Nhà vua thoái vị vì ông Khâm sai đại thần sợ quá đánh điện xin Ngài hãy thoái vị để tránh đổ máu, nếu Ngài lấy lại ngôi thì cũng xứng đáng thôi, cựu hoàng được thiện cảm vì ông là thanh niên tiên tiến mới 34 tuổi.
Giải pháp Bảo Đại được nêu ra từ đầu năm 1947 nhưng hơn hai năm sau mới thành sự thật, Pháp thăm dò dư luận khá lâu. Các nhà cách mạng Quốc gia chống Việt Minh lưu vong tại Hồng Kông đề nghị ông Bảo Đại đứng lên lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độc lập bằng ngoại giao, Pháp cũng liên lạc với ông và đề nghị tương tự, Cựu hoàng ghi nhận các ý kiến nhưng vẫn còn dè dặt. Bảo Đại tuyên bố với phái đoàn quốc nội ra Hồng Kông mời Ngài về nước, ông nói tôi vì hạnh phúc của dân mà thoái vị, nay nếu nhân dân lại muốn tôi ra giúp nước và điều đình với Pháp tôi sẽ sẵn sàng nhận để đòi hỏi độc lập thống nhất cho Việt Nam.
Ngày 6-12-1947 Bảo Đại nhận lời mời của Cao uỷ Bollaert và gặp ông tại vịnh Hạ Long để trao đổi nhận xét tình thế rồi lại về Hương Cảng. Cuộc hội kiến để thăm dò lập trường, Cựu hoàng chờ xác nhận của Pháp và nhân sĩ Sài Gòn về chủ quyền Việt Nam và sự sáp nhập miền Nam vào lãnh thổ Quốc gia. Đến ngày 19-12-1947 lại có thêm một phái đoàn nữa của các ông Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu sang Hương Cảng thúc dục Ngài về lãnh trọng trách, ông chấp nhận và nói còn phải sang Âu châu vận động, trong khi chờ đợi tạm lập chính quyền Quốc gia để liên lạc với Pháp.
Kế hoạch thành tựu, ngày mồng 5-6-1948 trên một chiến hạm tại vịnh Hạ Long, Bollaert nhân danh chính phủ Pháp long trọng tuyên bố nước Việt Nam độc lập trong Liên hiệp Pháp. Cựu hoàng Bảo Đại xác nhận chính thức việc điều đình với Pháp trên căn bản đó và công nhận một chính phủ lâm thời do Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân điều khiển. Nguyễn Văn Xuân nhậm chức trước mặt vài chục đại diện các xu hướng, các Hội đồng, đoàn thể Trung, Nam, Bắc ông tuyên bố lãnh trách nhiệm theo "thánh ý". Ông kêu gọi quốc dân đoàn kết, cảm ơn quan Thượng sứ, Ngài Bảo Đại rồi hô to "Việt Nam độc lập vạn tuế, Đại Pháp vạn tuế."
Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân quốc tịch Pháp, ban hành qui chế lâm thời ấn định thể chế Việt Nam do Sắc lệnh số 3 số 5, lấy cờ vàng ba vạch đỏ làm Quốc kỳ, bài Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước làm quốc ca. Thủ Đô đặt tại Sài gòn, nước chia làm ba phần, mỗi phần có Hội đồng địa phương, Chính phủ địa phương do Tổng trấn cai trị, trong Nam Tổng trấn ngang hàng phó thủ tướng, cao hơn bộ trưởng, ngoài Bắc, Trung Tổng trấn ngang hàng Quốc vụ khanh, sau này đổi thành Thủ Hiến.
Phần lớn công việc còn do Pháp nắm giữ, trong Nam từ cuối năm 1945, ngoài Bắc, Trung từ 1947 họ mở lại các công sở cũ như cảnh sát, ngân khố, quan thuế, công chánh... Từ 1948 các cơ quan Quốc gia đã được mở song song với các cơ sở Pháp. Trong giai đoạn đầu chính phủ Quốc gia chưa có quyền, chỉ có tính cách tượng trưng, chỉ lo giúp dân hồi cư, mở trạm cứu thương, trường học, đáng kể là lập toà án, các đoàn cảnh vệ, Trường võ bị Huế, nơi huấn luyện sĩ quan Việt Nam đầu tiên, ông Nguyễn văn Xuân là cái gạch nối giữa Pháp và Bảo Đại.
Cuộc điều đình Việt Pháp gặp nhiều trở lực, các đảng phái cực tả, Xã Hội, Cộng Sản chống giải pháp Bảo Đại, Thực dân lại vận động cho Nam Kỳ tự trị, Quốc Hội nhóm họp ngày 19-8-1948 xét Hiệp định Hạ Long nhưng không đi tới thoả thuận vì bất đồng ý kiến. Chính phủ Pháp thương thuyết với Cựu hoàng mãi tới ngày 21-2-1949 mới hoàn tất dự án thoả ước. Việc sáp nhập Nam kỳ vào lãnh thổ Việt nam phải do Quốc Hội Pháp xác định. Ngày 8-3-1949 tại điện Elysée, Cựu hoàng và Tổng thống Pháp Vincent Aurilole trao đổi văn thư thừa nhận Việt Nam Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp.
Hội đồng Nam Kỳ sau nhiều ngày bàn cãi đi tới biểu quyết ngày 24-4-1949 cho miền Nam qui hoàn lãnh thổ Việt Nam, đến 28-4-1949 biểu quyết đã được Quốc Hội Pháp chuẩn y. Ngày 14-6-1949 Quốc Trưởng Bảo Đại hiệu triệu quốc dân tại toà Đô sảnh Sài Gòn sau khi miền Nam sáp nhập vào lãnh thổ Quốc gia. Ông tóm tắt các thắng lợi đã giành được trong cuộc tranh thủ độc lập thống nhất đất nước và hứa hẹn thúc đẩy sự tiến bộ, Cựu Hoàng kêu gọi nhân dân hãy đồng tâm nhất trí. Người dân cho rằng Pháp trả được phần nào hay phần nấy, nay Ngài đã về y như nhà có nóc.
Chính phủ Bảo Đại chấp chính từ tháng 7-1949 đến đầu năm 1950, kế đó là các chính phủ Nguyễn Phan Long 1950, Trần Văn Hữu 1950-1951. Chế độ không có hiến pháp mà chỉ có hai đạo dụ ngày 1-7-1949 về tổ chức công quyền. Quốc trưởng có quyền lập pháp, ban hành đạo dụ, Thủ tướng được ủy nhiệm do quốc trưởng bổ nhiệm.
Bảo Đại về nước trị vì đã gây được niềm tin tưởng nơi người dân y như nhà có nóc mà núp, có cột mà dựa. Từ đấy dân chúng hồi cư tấp nập về thành thị, riêng tại các tỉnh Bắc Ninh, Hà Đông, Hà Nội, Sơn Tây. . trong tháng 7-1949 mỗi ngày có vài nghìn người, riêng ngày 30-10 tại Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây... số người trở về lên tới 35 ngàn người. Quân Pháp lan tràn kiểm soát vùng duyên hải đông dân như Bùi Chu, Phát Diệm ngày 16-10-1949. Công chức kéo về rất nhiều, chính giới Pháp, Việt đã cho giải pháp Bảo Đại đem lại thắng lợi trước cảnh hồi cư đông đúc tại nhiều tỉnh miền Bắc, người dân bỏ già Hồ về với cựu hoàng.
Diện tích vùng thuộc Pháp tại Trung châu tăng lên gấp ba, số ruộng cầy cấy tăng lên nhiều. Gạo xuất cảng từ 59 ngàn tấn năm 1945 tăng lên 379 ngàn tấn năm 1950, nhân công dồi dào, an ninh bảo đảm hơn, các ngành sản xuất than đá, vải sợi, xi măng, đường
đều tiến bộ. Trị giá nhập cảng năm 1946 là 16 tỷ đồng quan Pháp đến năm 1949 tăng lên 73 tỷ đồng. Hàng hoá tràn ngập các cửa tiệm, chợ búa, các ngành sản xuất cũng tiến hẳn lên, lương bổng công tư chức khá cao. Cựu hoàng về nước đem theo nhiều thuận lợi, hàng nhập cảng ngày càng nhiều, vùng chiếm đóng nay là vùng Quốc Gia mở rộng dễ dàng, Việt Minh chỉ đột kích, khủng bố chưa có trận đánh lớn.
Các nước Mỹ, Anh, Úc và nhiều nước trên thế giới tự do thừa nhận chính phủ Quốc gia, tình hình kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự đều sáng sủa. Thủ đô chính trị là Sài Gòn, các phái đoàn ngoại giao đều thiết lập ở đó. Mãi tới 21-6-1949 bản văn thoả ước Élysée mới được công bố, xác nhận bản tuyên cáo tại vịnh Hạ Long, thoả ước Élysée thừa nhận Việt Nam độc lập, thống nhất, có chủ quyền ngoại giao, nội trị, có quân đội và tư pháp riêng. Việt Kiều tại Pháp được hưởng những quyền lợi tương đương như của Pháp kiều tại Việt Nam về cư trú, vãng lai, quyền tự do... tuy nhiên có hạn chế:
- Việt nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp nhận hướng dẫn và phối hợp của Pháp, bị thắt buộc về ngoại giao, quân sự kinh tế.
- Việt nam có quyền cử Lãnh sự, Đại sứ ra nước ngoài, tiếp nhận đại diện ngoại giao các nước, ký kết các hiệp ước quốc tế song mỗi trường hợp phải có đồng ý của Pháp. Trong giai đoạn đầu Việt Nam chỉ đặt Đại sứ tại Vatican, Thái Lan, Trung Hoa, Ấn độ
còn các nơi khác, Pháp thay mặt dùm Việt nam!
- Việt Nam có quân đội riêng để tự vệ song phải góp sức bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp cũng bảo vệ Việt Nam, sĩ quan huấn luyện là người Pháp, Pháp cung cấp vũ khí. Một uỷ ban quân sự hỗn hợp được thành lập để chuẩn bị kế hoạch phòng thủ chung. Thời chiến, lực lượng Việt nam phải đặt dưới quyền sử dụng của Tư lệnh hành quân Pháp.
- Tiền Việt Nam phải do đồng Phật Lăng bảo đảm.
- Về Kinh tế, tài chánh mọi sự thay đổi luật lệ về tài sản, xí nghiệp Pháp phải có sự thoả thuận của chính phủ Pháp.
- Về văn hoá Việt Nam sẽ tổ chức giáo dục Quốc gia, thừa nhận Pháp ngữ có một ưu vị, Pháp được tự do mở trường, Pháp sẽ mở một Viện đại học theo qui chế chương trình Pháp.
- Về chủ quyền nội trị, Việt Nam sẽ hoàn toàn tự trị, Pháp sẽ trả dần dần, Việt Nam có toàn quyền tư Pháp.
- Pháp không cản trở sự hợp nhất ba kỳ, Pháp từ bỏ các nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng... Miên Lào được xử dụng chung sông MeKong, thương cảng Sài Gòn, Viện đại học, Viện Pasteur... ba nước sẽ ấn định thể lệ hợp tác.
- Trong thời chiến binh quyền do Pháp nắm, nói chung Pháp vẫn có quyền quyết định tối hậu.