minh đang lớn mạnh.

Những người Pháp, người Việt thuộc nhóm ôn hoà đặt nhiều hy vọng vào Cựu Hoàng, họ  hy vọng ông thu hút các tầng lớp nhân dân và những người Quốc gia trong kháng chiến, tình hình chính trị cuối năm 1949, đầu 1950 sáng sủa hơn trước. Giữa năm 1950 tình hình chuyển hướng, các đảng phái chê Quốc trưởng xa dân không kết hợp được các phe chia rẽ để chống Cộng Sản và đối phó với Tây, Ngài hay dùng những người quá thân Pháp, họ nể Pháp nên khó làm việc.

Thể chế qui định Quốc gia chưa có, chỉ có hai đạo dụ ngày 1-7-1949 về tổ chức công quyền và qui chế công sở. Quốc Trưởng có quyền lập pháp, hành pháp ủy cho Thủ Tướng do Quốc Trưởng bổ nhiệm, Thủ Tướng chịu trách nhiệm trước Quốc Trưởng. Dân chúng chỉ được một số cơ quan đại diện: Hội đồng tư vấn, Hội đồng địa phương, chỉ có quyền hạn chế về hành chánh, tài chánh. Một chính thể như vậy thiếu căn bản pháp lý và trái nguyên tắc dân chủ, một cá nhân nắm toàn quyền lãnh đạo.

Khi hiệu triệu quốc dân tại Toà đô sảnh Sài Gòn, Bảo Đại nói ông tạm mang Đế hiệu để danh chính ngôn thuận, chánh thể sau này sẽ do toàn dân quyết định. Nhà cầm quyền đã xây dựng được nhiều cơ sở mà các chế độ, chính phủ sau này thừa hưởng những thành quả, duy trì hay sửa đổi.

Từ năm 1949 Việt Nam được nhiều cường quốc công nhận, đã được gia nhập 35 Cơ quan Quốc tế với tư cách Hội viên như Y tế Quốc tế, Lao động Quốc tế, Lương nông Quốc tế, Văn hóa Quốc tế Unesco... Hoa kỳ đã đặt Phái bộ viện trợ quân sự từ ngày 6-3-1950, viện trợ thương mại từ tháng 7-1950, đã ký kết hiệp ước tương trợ Việt Mỹ.

Tình hình chiến sự đang lắng dịu bỗng sôi động hẳn lên, cuối năm 1948 Pháp chiếm Hoà Bình, Sơn tây, Việt Trì, Bắc Ninh. Tháng 8 năm 1949 chiếm Phát Diệm, Bùi Chu. Năm 1948 quân số  Việt Minh trên toàn quốc khoảng trên 100 ngàn người kể cả du kích, năm 1948 họ đã tổ chức thành trung đoàn và vẫn mua súng của Trung Hoa Quốc Dân đảng.

Cuối tháng 8-1948 Tưởng Giới Thạch mất Mãn Châu, thiệt hại gần nửa triệu quân, ngày 7-10-48 Hồng quân đại thắng ở Hoa Bắc, hai hôm sau Tưởng Giới Thạch xin Mỹ viện trợ để cứu nguy tình thế hiểm nghèo nhưng không được đáp ứng, đầu tháng 12-1948 Tưởng phu nhân bà Tống Mỹ Linh đích thân sang Mỹ cầu viện nhưng họ lờ đi, Mỹ bỏ rơi Trung Hoa không thương tiếc. Trước năm 1948 Việt Minh vẫn nịnh bợ Quốc Dân Đảng Trung Hoa nhưng khi thấy Mao thắng thế họ trở cờ theo Hồng quân. Ngày 18-1-1949 Mao thừa nhận Hồ, ngày 31-1-1949 Hồ cũng thừa nhận Mao, ngày 21-1-49 Trung Cộng vào Bắc Kinh, đầu tháng 10-49 Mao tuyên bố thành lập Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hoà Quốc.

Tại miền Nam năm 1948 Pháp, Cao Đài, Hoà Hảo kiểm soát Nam Bộ nhưng Việt Minh vẫn kiểm soát U Minh, Đồng Tháp Mười. Tại nông thôn ban ngày thuộc Pháp ban đêm Việt Minh kiểm soát. Tình hình chính trị đột nhiên chuyển mình, Việt Minh được Trung Cộng giúp vũ khí đánh bại Pháp tại Cao Bắc Lạng. Đầu năm 1949 Hồng quân chiếm trọn nước Trung Hoa, họ cho 20 sư đoàn đóng dọc theo biên giới Việt Hoa để ngăn chặn Quốc quân chạy qua Việt Nam. Pháp sợ quá nên rút khỏi Cao bằng, Việt Minh biết trước do tình báo Nga nên ra quân tiến đánh Đông Khê để chận đường rút lui, Việt Minh dùng chiến thuật biển người lấy năm đổi một để chiếm được Đông Khê. Đại Tá Charton triệt thoái ba tiểu đoàn khỏi Cao Bằng ngày 29-9-1949 đến đầu tháng 10 thì bị Việt Minh chận đánh tơi bời, ngày 7-10 binh đoàn bị đánh tan rã, Pháp mất trên 7 ngàn quân và nhiều đơn vị tinh nhuệ, 500 quân xa, trên 100 súng cối và 13 đại bác, 10 ngàn súng cá nhân và cộng đồng, đại liên, trung liên. Trận đánh đã làm rung động cả nước Pháp, không ai ngờ Việt Minh bây giờ lại mạnh đến thế. Mặc dù không nằmtrong kế hoạch lui binh nhưng tại Lạng Sơn quân Pháp sợ quá lui binh không kịp tiêu hủy đạn dược săng nhớt để lại hàng nghìn lít săng, quân nhu, quân cụ, 450 quân xa, 13 ngàn súng cá nhân, đại liên... đây là trận đại phục kích, theo Việt Minh Pháp mất 8 ngàn quân, 3 ngàn 500 bị bắt làm tù binh.

Nga Tầu công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh  và chuyển vận vũ khí ồ ạt giúp họ Hồ, nhiều trại huấn luyện được dựng lên dọc theo biên giới, hàng ngày tầu hoả chở hàng và hàng ngàn xe vận tải chở vũ khí qua biên giới cho Việt Minh, nhờ đó họ đã tổ chức được hơn 40 ngàn quân chính qui, bốn sư đoàn, năm 1947 Việt Minh có trên 100 ngàn quân kể cả du kích, năm 1948 họ thành lập được 32 tiểu đoàn chính qui, nhưng đến năm 1950 tăng vọt lên 127 tiểu đoàn, Hồ Chí Minh ban hành tổng động viên... Cuộc chiến chuyển mình, nay Việt Minh đã trở thành quân tốt cho Cộng Sản quốc tế núp dưới danh nghĩa giành độc lập.

Bỏ Trung Hoa, Mỹ nay phải đương đầu với Trung Cộng một hiểm họa ghê gớm đang đe dọa nền an ninh của Á Châu, của cả Thế giới Tự do nên họ phải nhảy vào vòng chiến. Khi Mao chuyển vũ khí đạn dược ồ ạt giúp Việt Minh, cuối tháng 10-1950 Mỹ vội viện trợ quân sự cho Pháp 300 triệu đô la, hàng không mẫu hạm Mỹ chở tới Sài Gòn 40 máy bay Hellcat cho Pháp. Chúng ta thấy người Mỹ chỉ đổ tiền của, xương máu vào một cuộc chiến tranh nào khi nền an ninh của họ bị trực tiếp hay gián tiếp đe doạ. 

Miền Bắc nước ta bỗng trở thành bãi chiến trường cho cuộc chiến tranh giữa Thế Giới Tự do và Cộng Sản Quốc tế do Mỹ và Trung Cộng đứng sau lưng. Cuộc chiến tranh Đông Dương đã được quốc tế hóa, các siêu cường Mỹ, Nga, Tầu mang danh nghĩa giúp Việt Nam giành độc lập nhưng người ta chỉ thấy họ đầu tư vào toàn là bom đạn và các thứ vũ khí giết người. Quân đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập cuối năm 1949, lương bổng do chính phủ trả tượng trưng còn lại do Viện trợ Mỹ đài thọ, các công sở Pháp được trao trả dần dần cho Việt Nam, dưới áp lực Mỹ Pháp đã phải trả độc lập từ từ. Năm 1950 khi Việt Minh bắt đầu thành lập được nhiều đơn vị chính qui thì quân số của Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương tăng lên 239 ngàn người mà non nửa là người Pháp, còn lại là Đức, Châu Phi, bản xứ.

Đầu năm 1950 Võ Nguyên Giáp được các cố vấn Hồng quân Trung Hoa dạy cho lối đánh biển người, Giáp đích thân chỉ huy Đại đoàn 308 tháng 2-1950, cho 6 ngàn người tấn công đồn Phố Lu, trong đồn chỉ có150 lính với bốn khẩu đại liên ở lô cốt. Giáp cho pháo kích rồi xung phong đợt này ngã gục đợt khác lại tiến lên, bốn khẩu đại liên bắn như mưa bấc đỏ cả nòng. Trận biển người không đạt được kết quả, mặc dù đã đẩy hằng hà sa số thanh niên vào chỗ chết nhưng vẫn không chiếm được đồn

Sau trận Cao Bắc Lạng Pháp hoảng quá, Thủ Tướng Réné cử tướng năm sao De Lattre de Tassigny đến Đông Dương cuối 1950, tăng thêm 18 ngàn quân xa, 2300 thiết giáp, 230 tầu chiến và giang đĩnh, 500 ngàn súng cá nhân, đại liên, 1 ngàn 500 súng cối, 750 đại bác. De lattre cho xây cất gần một nghìn lô cốt đồn bót kiên cố đương đầu Việt Minh đang thừa thắng sông lên.

(Còn tiếp)

© Đàn Chim Việt Online