- Trang Chủ
- Điểm Nóng
- Chính trị Việt Nam
- Giải pháp Bảo Đại [1]
Giải pháp Bảo Đại [1]
- Tác Giả Trọng Đạt
- Đăng ngày 15.07.09
- Chính trị Việt Nam
Trong một bài viết về cuộc đời của cựu hoàng Bảo Đại đăng trên báo Trẻ tại Dallas, Texas, số ngày 27-7-2006, "Vua Bảo Đại, The Last Emperor", tác giả Đinh Yên Thảo nhận xét
"Là vị vua chấp chính gắn liền với một giai đoạn quan trọng của lịch sử Việt Nam, rồi trở thành một cựu hoàng lưu vong tại Pháp, ông là một vị vua không được sử gia, học giả hay giới truyền thông có nhìn nhận ưu ái về các đóng góp của ông cho đất nước Việt Nam"
Thật vậy, nhân cái chết của cựu hoàng ngày 31-7-1997 tại Pháp, một số giáo đường và Hội đoàn hải ngoại có tưởng niệm ông như một vị vua Việt Nam cuối cùng, nhiều báo chí, đài phát thanh đã đề cập tới cuộc đời của ông nhưng tịnh không nghe thấy ai nói tới những thành quả, công trạng của ông trong các giai đoạn làm vua, chấp chính. Trên tờ Văn nghệ Tiền Phong tại Virginia năm 1997, một độc giả lên án Bảo Đại là Việt Gian, năm 1955 ông đã dung dưỡng Bình Xuyên, Ba Cụt, Năm Lửa... phá rối tình hình chính trị miền Nam. Thật vậy, đã một thời kỳ ông bị toàn dân lên án là theo Tây, người ta đã tổ chức những cuộc biểu tình tố cáo ông làm tay sai cho Thực dân, cấu kết với những tổ chức phá hoại đất nước như Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Bình Xuyên, Năm Lửa, Ba Cụt, Nguyễn Văn Vỹ...
Có lẽ vì người ta mải mê lên án Bảo Đại là Việt gian theo Tây mà không ai nhớ tới, hoặc biết tới những đóng góp của ông cho đất nước trong một giai đoạn lịch sử gay go tang tóc vào những năm cuối cùng của thập niên 40 và những năm đầu thập niên 50. Sự thực thì những thành quả ấy phần thì đã lùi vào dĩ vãng từ hơn nửa thế kỷ qua, phần vì ít có người chịu ghi chép lại nên người ta coi như ông không có công trạng gì cho đất nước.
Ông Đoàn Thêm, một vị công chức cao cấp của chính phủ Quốc gia Việt Nam thời đó và sau này dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, đã bỏ công ghi lại những việc từng ngày để giúp cho đời sau tìm hiểu thời cuộc. Ông cũng soạn hai cuốn Những Ngày Chưa Quên, Quyển thượng từ 1939-1954 và Quyển hạ từ 1954-1963 để ghi chép một cách vô tư các biến cố lịch sử theo lối biên niên. Sau khi đã ghi chép những kết quả tốt đẹp của giải pháp Bảo Đại, ông có đôi lời tâm tình như sau.
"Những tài liệu kể trên đã do tôi thâu thập giữa năm 1955, khi những trào lưu phản đối Quốc Trưởng Bảo Đại đương ào ạt lan tràn. Nhiều tờ báo chứa đầy căm hờn với những lời đả kích dữ dội. Vấn đề gạt ông được chính thức đặt ra, ai nấy đều tin rằng ông không thể đứng vững. Riêng tôi thấy ông cũng nên lùi.
Song đối với kẻ đem tâm thành tìm hiểu việc nước thiết nghĩ bình tĩnh nhận xét là điều kiện ưu tiên để tới gần sự thật. Nên tôi đã lặng lẽ kiểm điểm một mình công cuộc của ông và của một lớp người, để tự soi sáng cho tôi. Vì đối với bất cứ nhân vật hay chánh thể nào, tôi không muốn nghĩ ác vì tưởng lầm, hoặc nói ác vì không biết rõ."
Theo những ghi chép vô tư không thiên kiến của ông Đoàn Thêm, chúng ta thấy giải pháp Bảo Đại đã mang lại cho tình hình chính trị, xã hội, kinh tế... nước ta những năm 1948, 49, 50, 51... nhiều thành quả tốt đẹp, Bảo Đại đã là người có công gây dựng chính Phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên.
Từ 1949 cho tới 1975, nước Việt Nam tự do, dân chủ đã trải qua ba thời kỳ chính quyền lâu dài: Bảo Đại 1949-1954, năm năm; Ngô Đình Diệm 1954-1963; chín năm, Nguyễn Văn Thiệu 1967-1975, tám năm. Chúng ta thấy cả ba chính quyền ấy đều đã có những việc làm tốt đẹp lúc đầu và sau cùng lại bị nhân dân lên án có tội. Bảo Đại có công gây dựng chính thể Quốc Gia Việt Nam đầu tiên nhưng đến 1955 lại bị kết án theo Tây. Ngô Đình Diệm có công thống nhất miền Nam nhưng sau 1-11-1963 lại bị báo chí chửi rủa cả năm trời về đủ thứ tội nào độc tài gia đình trị, đàn áp Phật giáo, thủ tiêu những người đối lập... Nguyễn Văn Thiệu đã ổn định được tình hình chính trị nhiễu nhương, chấm dứt nạn biểu tình tuyệt thực, tích cực chống Cộng Sản xâm lăng nhưng đến cuối trào lại bị lên án tham nhũng thối nát và sai lầm trong di tản chiến thuật đưa miền Nam tới sự sụp đổ tan tành.
Mấy năm sau khi bị lật đổ, ông Diệm đã được nhiều người bênh vực và nhìn nhận ông đã có công xây dựng miền Nam vững mạnh một thời. Nay ông Thiệu cũng đã được người ta bênh vực, họ bảo mất nước là tại Đồng minh tháo chạy chứ không phải tại ông sai lầm. Riêng về ông Bảo Đại là bậc khai quốc công thần, người đã có công gây dựng chính phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên thì hầu như chẳng thấy ai nói tới. Một phần vì người ta có thành kiến về ông, phần vì ông mất gốc bỏ xứ lưu vong nên ít ai biết tới những thành quả công việc ông đã làm. Mục đích bài này không phải để bênh vực cho ông Bảo Đại mà chỉ là một cái nhìn tổng quát về một giải pháp tốt đẹp trong những bước đầu thành lập một nước Việt Nam Tự Do.
Bảo Đại tên Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, sinh 22-10-1913 tại Huế, mất ngày 31-7-1997 tại Paris, con vua Khải Định và bà Từ Cung. Năm 1922 Hoàng Tử được vợ chồng cựu Khâm sứ Charles đưa về Pháp nuôi và cho đi học. Năm 1925 vua Khải Định băng hà, năm sau Hoàng tử Vĩnh Thụy 13 tuổi được đưa về nước lên ngôi kế vị vua cha lấy niên hiệu Bảo Đại, là vua thứ 13 củaTriều Nguyễn rồi lại sang Pháp tiếp tục việc học. Sau khi tốt nghiệp ngành chính trị học năm 1932 ông về nước chính thức lên làm vua. Tháng 3 năm 1933 Bảo Đại làm lễ thành hôn với cô Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà lên làm Nam Phương Hoàng Hậu, bà người miền Nam, theo Thiên chúa giáo và mang quốc tịch Pháp. Du học tại Pháp về, với tinh thần tiến bộ Bảo Đại đã thực hiện được nhiều cải cách như bãi bỏ chế độ cung tần, thứ phi, bỏ tục bắt dân quì lạy, các quan Tây vào chầu không phải xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy, ông cũng cải tổ bộ máy hành chánh.
Ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính pháp tại Đông Dương, chỉ trong một đêm chế độ thực dân Pháp hoàn toàn sụp đổ. Đại sứ Nhật yết kiến nhà vua và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Bảo Đại bèn tuyên bố độc lập ngày 10-3-1945 và gia nhập khối Đại Đông Á, nhà vua ra tuyên ngôn độc lập ngày 11-3-1945. Ông mời Giáo sư Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng thành lập nội các ngày 17-4-1945, lấy bài Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước làm quốc ca, lấy cờ vàng quẻ ly gồm hai vạch liền và một gạch gẫy ở giữa làm quốc kỳ.
Ngày 10-8-1945 Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Thủ Tướng Trần Trọng Kim xin từ chức ngày 7-8 vì bất lực, chính phủ không có quân đội. Khi ấy tình hình trong nước rất lộn xộn, Khâm Sai đại thần Phan Kế Toại của triều đình tại Hà Nội đã liên lạc với các đảng phái quốc gia để tìm phương cứu nước nhưng Trung ương các đảng ở tận Trung Hoa. Ngày 17-8 nhà vua gửi công văn tới các nhà lãnh tụ Đồng Minh như Truman, Churchill, De Gaule, Tưởng Giới Thạch... để xin họ công nhận nền độc lập của Việt Nam nhưng không có ai trả lời.
Chiều ngày 17-8 tại Hà Nội, Tổng Hội công chức tổ chức biểu tình trước nhà Hát lớn để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi chủ quyền, Việt Minh trà trộn trong đám biểu tình phất cờ đỏ sao vàng cướp chính quyền. Mấy ngày sau tại Huế phong trào Việt Minh bừng bừng nổi dậy, những cận thần, nội các Trần Trọng Kim cũng biến đâu mất vì sợ hãi. Đại sứ Nhật xin yết kiến nhà vua và Thủ tướng Trần Trọng Kim để xin dẹp loạn, tái lập trật tự, giữ ngôi Thiên tử cho Hoàng đế Bảo Đại theo lệnh của Tokyo, ông ta cho biết mặc dù nước Nhật đã đầu hàng Đồng minh nhưng quân đội Nhật vẫn có nhiệm vụ giữ gìn trật tự cho tới khi Đồng Minh vào tiếp thu giải giới, điều đáng tiếc là nhà vua và Thủ tướng đã từ chối sự giúp đỡ của họ.
"Là vị vua chấp chính gắn liền với một giai đoạn quan trọng của lịch sử Việt Nam, rồi trở thành một cựu hoàng lưu vong tại Pháp, ông là một vị vua không được sử gia, học giả hay giới truyền thông có nhìn nhận ưu ái về các đóng góp của ông cho đất nước Việt Nam"
Thật vậy, nhân cái chết của cựu hoàng ngày 31-7-1997 tại Pháp, một số giáo đường và Hội đoàn hải ngoại có tưởng niệm ông như một vị vua Việt Nam cuối cùng, nhiều báo chí, đài phát thanh đã đề cập tới cuộc đời của ông nhưng tịnh không nghe thấy ai nói tới những thành quả, công trạng của ông trong các giai đoạn làm vua, chấp chính. Trên tờ Văn nghệ Tiền Phong tại Virginia năm 1997, một độc giả lên án Bảo Đại là Việt Gian, năm 1955 ông đã dung dưỡng Bình Xuyên, Ba Cụt, Năm Lửa... phá rối tình hình chính trị miền Nam. Thật vậy, đã một thời kỳ ông bị toàn dân lên án là theo Tây, người ta đã tổ chức những cuộc biểu tình tố cáo ông làm tay sai cho Thực dân, cấu kết với những tổ chức phá hoại đất nước như Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Bình Xuyên, Năm Lửa, Ba Cụt, Nguyễn Văn Vỹ...
![]() |
![]() |
|
Lễ đăng quang của vua Bảo Ðại. Nguồn: nguyentl.free.fr |
Có lẽ vì người ta mải mê lên án Bảo Đại là Việt gian theo Tây mà không ai nhớ tới, hoặc biết tới những đóng góp của ông cho đất nước trong một giai đoạn lịch sử gay go tang tóc vào những năm cuối cùng của thập niên 40 và những năm đầu thập niên 50. Sự thực thì những thành quả ấy phần thì đã lùi vào dĩ vãng từ hơn nửa thế kỷ qua, phần vì ít có người chịu ghi chép lại nên người ta coi như ông không có công trạng gì cho đất nước.
Ông Đoàn Thêm, một vị công chức cao cấp của chính phủ Quốc gia Việt Nam thời đó và sau này dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, đã bỏ công ghi lại những việc từng ngày để giúp cho đời sau tìm hiểu thời cuộc. Ông cũng soạn hai cuốn Những Ngày Chưa Quên, Quyển thượng từ 1939-1954 và Quyển hạ từ 1954-1963 để ghi chép một cách vô tư các biến cố lịch sử theo lối biên niên. Sau khi đã ghi chép những kết quả tốt đẹp của giải pháp Bảo Đại, ông có đôi lời tâm tình như sau.
"Những tài liệu kể trên đã do tôi thâu thập giữa năm 1955, khi những trào lưu phản đối Quốc Trưởng Bảo Đại đương ào ạt lan tràn. Nhiều tờ báo chứa đầy căm hờn với những lời đả kích dữ dội. Vấn đề gạt ông được chính thức đặt ra, ai nấy đều tin rằng ông không thể đứng vững. Riêng tôi thấy ông cũng nên lùi.
Song đối với kẻ đem tâm thành tìm hiểu việc nước thiết nghĩ bình tĩnh nhận xét là điều kiện ưu tiên để tới gần sự thật. Nên tôi đã lặng lẽ kiểm điểm một mình công cuộc của ông và của một lớp người, để tự soi sáng cho tôi. Vì đối với bất cứ nhân vật hay chánh thể nào, tôi không muốn nghĩ ác vì tưởng lầm, hoặc nói ác vì không biết rõ."
Theo những ghi chép vô tư không thiên kiến của ông Đoàn Thêm, chúng ta thấy giải pháp Bảo Đại đã mang lại cho tình hình chính trị, xã hội, kinh tế... nước ta những năm 1948, 49, 50, 51... nhiều thành quả tốt đẹp, Bảo Đại đã là người có công gây dựng chính Phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên.
Từ 1949 cho tới 1975, nước Việt Nam tự do, dân chủ đã trải qua ba thời kỳ chính quyền lâu dài: Bảo Đại 1949-1954, năm năm; Ngô Đình Diệm 1954-1963; chín năm, Nguyễn Văn Thiệu 1967-1975, tám năm. Chúng ta thấy cả ba chính quyền ấy đều đã có những việc làm tốt đẹp lúc đầu và sau cùng lại bị nhân dân lên án có tội. Bảo Đại có công gây dựng chính thể Quốc Gia Việt Nam đầu tiên nhưng đến 1955 lại bị kết án theo Tây. Ngô Đình Diệm có công thống nhất miền Nam nhưng sau 1-11-1963 lại bị báo chí chửi rủa cả năm trời về đủ thứ tội nào độc tài gia đình trị, đàn áp Phật giáo, thủ tiêu những người đối lập... Nguyễn Văn Thiệu đã ổn định được tình hình chính trị nhiễu nhương, chấm dứt nạn biểu tình tuyệt thực, tích cực chống Cộng Sản xâm lăng nhưng đến cuối trào lại bị lên án tham nhũng thối nát và sai lầm trong di tản chiến thuật đưa miền Nam tới sự sụp đổ tan tành.
Mấy năm sau khi bị lật đổ, ông Diệm đã được nhiều người bênh vực và nhìn nhận ông đã có công xây dựng miền Nam vững mạnh một thời. Nay ông Thiệu cũng đã được người ta bênh vực, họ bảo mất nước là tại Đồng minh tháo chạy chứ không phải tại ông sai lầm. Riêng về ông Bảo Đại là bậc khai quốc công thần, người đã có công gây dựng chính phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên thì hầu như chẳng thấy ai nói tới. Một phần vì người ta có thành kiến về ông, phần vì ông mất gốc bỏ xứ lưu vong nên ít ai biết tới những thành quả công việc ông đã làm. Mục đích bài này không phải để bênh vực cho ông Bảo Đại mà chỉ là một cái nhìn tổng quát về một giải pháp tốt đẹp trong những bước đầu thành lập một nước Việt Nam Tự Do.
|
| Hoàng tử Vĩnh Thuỵ. Nguồn: nguyentl.free.fr |
Bảo Đại tên Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, sinh 22-10-1913 tại Huế, mất ngày 31-7-1997 tại Paris, con vua Khải Định và bà Từ Cung. Năm 1922 Hoàng Tử được vợ chồng cựu Khâm sứ Charles đưa về Pháp nuôi và cho đi học. Năm 1925 vua Khải Định băng hà, năm sau Hoàng tử Vĩnh Thụy 13 tuổi được đưa về nước lên ngôi kế vị vua cha lấy niên hiệu Bảo Đại, là vua thứ 13 củaTriều Nguyễn rồi lại sang Pháp tiếp tục việc học. Sau khi tốt nghiệp ngành chính trị học năm 1932 ông về nước chính thức lên làm vua. Tháng 3 năm 1933 Bảo Đại làm lễ thành hôn với cô Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà lên làm Nam Phương Hoàng Hậu, bà người miền Nam, theo Thiên chúa giáo và mang quốc tịch Pháp. Du học tại Pháp về, với tinh thần tiến bộ Bảo Đại đã thực hiện được nhiều cải cách như bãi bỏ chế độ cung tần, thứ phi, bỏ tục bắt dân quì lạy, các quan Tây vào chầu không phải xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy, ông cũng cải tổ bộ máy hành chánh.
Ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính pháp tại Đông Dương, chỉ trong một đêm chế độ thực dân Pháp hoàn toàn sụp đổ. Đại sứ Nhật yết kiến nhà vua và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Bảo Đại bèn tuyên bố độc lập ngày 10-3-1945 và gia nhập khối Đại Đông Á, nhà vua ra tuyên ngôn độc lập ngày 11-3-1945. Ông mời Giáo sư Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng thành lập nội các ngày 17-4-1945, lấy bài Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước làm quốc ca, lấy cờ vàng quẻ ly gồm hai vạch liền và một gạch gẫy ở giữa làm quốc kỳ.
![]() |
| Chân dung Vua Bảo Đại, Hoàng hậu Nam Phương và Thái tử Nguyễn Phúc Bảo Long. Đây là vị Hoàng đế, Hoàng hậu và Thái tử cuối cùng của Nguyễn Triều và của Việt Nam. Nguồn: picasaweb.google.com |
Ngày 10-8-1945 Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Thủ Tướng Trần Trọng Kim xin từ chức ngày 7-8 vì bất lực, chính phủ không có quân đội. Khi ấy tình hình trong nước rất lộn xộn, Khâm Sai đại thần Phan Kế Toại của triều đình tại Hà Nội đã liên lạc với các đảng phái quốc gia để tìm phương cứu nước nhưng Trung ương các đảng ở tận Trung Hoa. Ngày 17-8 nhà vua gửi công văn tới các nhà lãnh tụ Đồng Minh như Truman, Churchill, De Gaule, Tưởng Giới Thạch... để xin họ công nhận nền độc lập của Việt Nam nhưng không có ai trả lời.
Chiều ngày 17-8 tại Hà Nội, Tổng Hội công chức tổ chức biểu tình trước nhà Hát lớn để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi chủ quyền, Việt Minh trà trộn trong đám biểu tình phất cờ đỏ sao vàng cướp chính quyền. Mấy ngày sau tại Huế phong trào Việt Minh bừng bừng nổi dậy, những cận thần, nội các Trần Trọng Kim cũng biến đâu mất vì sợ hãi. Đại sứ Nhật xin yết kiến nhà vua và Thủ tướng Trần Trọng Kim để xin dẹp loạn, tái lập trật tự, giữ ngôi Thiên tử cho Hoàng đế Bảo Đại theo lệnh của Tokyo, ông ta cho biết mặc dù nước Nhật đã đầu hàng Đồng minh nhưng quân đội Nhật vẫn có nhiệm vụ giữ gìn trật tự cho tới khi Đồng Minh vào tiếp thu giải giới, điều đáng tiếc là nhà vua và Thủ tướng đã từ chối sự giúp đỡ của họ.
Rỉ Tai
Các loạt bài/Article Series
This article is part 1 of a 2 part series. Other articles in this series are shown below:
-
Giải pháp Bảo Đại [1]




