Kuku, nhật ký thăm lại hòn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần 3)
Nhìn lên đỉnh đồi phủ mờ mây trắng như một giải khăn tang nghìn trùng xa cách khi chiếc tàu Cao ủy rời xa dần Kuku, anh đã thầm nói lời từ biệt với chị và hẹn ngày trở lại. Và hôm nay, hăm bảy năm sau, anh đã giữ tròn lời hẹn...
Nhóm thứ nhì là “Nhà họ Huỳnh”, gồm hai anh em Thế Trung - Thế Minh và Bảo Thanh (vợ của Thế Minh) từ Sydney, Úc. Sự tham gia của ba anh em vào chuyến đi cũng là một chuyện ngẫu nhiên. Chỉ vài tuần trước khi lên đường, Minh tình cờ nghe được bản tin trên một đài phát thanh địa phương về chuyến đi Kuku. Ngăn kéo ký ức từ lâu phủ bụi bỗng như được thổi một làn gió mạnh, hiện ra nguyên vẹn những kỷ niệm của một thời thơ ấu...
Hai anh em Trung và Minh ngày ấy chỉ là những thiếu niên 14 - 16 tuổi, ăn chưa no lo chưa tới, nhưng đã nhận biết và nếm trải cuộc đời tỵ nạn gian truân trên hòn đảo này. Hơn nữa, Kuku là nơi gửi thân của người cha vì một cơn bạo bệnh sau khi ông thực hiện ước mơ của đời mình là đưa được mấy đứa con đến bờ tự do. Không một ngày chần chờ, Trung và Minh thu xếp nhanh gọn công việc và ghi danh tham gia chuyến đi ngay sau đó. Để cho chắc ăn, nhóm “Nhà họ Huỳnh” này còn nằng nặc đòi được... đóng tiền trước vì sợ “lỡ tàu”. Họ đã chờ đợi cơ hội này từ bao nhiêu năm rồi...
Trung - Minh - Thanh lên đường với sự chuẩn bị khá đầy đủ và một tâm trạng náo nức, tin tưởng. Trước ngày đến điểm “tập kết” ở Singapore, cả ba cũng đã ghé Mã Lai để báo tin cho người bà con duy nhất còn sống của giòng họ về ý định bốc mộ và hỏa thiêu di hài của cha. Mấy anh em còn nhớ khá rõ vị trí mộ phần của cha bên ngôi chùa cạnh dòng suối và những mốc điểm dễ nhận quanh đó. Họ cũng có thời gian lưu lại đảo khá lâu sau cái chết của cha và hàng ngày đều đến thắp nhang cầu nguyện. Trong ba nhóm tìm mộ, có lẽ Nhà họ Huỳnh là nhóm có triển vọng thành công cao nhất.
Nhóm thứ ba là “Bố vợ con rể” từ Atlanta, Mỹ: David Lý và... Hồ Tặc (vâng, chính “bác” đấy! Thật ra, bác tên Hồ Tắc, nhưng anh chị em trong đoàn cứ thuận miệng gọi trại đi cho... khỏi phạm húy. Được cái là bác không hề giận mà còn cười khanh khách khi “bị” so sánh với... người kia). Bác Hồ Tắc tham gia chuyến đi là để “hỗ trợ tinh thần cho thằng rể” về Kuku tìm mộ của mẹ và cũng để thăm lại đảo Air Raya (kế cận Kuku), nơi bác được vớt vào sau chuyến vượt biển hãi hùng ba mươi năm trước.
David cũng là một cựu thuyền nhân tỵ nạn, nhưng anh đến trại Bidong ở Mã Lai chứ không phải Kuku. Gia đình anh chia nhau thành nhiều toán vượt thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển và đã đến các trại khác nhau. Mẹ anh và một người dì đến Kuku, quãng năm 1980, khi ấy David còn là một cậu bé chưa đầy 10 tuổi. Mẹ anh đã vĩnh viễn nằm lại trên đảo sau một cơn bệnh - và người dì, bây giờ chẳng còn nhớ gì nhiều về vị trí chôn cất của chị vì bà cũng chỉ tạm cư trên hòn đảo này trong thời gian rất ngắn. Chi tiết duy nhất mà bà còn nhớ và kể lại cho David là mẹ anh được chôn trong một miếng đất bằng, cạnh một cây cổ thụ, bên suối nước nhỏ...
David, một kỹ sư họa đồ kiến trúc nhưng bỏ nghề để làm... đầu bếp và hiện là chủ của nhiều nhà hàng nổi tiếng ở Atlanta, cũng tình cờ biết tin về chuyến đi Kuku khi “mò” lên internet và được giới thiệu đến Văn khố Thuyền nhân VN. Dù không mảy may hy vọng tìm được mộ mẹ nhưng David vẫn nhất định tham dự chuyến đi vì một sự thôi thúc lạ kỳ trong lòng. Bao nhiêu năm qua anh ao ước có dịp đến Kuku để thắp một nén nhang cho người mẹ mà anh chỉ còn nhớ hình ảnh lờ mờ trong ký ức tuổi thơ.
Hành trang anh mang theo trong chuyến đi tìm mộ chỉ là một tờ giấy viết tay ghi tên họ, ngày tháng sinh tử của mẹ bằng tiếng Hoa (mà chính anh cũng không biết đọc) và hai chiếc va-ly lớn chứa đầy vàng mã để cúng vong cho những thuyền nhân Việt Nam nằm lại ở xứ người...
Nghe chuyện của David, mọi người trong đoàn đều cảm động nhưng cũng vui mừng về tấm lòng của một đứa con, dù lớn lên ở đất nước thực dụng mà các giá trị tinh thần bị xếp hạng dưới xa sự thành công về vật chất nhưng vẫn giữ trọn đạo hiếu nghĩa với đấng sinh thành.
Sau màn điểm danh và dặn dò, chúng tôi xếp hàng một đi lên đồi theo những người hướng dẫn địa phương. Bao nhiêu cãi cọ trong nhóm trước ngày lên đường chỉ trong phút chốc đã “gửi gió cho mây ngàn bay” vì chẳng ai dám hó hé gì nữa về trí nhớ chắc như cua gạch của mình về địa hình trên đảo. Cứ ngậm miệng mà bước theo mấy ông Nam Dương đen nhẻm này cho chắc ăn!
Vượt qua một bãi cỏ tranh khá rộng - mà chúng tôi được cho biết từng là bệnh xá và khu barracks cũ - nhóm dẫn đường bắt đầu chặt cây đốn cành mở lối lên đồi. Đường dốc và ẩm ướt nên họ vạt cho mỗi người chúng tôi một cây gậy đi rừng, như kiểu gậy của các hướng đạo sinh, dài khoảng hơn một mét, vừa để chống tay nghỉ mệt vừa để chống... thú rừng. (Hú vía, chúng tôi đã không gặp một con kỳ đà hoặc khỉ đột nào cả, dù vài người đã kể lại một cách quả quyết về sự hiện diện của các giống thú này trên đảo). “Cái chân thứ ba” đó đã nhiều phen cứu nguy những bàn thua trông thấy khi một số người trong đoàn suýt trượt ngã hoặc mất thăng bằng qua các khúc quanh trơn trợt. Vậy mà những người dẫn đường cứ tỉnh queo vọt tới, chân trần phom phom và vai vác cả chục ký hành lý...
Dù mệt lè cả lưỡi khi lên đến bãi đáp trực thăng (có lẽ chỉ ông già viết bài này cảm thấy như vậy thôi, chứ các bạn trẻ trong đoàn vẫn còn... gân lắm!), chúng tôi nhanh chóng bày ra lễ phẩm để cầu nguyện tập thể cho vong linh thuyền nhân VN nằm lại trên đảo. Tuy đã từng vài lần tham dự những nghi thức tương tự nhưng tôi chưa hề chứng kiến “một buổi lễ cầu nguyện quốc tế” không giống ai nhưng lại hòa hợp đến trọn vẹn như thế! Ngoài kinh kệ chuông mõ được Ban tổ chức chuẩn bị sẵn từ Úc, chiếc chiếu hoa mới toanh trải trên nền xi-măng giữa trời thay cho bàn lễ là của Đình Chấn đưa sang từ Đức, vàng mả và lễ phẩm cúng vong do bạn trẻ David đóng thùng mang theo từ Mỹ, bánh kẹo và hoa quả do các chị mua ở chợ Terempah từ hôm trước, thậm chí có cả những ổ bánh chưng (thứ thực phẩm mà người vượt biên thường mang theo) và mấy lít rượu đế của Tài và Tước mang từ Việt Nam... Và cả những cành hoa rừng Kuku nữa! Tất cả những lễ phẩm này đều không có sự xếp đặt trước, mỗi người cứ tùy lòng mà lo liệu, nhưng lại ăn khớp như một lời đồng thanh mời gọi những linh hồn mồ côi cùng về chứng tri buổi lễ cầu nguyện...
Giữa lúc cả đoàn đang quây quần làm lễ, chúng tôi bỗng nghe tiếng kêu thảng thốt “Anh Triệu ơi... Anh Triệu!” của Tài từ sau lưng đồi, cách địa điểm cầu nguyện không xa. Mọi người dừng ngay các việc đang làm và hướng mắt về phía tiếng kêu với vẻ lo ngại hiện lên khuôn mặt. Trong đầu, ai cũng thoáng nghĩ đến chuyện rủi ro hoặc tai nạn. Nhưng dường như tiếng kêu không phải là sự báo nguy vì nó toát ra một âm thanh ngạc nhiên và mừng rỡ. Chắc là...
Anh Triệu cũng đoán thế! Anh, Tước và tôi cùng vài người địa phương cầm dao rựa và gậy gộc băng tới nơi phát xuất tiếng kêu, chỉ cách bãi trực thăng khoảng trăm mét bên mé phải, vừa mở đường vừa gọi tên để định hướng. Tiếng đáp của Tài vọng lại mồn một cả góc rừng yên tĩnh đã làm xúc động cho cả đoàn: “Tìm thấy mộ rồi, anh Triệu ơi!”
Ngay bên dưới sườn đồi khá dốc, Tài đứng đó, trước một tấm bia đá ghi rõ họ tên người chị vợ quá cố, khuôn mặt còn ràn rụa thương cảm và vui mừng. Anh Triệu, sau thời gian đăng đẳng chôn kín nỗi sầu thương trong lòng, đã không ngăn giữ được nữa cảm xúc của mình. Anh gần như ngã khụy xuống, để mặc cho dòng nước mắt tái ngộ dâng trào. Một số người khác trong đoàn cũng vừa kéo đến, chúng tôi ôm nhau chia sẻ niềm hạnh phúc đoàn tụ của anh, dưới bóng những thân cây cao che rợp nắng trưa và tiếng chim hòa điệu bản đàn thôn dã...
Vì sợ không đủ thời gian trên đảo trong ngày đầu tiên nên Tài đã tách đoàn để tranh thủ tìm mộ chị Cecile Hoàng Thu Minh lúc mọi người còn đang chuẩn bị lễ cầu nguyện. Dù chưa đến Kuku lần nào (thật ra, đây là lần đầu tiên hai anh em cột chèo Tài và Tước rời Việt Nam ra nước ngoài) nhưng những câu chuyện nghe kể lại trong gia đình và lòng thương cảm đối với người “chèo lái” mà họ coi như anh ruột, Tài đã quyết định “xé lẻ” để thực hiện ý định của mình. Hơn nữa, anh cũng có một ít kinh nghiệm về chuyện đi tìm mộ ở Việt Nam nên đã khá dễ dàng xác định được địa điểm chôn cất của người chị vợ. Và kết quả đã đến một cách không ngờ...
Ngay cả anh Triệu cũng không ngờ. Trước chuyến đi, anh chỉ mơ hồ hồi tưởng những chi tiết rời rạc về vị trí mộ phần của người vợ đầu (anh đã tục huyền khi định cư ở Úc nhiều năm sau khi đoạn tang) vì lúc mai táng anh hầu như không còn thần trí để ghi nhớ mọi chuyện. Những di vật còn lại của biến cố bi thương trong đời đó mà anh mang theo trong chuyến đi chỉ là vài tấm hình đã phai màu của những người bạn cùng ghe đang đứng cầu nguyện trước ngôi mộ của chị, lúc đó không có cả tấm bia đá được khắc tên rõ ràng như bây giờ. Với anh, sự tìm thấy ngôi mộ - và tấm bia anh chưa một lần nhìn thấy - là cả một phép lạ, dù nó đã nằm trong tiềm thức của anh từ hơn phần tư thế kỷ qua.
Anh Triều kể lại rằng sau khi rời đảo một cách vội vàng vì hoàn cảnh không cho phép nấn ná thêm, anh được biết những người bạn còn ở lại đã lập tấm bia cho chị theo ước nguyện của anh. Anh đã viết thư kể chuyện này cho gia đình chị nhưng lại quên bẵng chi tiết quan trọng đó khi chuẩn bị lên đường về Kuku. Nhưng Tài lại nhớ và nhờ đó, đã tìm được. Ký ức của anh, như một cuốn phim cũ được quay chậm lại, dần dần hiện ra nguyên vẹn và rõ ràng, dù qua màn lệ nhòe nhoẹt dưới mái đầu đã nhuốm phong sương...
Ngày rời Kuku 27 năm trước trên chiếc tàu Cao ủy đi đến trại Galang cùng khoảng 450 người khác, anh đã dõi mắt lên đỉnh núi và khấn thầm trong lòng: “Anh đã đưa em đi. Anh sẽ đưa em về!” Ngày mai, anh Triệu và chúng tôi sẽ trở lại để cùng bốc mộ chị đưa về đất mẹ, về với gia đình và bạn bè theo ý nguyện của anh.
Trong khi anh Triệu vẫn còn chưa nguôi thương cảm, Tài và Tước đã chu đáo sắp xếp những phong bánh và bình sữa cho đứa cháu chưa ra đời trên chiếc hộp giấy đơn sơ trước phần mộ của người chị vợ. Hai anh em cột chèo cũng kịp thời thông báo qua điện thoại di động về tin vui này đến những người thân ở Hoa Kỳ và Việt Nam đang ngày đêm cầu nguyện và mong đợi. Những tiếng nấc nghẹn hạnh phúc và lời tạ ơn vọng lại từ cả hai bờ đại đương đến khu rừng tịch mịch mênh mông này khiến ai cũng rưng rưng...
Lúc ấy, buổi lễ chung tại bãi trực thăng cũng vừa dứt. Anh Trưởng đoàn cùng mọi người kéo đến hiệp lời cầu nguyện cho Cecile. Trước phần mộ của chị, anh Trưởng đoàn đốt nén nhang khấn vái: “Chị Thu Minh ơi, tôi thay mặt cho cả đoàn xin được chúc mừng cho chị. Anh Triệu và gia đình đã tìm kiếm chị từ bao nhiêu năm nay đến bây giờ mới đủ duyên lành để hội ngộ. Kính cầu nguyện cho linh hồn chị yên nghỉ ở nước Chúa. Ngày mai, chúng tôi sẽ trở lại và kính xin được rước hài cốt của chị về với gia đình. Xin được báo tin với chị và mong chi giúp cho đoàn tìm được các mồ mả thuyền nhân VN khác trên đảo...”
Chúng tôi đứng bên nhau cùng dâng lời cầu nguyện cho linh hồn người quá cố được thảnh thơi nơi cõi vĩnh hằng và chúc mừng sự đoàn tụ của anh chị, trong ý nghĩa thiêng liêng về sự kết hợp của Thiên Chúa. Những bản thánh ca, lời kinh Lạy Cha và Kính Mừng cất lên, dịu dàng và an ủi, như thấp thoáng trong bóng mát cây rừng Kuku nụ cười xum họp của Cecile.
Sau nghi thức ngắn ngủi nhưng đầy xúc động, chúng tôi xuống đồi tiếp tục tìm kiếm những ngôi mộ khác. Nắng gắt buổi trưa và năng lượng bị tiêu hao trong chuyến leo đồi buổi sáng đã làm cho nhiều người thấm mệt nhưng ai nấy vẫn tỏ ra “dư sức qua cầu” sau tin vui của Băng 3T. Lại nữa, cả đoàn vừa được bơm một liều vitamin độc đáo và đúng lúc: một chục ổ bánh chưng và dưa món do Tài và Tước cắc củm mang (lén) sang từ Sài Gòn để “đãi” anh chị em... Việt kiều trên đất khách. (Quý hóa lắm, cái tình đồng bào rất đậm đà trong lối nghĩ và cách thương cho nhau! Cám ơn hai bạn nhiều nhé. Có dịp sang Úc, tôi sẽ mời lại món kangaroo nướng khói độc đáo của quê hương thứ hai của tôi!).
Thật ra, công ty du lịch đã chuẩn bị phần ăn trưa đầy đủ cho đoàn nhưng chúng tôi nhường mấy chục hộp mì xào ớt đó cho khoảng 20 người địa phương đi cùng để thưởng thức hương vị quê nhà ở nơi “trời quen đất lạ” này.
Sau bữa ăn “tay cầm” dã chiến trên đỉnh đồi, đoàn chia ra làm hai nhóm để tìm kiếm và ghi nhận vị trí các ngôi mộ thuyền nhân VN trên đảo. Trần Lão Gia dẫn một nhóm đi “quần” các khu vực trước đây có nhiều người được chôn cất. Tôi tình nguyện dẫn nhóm thứ nhì tìm mộ của “Nhà họ Huỳnh” theo bản đồ trí nhớ của mình căn cứ trên những chi tiết được hai anh em Thế Trung - Thế Minh kể lại. David Lý (và “bác Hồ” bố vợ) cũng theo nhóm của tôi để... cầu may, vì thật sự anh hoàn toàn không biết vị trí ngôi mộ của mẹ. Cả hai nhóm đều có người địa phương hướng dẫn và khuân vác giúp những vật dụng cúng tế.
Sau khoảng một giờ “trượt đồi” và băng qua vạt cỏ tranh cao gần đầu người, nhóm chúng tôi đến một khu rừng thưa. Tôi quyết định cho nhóm nghỉ chân tại bãi trống cạnh một con suối cạn để bà con phục hồi công lực trước khi... chống gậy lê bước đi tiếp về hướng ngôi chùa theo lời chỉ dẫn của những người địa phương. Trong lúc cả nhóm (trong đó có cả một sĩ quan cảnh sát và một người lính đi theo bảo vệ an ninh) giải lao cà-phê thuốc lá, vài người bỗng phát giác có nhiều ngôi mộ rãi rác quanh bãi đất trống này. Thật ra, đó chỉ là những hòn đá đã xanh rêu được xếp thành hình bầu dục hoặc hình chữ nhật do bàn tay con người, một phần bị lún sâu xuống đất sau bao mùa mưa nắng. Nhưng rõ ràng, đó là những ngôi mộ thuyền nhân vì một số tấm bia có sơn hoặc khắc danh tính của người chết bằng tiếng Việt và tiếng Hoa, được tạo dựng trong khoảng thời gian người tỵ nạn lưu ngụ trên đảo.
Chúng tôi quên cả mệt, lập tức giăng giây làm dấu địa điểm và bắt đầu chụp hình, đốt nhang tại những ngôi mộ tìm thấy. Út Tuấn Hùng quay phim hết toàn cảnh khu vực này, trong lúc David và những anh chị khác bày biện lễ phẩm cúng tế. Chúng tôi tiếp tục sục sạo chung quanh với hy vọng tìm thêm được các ngôi mộ khác. Tất cả đều cầu nguyện thành tiếng để mong nhờ những linh hồn bơ vơ phù trợ cho chúng tôi tìm được nơi gửi thân của họ mà thắp nén nhang tưởng niệm...
Bỗng tôi nghe một tiếng gọi lớn: “Anh Lưu Dân ơi, có một bia mộ nữa nè!” Một dòng điện nửa như rờn rợn nửa như ấm áp chạy dọc sống lưng tôi khi nhìn thấy màu sơn còn đỏ tươi trên phiến đá nằm úp mặt xuống đất vừa được lật lên. Ngay lúc đó, tôi có linh cảm một sự huyền nhiệm lạ lùng đang hiện đến...
Bất chợt, tôi buột miệng gọi: “David, lại đây! Mẹ em tên gì vậy? Có biết ngày sinh, ngày tử của bà không?” Tôi hỏi dồn dập mà không ý thức đến cả việc tấm bia mộ chỉ viết bằng tiếng Hoa, ngôn ngữ mà trong nhóm không ai biết đọc. Bác Hồ Tắc nhanh chân phóng lại, nhưng ông lắc đầu bảo: “Chắc không phải đâu, vì dì nó nói mẹ nó chôn bên cạnh một cây cổ thụ rất lớn mà...”
Dù không tin đó là ngôi mộ của mẹ mình, nhưng David cũng chạy vội đến và suýt té ngã khi anh vấp chân vào một gốc cây bị đốn lìa gần sát đất. Anh lấy ra mảnh giấy viết tay từ chiếc ba-lô đeo vai mấy ngày nay để so chiếu với những chữ trên tấm bia. Bác Hồ Tắc cẩn thận rưới bình nước uống mang theo để rửa sạch bùn đất trên tấm bia và David cũng cởi phăng chiếc áo thun đang mặc để thấm khô vết nước. Bàn tay anh run lên khi dòng chữ càng lúc càng hiện rõ ra trên tấm bia. Với vốn liếng Hán văn nghèo nàn của bác Hồ Tắc và tôi cộng lại khi so chiếu với dòng chữ trên giấy mà David mang theo từ Mỹ, chúng tôi khẳng định đây chính là ngôi mộ của mẹ anh vì tên tuổi, ngày sinh và ngày mất hoàn toàn khớp với nhau. Và gốc cây bị đốn sát đất (có lẽ đã vài năm rồi) suýt làm cho David vấp ngã chính là cây cổ thụ mà người dì ghi nhớ như một điểm mốc về vị trí của ngôi mộ.
Kết quả đến thật bất ngờ như một sự linh hiển trước mắt khiến mọi người trong nhóm chấn động đến sững sờ. Ngay từ đầu chuyến đi, không ai kỳ vọng sẽ tìm được mộ mẹ của David với những chi tiết mù mờ như thế. Ở Kuku có hàng chục con suối và cả triệu cây rừng, biết đâu mà mò. Chúng tôi cũng không có một hướng dẫn cụ thể nào về phương hướng hoặc vị trí để tìm. Ngay cả David và nhạc phụ cũng chưa hề đặt chân đến đây lần nào để có thể hình dung lại khung cảnh gần 30 năm trước. Vậy mà...
Chúng tôi đứng vòng quanh ngôi mộ, ôm nhau trong nỗi nghẹn ngào xúc cảm và chúc mừng anh đạt được ước nguyện. Và David, một doanh nhân thành công đã từng trải qua vô vàn gian nan lăn lóc trên đường đời từ thời niên thiếu mồ côi nơi xứ lạ quê người, chợt ôm mặt khóc rưng rức như một đứa trẻ thất lạc vừa tìm được mẹ...
Chúng tôi bày biện lễ phẩm để thực hiện nghi thức cầu siêu chung cho những người nằm lại nơi đây và giăng giây làm dấu mộ phần mẹ của David để ngày mai trở lại bốc mộ. Làn khói trắng êm đềm tỏa lên từ bãi đất trống giữa núi rừng trùng điệp trên bầu trời xanh thẳm của buổi trưa đáng nhớ ấy đẹp như một bức tranh thoát tục, siêu nhiên. Có lẽ không một họa sĩ nào có thể vẽ được bức tranh đó bằng màu sắc trần gian mà chỉ chúng tôi mới có thể cảm nhận được nó trong lòng...
Như đã ước định trước, tôi thổi những hồi còi báo tin cho nhóm thứ nhất nhưng không được đáp lại. Có lẽ anh Trưởng đoàn còn lặn lội phía bên kia đồi và không nghe thấy. Chặp sau, một người địa phương mà chúng tôi nhờ đi báo tin về đến và cho biết tin vui đã được nhóm của Trần Lão Gia tiếp nhận với sự phấn khởi cao độ. Ít nhất, cho đến giờ phút đó, chúng tôi đã đạt được hai phần ba mục tiêu của chuyến đi ngay trong ngày đầu tiên, một “chỉ tiêu” không người nào dám mơ ước dù ai cũng âm thầm hy vọng. Phần còn lại là... ngon như cơm sườn, vì phần mộ thân phụ của hai anh em Nhà họ Huỳnh có lẽ cũng dễ tìm được với những dấu tích và vị trí khá rõ ràng. Trước chuyến đi, Thế Trung - Thế Minh nói chắc ăn là sẽ tìm được, vì chính hai anh em đã làm mộ cho cha bằng xi-măng vững chắc, cạnh sân chùa, trên sườn đồi, rất dễ tìm...
Chúng tôi lại vượt suối băng rừng lên đồi đến ngôi chùa Phật giáo theo sự dẫn đường của những người địa phương. Trời đã ngã về chiều và không khí trong rừng cũng bắt đầu nhuốm lạnh, muỗi rừng và những thân cây ngã đổ càng làm cho đường đi khó khăn trắc trở hơn.
Ngôi chùa khá rộng ngày xưa chỉ còn trơ nền đất, không còn nhìn ra chánh điện hoặc dấu tích gì của nơi thờ phượng, ngoài hai chiếc thùng phuy cắt ngang một nửa trước đây được dùng làm bồn hoa bây giờ đã hoen rỉ trước bậc tam cấp bên cổng. Cỏ dại và cây rừng đã tràn kín cả vùng khiến chúng tôi không thể mạo hiểm đi xa hơn vài chục mét.
Với những chiếc tu huýt và đèn pin cá nhân, chúng tôi chia thành hai tốp nhỏ bắt đầu tìm kiếm. Theo sự khẳng định của hai anh em họ Huỳnh, ngôi mộ thân phụ của họ nằm ở một vị trí rất gần chung quanh nền chùa. Lớp lá dầy ẩm ướt và những tảng đá rêu phong trơn trợt khiến tốc độ tìm kiếm chậm lại, nhưng đến khi sục sạo giáp vòng khu vực chúng tôi vẫn không tìm thấy. Mỗi lần đi một lần khó, dễ gì có được cơ hội đến đây cả đoàn như thế này. Chúng tôi lại cố gắng lần nữa, soi đèn vào từng gốc cây, lật lên từng hòn đá, cạo sạch từng mảng rêu... nhưng cũng không kết quả. Đành phải ngưng thôi, ngày mai trở lại tìm tiếp.
Nhóm của anh Trưởng đoàn gồm gần chục người (cộng với 4 người dẫn đường địa phương) cũng trèo đèo lội suối mấy đợt mới đến khu vực nghĩa trang phía sau bãi trực thăng. Nhóm này cũng tìm thấy một cụm 5-6 ngôi mộ. Các bia mộ trong cụm này viết bằng tiếng Hoa nên không biết là phần mộ của ai. Sau này tra cứu lại với những bản họa đồ vẽ theo trí nhớ của những người từng ở Kuku trước đây, chúng tôi mới xác định được đây có lẽ là khu vực mai táng dành cho người Hoa. Khu nghĩa trang này cây cối um tùm chứ không được khai quang như khu vực gần chùa hoặc dưới bãi tranh. Anh Trưởng đoàn cũng đã bày ra một bàn thờ lộ thiên cúng tế cho vong linh những người nằm lại trước khi trở về họp mặt với nhóm chúng tôi.
Cả đoàn tập họp kiểm điểm quân số ở bãi biển quãng hơn bốn giờ chiều sau một ngày đã đời với nhang khói, bùn sình và vài chiếc áo rách vì vướng cây, ngã té. Báo cáo sơ khởi từ các nhóm cho thấy quân ta bình yên vô sự (thật ra, có vài người trầy sướt chút đỉnh), kết quả vượt chỉ tiêu (tìm thấy hai trong ba ngôi mộ muốn tìm), thu nhặt được một số di vật (gồm chai lọ, dép, chén...) và quan trọng hơn cả là hàng trăm tấm hình các ngôi mộ thuyền nhân VN ở Kuku.
(Sau chuyến đi, Văn khố Thuyền nhân VN được biết một gia đình ở California, Hoa Kỳ, đã tình cờ nhìn thấy ngôi mộ người con gái của họ tên là Bùi Thị Thu Kiều khi xem cuộc phỏng vấn chị Vân Hải - từ Paris, Pháp quốc - trên đài SBTN và xem hình ảnh chuyến đi trên trang web của Cộng đồng Người Việt ở Paris. Người cha đã nghẹn ngào kể lại rằng chính ông đã tự tay khuân 16 hòn đá từ dưới biển lên khu nghĩa trang để đắp quanh mộ phần của đứa con gái 16 tuổi qua đời hai ngày sau khi lên đảo. Lạ lùng thay, họ tên của cô gái vắn số vẫn còn tươi nét sơn trên chiếc thánh giá bằng gỗ dù đã trải qua hơn phần tư thế kỷ dãi dầu mưa nắng.)
Chúng tôi “tranh thủ nhúng nước” trên bãi Kuku, nhiều người mặc nguyên bộ quần áo lội rừng, bơi ra chiếc ca-nô tốc hành thả neo chờ đợi từ sáng để trở về hậu cứ Letung. Chẳng ai còn nhớ đến “Thằng Mặt đen” hồi sáng, vì sau những gì chúng tôi trải qua ngày hôm nay, mấy thứ vặt vãnh ấy đều là… chuyện ruồi bu.
Buổi tối, chúng tôi được các quan chức trên đảo (gồm đại diện chính quyền, quân đội và cảnh sát) thết đãi một buổi dạ tiệc tiếp tân khá linh đình. Không có mì xào ớt, cơm chiên ớt mà đầy ngập tôm hùm, ghẹ biển, cá tươi... Và có cả chất cay nữa, mà toàn là... thứ thiệt. Lại cái chàng “trùm sò” bấm đốt ngón tay lẩm nhẩm: “Thế này là đủ vốn rồi nhé! Mà chỉ mới nửa đường. Từ giờ, cuộc hành tỏi bao nhiêu là lãi đấy!” Chẳng ai hiểu anh ta hành tỏi giống gì, nhưng mọi người cứ... ngậm miệng mà nhai cái đã!
Giữa những lời chào mừng vui vẻ, bát đũa xôn xao và tiếng nhạc xập xình, chuông điện thoại của anh Trưởng đoàn cứ reo liên tục. Rất may, dù cách xa đất liền nhưng nơi đây không nằm “ngoài vùng phủ phê” mà còn lọt “trong vùng phủ song” nên vẫn liên lạc được với... thế giới bên ngoài. Các đài phát thanh Á châu Tự do RFA, BBC London và Little Saigon Radio gọi đến tới tấp để phỏng vấn về chuyến đi nhớ đời này. Trần Lão Gia cứ như... gà mắc đẻ, vì ổng vừa tiếp khách vừa trả lời các câu hỏi, vừa ngoắc người này vừa lôi kẻ nọ đến để kể lại những câu chuyện của họ với thính giả khắp năm châu.
Buổi tiệc rồi cũng tàn theo những đôi mắt nhướng hết lên và những bộ giò rã rời đang tìm nơi giãn gân. Lúc ấy đã gần hai giờ sáng...
Ngày 4 (13.04 Kuku - Letung): Hạnh ngộ tuyệt vời
Giấc ngủ thẳng cẳng và chầu điểm tâm “cải cách” với cháo cá và bún gà do bác Hồ Tắc (chủ nhà hàng ở Atlanta) đích thân vào bếp đã nạp đầy lại năng lượng tiêu hao trong mấy ngày qua. Tiếng cười đùa rộn ràng làm xao động không khí yên tĩnh của chiếc quán nhỏ trong ngôi làng chài hiền hòa này. Sự thân thiện và hòa đồng của chúng tôi với người địa phương đã xóa hẳn những ngăn cách và e dè lúc đầu. Vài người mang những vỏ ốc hoặc viên đá xinh xắn đến tặng làm kỷ niệm, ai cũng vẫy tay “hello” khi chúng tôi đi ngang. Và các em học sinh, trong những bộ đồng phục sạch sẽ và thẳng nếp, đã không còn ngại ngùng hoặc mắc cỡ khi nhận quà hoặc chụp hình với chúng tôi.
Cả đoàn hôm nay chỉ trang bị nhẹ vì tất cả hành lý đều để lại nhà trọ. Những ngày trước, vì chưa biết “đoạn đường chiến binh” sẽ cam go như thế nào nên ai nấy đều mang theo mọi thứ có thể vác trên lưng để phòng hờ, từ lọ thuốc xịt muỗi đến... thỏi son môi. (Một ông nào đó trong đoàn đã “dại miệng” thốt lên rằng ở Kuku chẳng có khỉ để... làm điệu đâu! Trời hỡi, làm sao bụm miệng cho kịp. “Lời nói không mất tiền mua, liệu lời mà nói cho... vừa người nghe” chứ! Chẳng lẽ ổng không hiểu rằng đụng chạm đến mấy vụ này là một hành vi “phạm thượng” không thể tha thứ được sao? Từ đó đến cuối chuyến đi, đương sự bị “trừng phạt đích đáng” bằng biện pháp cúp hẳn phần ô mai xí muội dọc đường!).
Mọi người đều phấn chấn và sẵn sàng. Ai cũng biết, hôm nay là ngày N, cái “đích” của cuộc hành trình. Chúng tôi đã thảo luận các phương án... hành quân, chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho từng người từ tối hôm trước. “Mũi ai nấy thở” nhé, cứ thế mà làm. Anh Trưởng đoàn dặn đi dặn lại mãi. Vậy mà các chị, các cô vẫn... tranh thủ đi xem ngôi chợ quê và mua sắm một ít đồ tươi trong khi chờ ca-nô tách bến. Cái “máu shopping” muôn thưở đó, buổi sáng hôm ấy như nhờ có... bà độ, đã mang lại một niềm vui tràn ngập và bất ngờ cho cả đoàn: một cuộc hạnh ngộ tuyệt vời với người cũ nơi cảnh xưa!
Lúc “rảo” chợ tìm mua trái cây, các cô Kim Vân, Xuân Hương, Ngọc Thúy... bỗng nghe từ phía sau lưng một lời chào hỏi bằng tiếng Việt với giọng miền Nam đặc sệt: “Các chị ơi, tới đây hồi nào dzậy? Ở lại lâu hông? Tôi giúp gì được hông?” Giọng nói ấy bộc lộ sự mừng rỡ pha lẫn chút thích thú. Quay lại, họ thấy một người đàn ông trung niên, khuôn mặt trí thức và trang phục lịch sự, đang đứng mĩm cười thân thiện. Các cô chưa hết ngạc nhiên thì ông ấy tiếp: “Tôi là Adnan Nala, từng làm việc nhiều năm cho người tỵ nạn Việt Nam ở Kuku và Galang. Bữa nay tôi về Letung thăm gia đình. Thấy mấy chị là người lạ và nghe nói tiếng Việt, tôi tới hỏi thăm... Thiệt là hên!”
Phong cách niềm nở, thái độ chân thành và gần gũi của Nala đã tạo nên một sự tin cậy tức khắc. Các cô tíu tít bắt chuyện và mời ông đến cầu tàu, nơi cả đoàn đang chờ đợi nhổ neo. Chẳng chút ngần ngừ, Nala vui vẻ nhận lời sau khi kín đáo ra hiệu cho mấy người đứng chung quanh (dường như là cảnh sát bảo vệ) cứ để ông tự nhiên đi một mình. Cử chỉ ấy không thoát qua đôi mắt quan sát tinh tế của các cô. Họ có cảm giác đang tiếp xúc với một VIP dù không ai hỏi và cũng chẳng ai nói.
Cái duyên hạnh ngộ với Nala bắt đầu một cách đột ngột như thế và câu chuyện sau đó được kể lại về sự liên hệ của ông với thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đẹp như một huyền thoại có thật trong đời. Khi chúng tôi mời Nala đến ăn tối với đoàn ở khu nhà trọ, ông thoáng lưỡng lự nhưng lại gật đầu ngay. Trên khuôn mặt ông lúc ấy phảng phất một nét bồn chồn mà mãi đến buổi tối hôm ấy chúng tôi mới biết...
“Số 1, có! Số 2, có... Số 22, tây đui là... tui đây! Đủ rồi, bác tài. Nhổ neo!”
Chiếc ca-nô nhẹ nhàng rời bến, phóng mình ra biển trực chỉ hướng Kuku. Hôm nay, ngoài đoàn chúng tôi còn có gần chục người khác - gồm các cảnh sát và lính Nam Dương đi theo bảo vệ. Chúng tôi cũng được khoảng 20 người địa phương từ Air Raya đến trước để giúp việc bốc mộ và hỏa thiêu di hài.
Theo sự phân công, chúng tôi chia làm ba cánh, “đánh” ba hướng khác nhau. Nhóm thứ nhất cùng đi với Băng 3T để bốc mộ chị Thu Minh trên đồi trực thăng. Nhóm thứ nhì theo David và bác Hồ Tắc bốc mộ cho mẹ của David ở con suối cạnh bãi tranh. Nhóm thứ ba đi với gia đình Nhà họ Huỳnh tiếp tục tìm kiếm ngôi mộ thân phụ của Thế Trung và Thế Minh. Tất cả đều chuẩn bị khá kỹ (áo quần lao động, dụng cụ đi rừng, lễ phẩm cúng tế...).
Tôi cùng Mimi Đài Trang và Kim Vân theo nhóm đầu, đi với ba anh em Triệu - Tài - Tước lên đồi. Khoảng 10 người Nam Dương giúp việc đã chờ sẵn với đầy đủ cuốc xẻng, dao rựa. Sau nghi thức cầu nguyện ngắn, chúng tôi bắt tay ngay vào việc để tranh thủ thời tiết còn mát vào buổi sáng. Toán nhân công địa phương chặt bớt cây cành và mở rộng diện tích chung quanh ngôi mộ cho dễ làm việc. Anh Triệu lần dở từng tấm hình 27 năm trước để nhớ lại và cám ơn những người bạn đã giúp anh mai táng Cecile trên đảo. Tài và Tước cũng sắp đặt những vật dụng cần thiết cho lễ hỏa thiêu. Hai anh em đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho chuyến đi này từ Việt Nam. Họ mang theo cả chiếc xẻng cá nhân mới keng (loại có thể xếp gọn lại, như lính VNCH ngày xưa thường mang trên ba-lô hành quân), mấy lít rượu đế để rửa hài cốt và chiếc hủ đựng tro xương. Hai ông bạn này chu đáo... đến khiếp, từ việc mang (lén) bánh chưng dưa món ra nước ngoài để “chiêu đãi Việt kiều” đến chuyện đem theo cả cuốc xẻng và rượu đế lên máy bay! Cử chỉ ấy đã nói lên tình nghĩa gia đình với người quá cố, dù cả Tài và Tước đều chưa từng gặp mặt chị Thu Minh lúc sinh thời.
(Một chuyện nhỏ ngoài lề: Nhiều người địa phương xăm xoi nhìn chiếc xẻng cá nhân với một vẻ thích thú đặc biệt. Họ ướm lời muốn xin hoặc mua chiếc xẻng ấy, nhưng Tài và Tước đều lắc đầu vì muốn giữ nó như một vật kỷ niệm của chuyến đi).
Trái với sự lo ngại của chúng tôi, nơi an táng chị Thu Minh là một vùng đất sét pha cát khá xốp chứ không phải đá núi nên việc bốc mộ diễn ra khá êm xuôi. Dù vậy, anh Triệu đã bắt đầu đứng ngồi không yên khi những người phu đã đào sâu đến ngực, lưng áo đẫm ướt mồ hôi mà vẫn chưa thấy quan tài. Và họ cũng chẳng tìm được chiếc chai bịt kín mà anh đã ghi chi tiết của người quá cố chôn trước đầu mộ. Có lẽ nào...
Chúng tôi quyết định tạm ngưng để bàn bạc với nhau. Anh Triệu vẫn còn nhớ như in lúc quan tài của vợ được hạ huyện, chỉ sâu khoảng này mà thôi. Mọi người lại định thần và chuyên chú cầu nguyện. Hai cô Mimi và Kim Vân cứ thấp thỏm nắm tay nhau đi lên đi xuống từ đồi trực thăng, hỏi thăm và đem nước uống cho chúng tôi. (Sau này, hai cô mới “tự thú” rằng họ không dám chứng kiến cảnh bốc mộ vì... sợ. Ngay cả việc chụp hình lúc các phu mộ đang đào bới họ cũng lâm râm cầu nguyện và xin phép vong linh người quá cố.)
Đột nhiên, anh Triệu như sực nhớ một điều gì và yêu cầu toán phu mộ móc sâu qua phía tay phải. Quả nhiên, chỉ sau vài nhát xẻng, họ đã đụng ngay vách ván thiên. Tiếng bồm bộp dội lên từ lòng huyệt làm anh Triệu chấn động, tay run lên suýt đánh rơi điếu thuốc đang hút dở. Anh chồm đến như muốn nhảy xuống để tận tay sờ vào chiếc áo quan. Tài và Tước xắn tay áo phụ giúp các phu mộ mở rộng chiếc hố từ phía trên. Chẳng mấy chốc, bốn vách quan tài hiện dần ra nhưng nắp ván thiên đã tiêu rã thành cát bụi dưới sức nặng của mô đất phía trên sau thời gian dằng dặc...
Thì ra, lúc những người bạn của anh Triệu còn ở lại Kuku lập bia cho chị Thu Minh, họ đã cắm nó hơi lệch sang hướng trái nên khi các phu mộ đào thẳng xuống không đụng quan tài. Anh Triệu cũng nghĩ rằng những ân nhân chí tình đó của anh cũng đã hủy chiếc chai dấu tích sau khi họ thiết lập tấm bia mộ đàng hoàng cho chị.
Nhờ tấm bọc bằng nhựa khá dầy và chắc chắn của Cao ủy, chị Thu Minh được nằm trọn vẹn bên trong mà không bị xiêu lạc hoặc bị rễ cây đâm xuyên dù hài cốt đã phân hủy gần hết. Và, thật là một tình cờ mầu nhiệm, khi di thể của chị vừa được đưa lên khỏi huyệt mộ, trời bỗng đổ cơn mưa xối xả như để gội rửa thân thể lấm lem của những người phu mộ vất vả cả buổi sáng, để xóa tan những dòng lệ thương cảm của người thân chất chứa bao tháng năm dài và để tắm mát một linh hồn vừa tái hợp với gia đình sau cuộc phân ly đăng đẳng...
Trên nền xi-măng của bãi trực thăng dưới cơn mưa nặng hạt, Tài và Tước tỉ mỉ tìm kiếm và thu nhặt những mẩu xương cốt còn lại của người chị vợ trong lúc anh Triệu thẫn thờ cầm những di vật của người bạn đời vừa tìm được trong chiếc bọc. Đoạn phim cũ của thời điểm đau buồn đó cứ chiếu lại trong tâm trí anh, đứt quãng nhòe nhoẹt mà tươi nguyên như mới hôm qua...
Chiếc gương, cây lược và những bộ áo quần đó kéo anh về quá khứ của một tuần trăng mật tuyệt vời và gần hai tháng lo âu, khủng hoảng đến gần suy sụp trên đảo Kuku 27 năm trước. Tai anh vẫn văng vẳng lời nhắc nhở của cô bé 14 tuổi đi cùng ghe tên Hiền lúc anh như kẻ mất hồn vì sự ra đi quá thương đau của chị: “Anh Triệu nhớ đem theo áo quần, gương lược cho chị Minh xài...”
Bé Hiền ơi, anh Triệu đây! Anh vẫn còn nhớ vóc dáng nhỏ nhắn của em cẩn thận gói ghém những vật dụng đó cho chị Minh lúc anh vô cùng bối rối trước cảnh sinh ly tử biệt. Bao nhiêu năm nay, chị đã có gương lược bầu bạn và có cả sự chăm chút ấm áp của đứa em nhỏ trong phút lâm chung, dù hai chị em chỉ quen biết nhau trong thời gian ngắn ngủi trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề của cuộc đời tỵ nạn. Bé Hiền ngày nào ơi, bây giờ anh đã gặp lại chị Minh ở nơi chốn ngút ngàn kỷ niệm hạnh phúc lẫn đau thương của cả một đời người. Hãy cho anh gửi một lời cảm ơn từ đáy lòng.
Đang miên man trong nỗi hồi tưởng về quá khứ, anh Triệu chợt bừng tỉnh vì lời gọi của Tài: “Anh Triệu, chiếc nhẫn của chị nè...” Tài đã biết chuyện người anh cột chèo của mình quyết định để nguyên chiếc nhẫn cưới trên bàn tay của vợ khi anh vĩnh biệt chị. Hai anh chị là những con chiên thuần thành và họ đã sống đạo một cách trọn vẹn theo lời dạy trong Kinh Thánh: “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”. Với suy luận tự nhiên, Tài tìm thấy chiếc nhẫn ngay vị trí bàn tay trái của di hài dù xương cốt phần cơ thể này đã tiêu tan vào lòng đất.
Thực sự, sau khi tìm được gương và lược, anh Triệu vẫn chưa “chắc ăn” rằng bộ hài cốt trong tấm bọc nylon là di thể của vợ, vì trong vài ngày qua chúng tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều sự kiện huyền nhiệm không thể giải thích được. Anh vẫn còn âm thầm chờ đợi một xác định cuối cùng. Anh căn dặn Tài và Tước cả chục lần: “Còn chiếc nhẫn cưới nữa!” Và khi Tài tìm thấy nó, anh đã thở phào như trút ra tất cả những ưu tư chất chứa từ đầu chuyến đi...
Ôi, bằng chứng kết ước của tình nghĩa vợ chồng vẫn còn nguyên vẹn. Anh Triệu cầm lấy chiếc nhẫn còn dính đất và đeo ngay vào tay mình, như thể không còn chờ đợi thêm một giây nào nữa! Anh kể lại rằng anh đã giữ lại và đem theo bông tai và dây chuyền của chị như một kỷ vật vì sợ người chết bị quấy nhiễu bởi những kẻ đạo chích vô lương muốn quật mộ để tìm vàng. Riêng chiếc nhẫn này anh quyết định chôn theo chị như lời nguyện chung thân của hai người trong ngày hôn lễ. Chiếc nhẫn đó sẽ nằm trong hủ cốt của chị khi anh đưa chị về Việt Nam.
Trong lúc anh Triệu và Tước tiếp tục thu nhặt và rửa sạch hài cốt, tôi cùng với Tài và toán nhân công địa phương trở lại mộ phần của chị Thu Minh để lấp lại huyệt mộ. Theo ý nguyện của gia đình, mộ bia cùng với tấm bọc Cao ủy và rễ cây trong đó được gửi lại xuống lòng huyệt như một lời tạ ơn đất trời Kuku về sự nương náu xác thân từ 27 năm qua.
Trên đường về bãi trực thăng, những người phu mộ chỉ cho tôi thấy một lõm đất trũng cách đó không xa. Đó là ngôi mộ của một thuyền nhân VN được hốt cốt cách đây khoảng một năm bởi thân nhân từ Hoa Kỳ. Sự kiện này được xác định khi chúng tôi trở về Letung và tìm thấy trong thời gian đó có tên 5 người Việt trong danh sách khách trọ nơi chúng tôi đang trú ngụ.
Sau lễ tạ từ, nhóm chúng tôi xuống bãi biển để thực hiện cuộc hỏa thiêu hài cốt. Những người địa phương, qua sự thu xếp của công ty du lịch, đã đào hai cái hố cát hình chữ nhật sâu khoảng một mét, chất sẵn củi khô phía dưới và một bình dầu lửa. Họ chỉ yên lặng theo dõi cuộc hỏa thiêu mà không góp tay, có lẽ một phần vì tôn trọng niềm tin tôn giáo hoặc tình cảm gia đình và phần khác, họ cũng chẳng biết phải làm gì vì chưa hề chứng kiến một nghi thức như thế.
© 2009 Đàn Chim Việt Online
Nhóm thứ nhì là “Nhà họ Huỳnh”, gồm hai anh em Thế Trung - Thế Minh và Bảo Thanh (vợ của Thế Minh) từ Sydney, Úc. Sự tham gia của ba anh em vào chuyến đi cũng là một chuyện ngẫu nhiên. Chỉ vài tuần trước khi lên đường, Minh tình cờ nghe được bản tin trên một đài phát thanh địa phương về chuyến đi Kuku. Ngăn kéo ký ức từ lâu phủ bụi bỗng như được thổi một làn gió mạnh, hiện ra nguyên vẹn những kỷ niệm của một thời thơ ấu...
Hai anh em Trung và Minh ngày ấy chỉ là những thiếu niên 14 - 16 tuổi, ăn chưa no lo chưa tới, nhưng đã nhận biết và nếm trải cuộc đời tỵ nạn gian truân trên hòn đảo này. Hơn nữa, Kuku là nơi gửi thân của người cha vì một cơn bạo bệnh sau khi ông thực hiện ước mơ của đời mình là đưa được mấy đứa con đến bờ tự do. Không một ngày chần chờ, Trung và Minh thu xếp nhanh gọn công việc và ghi danh tham gia chuyến đi ngay sau đó. Để cho chắc ăn, nhóm “Nhà họ Huỳnh” này còn nằng nặc đòi được... đóng tiền trước vì sợ “lỡ tàu”. Họ đã chờ đợi cơ hội này từ bao nhiêu năm rồi...
Trung - Minh - Thanh lên đường với sự chuẩn bị khá đầy đủ và một tâm trạng náo nức, tin tưởng. Trước ngày đến điểm “tập kết” ở Singapore, cả ba cũng đã ghé Mã Lai để báo tin cho người bà con duy nhất còn sống của giòng họ về ý định bốc mộ và hỏa thiêu di hài của cha. Mấy anh em còn nhớ khá rõ vị trí mộ phần của cha bên ngôi chùa cạnh dòng suối và những mốc điểm dễ nhận quanh đó. Họ cũng có thời gian lưu lại đảo khá lâu sau cái chết của cha và hàng ngày đều đến thắp nhang cầu nguyện. Trong ba nhóm tìm mộ, có lẽ Nhà họ Huỳnh là nhóm có triển vọng thành công cao nhất.
Nhóm thứ ba là “Bố vợ con rể” từ Atlanta, Mỹ: David Lý và... Hồ Tặc (vâng, chính “bác” đấy! Thật ra, bác tên Hồ Tắc, nhưng anh chị em trong đoàn cứ thuận miệng gọi trại đi cho... khỏi phạm húy. Được cái là bác không hề giận mà còn cười khanh khách khi “bị” so sánh với... người kia). Bác Hồ Tắc tham gia chuyến đi là để “hỗ trợ tinh thần cho thằng rể” về Kuku tìm mộ của mẹ và cũng để thăm lại đảo Air Raya (kế cận Kuku), nơi bác được vớt vào sau chuyến vượt biển hãi hùng ba mươi năm trước.
David cũng là một cựu thuyền nhân tỵ nạn, nhưng anh đến trại Bidong ở Mã Lai chứ không phải Kuku. Gia đình anh chia nhau thành nhiều toán vượt thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển và đã đến các trại khác nhau. Mẹ anh và một người dì đến Kuku, quãng năm 1980, khi ấy David còn là một cậu bé chưa đầy 10 tuổi. Mẹ anh đã vĩnh viễn nằm lại trên đảo sau một cơn bệnh - và người dì, bây giờ chẳng còn nhớ gì nhiều về vị trí chôn cất của chị vì bà cũng chỉ tạm cư trên hòn đảo này trong thời gian rất ngắn. Chi tiết duy nhất mà bà còn nhớ và kể lại cho David là mẹ anh được chôn trong một miếng đất bằng, cạnh một cây cổ thụ, bên suối nước nhỏ...
David, một kỹ sư họa đồ kiến trúc nhưng bỏ nghề để làm... đầu bếp và hiện là chủ của nhiều nhà hàng nổi tiếng ở Atlanta, cũng tình cờ biết tin về chuyến đi Kuku khi “mò” lên internet và được giới thiệu đến Văn khố Thuyền nhân VN. Dù không mảy may hy vọng tìm được mộ mẹ nhưng David vẫn nhất định tham dự chuyến đi vì một sự thôi thúc lạ kỳ trong lòng. Bao nhiêu năm qua anh ao ước có dịp đến Kuku để thắp một nén nhang cho người mẹ mà anh chỉ còn nhớ hình ảnh lờ mờ trong ký ức tuổi thơ.
Hành trang anh mang theo trong chuyến đi tìm mộ chỉ là một tờ giấy viết tay ghi tên họ, ngày tháng sinh tử của mẹ bằng tiếng Hoa (mà chính anh cũng không biết đọc) và hai chiếc va-ly lớn chứa đầy vàng mã để cúng vong cho những thuyền nhân Việt Nam nằm lại ở xứ người...
Nghe chuyện của David, mọi người trong đoàn đều cảm động nhưng cũng vui mừng về tấm lòng của một đứa con, dù lớn lên ở đất nước thực dụng mà các giá trị tinh thần bị xếp hạng dưới xa sự thành công về vật chất nhưng vẫn giữ trọn đạo hiếu nghĩa với đấng sinh thành.
Sau màn điểm danh và dặn dò, chúng tôi xếp hàng một đi lên đồi theo những người hướng dẫn địa phương. Bao nhiêu cãi cọ trong nhóm trước ngày lên đường chỉ trong phút chốc đã “gửi gió cho mây ngàn bay” vì chẳng ai dám hó hé gì nữa về trí nhớ chắc như cua gạch của mình về địa hình trên đảo. Cứ ngậm miệng mà bước theo mấy ông Nam Dương đen nhẻm này cho chắc ăn!
Vượt qua một bãi cỏ tranh khá rộng - mà chúng tôi được cho biết từng là bệnh xá và khu barracks cũ - nhóm dẫn đường bắt đầu chặt cây đốn cành mở lối lên đồi. Đường dốc và ẩm ướt nên họ vạt cho mỗi người chúng tôi một cây gậy đi rừng, như kiểu gậy của các hướng đạo sinh, dài khoảng hơn một mét, vừa để chống tay nghỉ mệt vừa để chống... thú rừng. (Hú vía, chúng tôi đã không gặp một con kỳ đà hoặc khỉ đột nào cả, dù vài người đã kể lại một cách quả quyết về sự hiện diện của các giống thú này trên đảo). “Cái chân thứ ba” đó đã nhiều phen cứu nguy những bàn thua trông thấy khi một số người trong đoàn suýt trượt ngã hoặc mất thăng bằng qua các khúc quanh trơn trợt. Vậy mà những người dẫn đường cứ tỉnh queo vọt tới, chân trần phom phom và vai vác cả chục ký hành lý...
Dù mệt lè cả lưỡi khi lên đến bãi đáp trực thăng (có lẽ chỉ ông già viết bài này cảm thấy như vậy thôi, chứ các bạn trẻ trong đoàn vẫn còn... gân lắm!), chúng tôi nhanh chóng bày ra lễ phẩm để cầu nguyện tập thể cho vong linh thuyền nhân VN nằm lại trên đảo. Tuy đã từng vài lần tham dự những nghi thức tương tự nhưng tôi chưa hề chứng kiến “một buổi lễ cầu nguyện quốc tế” không giống ai nhưng lại hòa hợp đến trọn vẹn như thế! Ngoài kinh kệ chuông mõ được Ban tổ chức chuẩn bị sẵn từ Úc, chiếc chiếu hoa mới toanh trải trên nền xi-măng giữa trời thay cho bàn lễ là của Đình Chấn đưa sang từ Đức, vàng mả và lễ phẩm cúng vong do bạn trẻ David đóng thùng mang theo từ Mỹ, bánh kẹo và hoa quả do các chị mua ở chợ Terempah từ hôm trước, thậm chí có cả những ổ bánh chưng (thứ thực phẩm mà người vượt biên thường mang theo) và mấy lít rượu đế của Tài và Tước mang từ Việt Nam... Và cả những cành hoa rừng Kuku nữa! Tất cả những lễ phẩm này đều không có sự xếp đặt trước, mỗi người cứ tùy lòng mà lo liệu, nhưng lại ăn khớp như một lời đồng thanh mời gọi những linh hồn mồ côi cùng về chứng tri buổi lễ cầu nguyện...
Giữa lúc cả đoàn đang quây quần làm lễ, chúng tôi bỗng nghe tiếng kêu thảng thốt “Anh Triệu ơi... Anh Triệu!” của Tài từ sau lưng đồi, cách địa điểm cầu nguyện không xa. Mọi người dừng ngay các việc đang làm và hướng mắt về phía tiếng kêu với vẻ lo ngại hiện lên khuôn mặt. Trong đầu, ai cũng thoáng nghĩ đến chuyện rủi ro hoặc tai nạn. Nhưng dường như tiếng kêu không phải là sự báo nguy vì nó toát ra một âm thanh ngạc nhiên và mừng rỡ. Chắc là...
Anh Triệu cũng đoán thế! Anh, Tước và tôi cùng vài người địa phương cầm dao rựa và gậy gộc băng tới nơi phát xuất tiếng kêu, chỉ cách bãi trực thăng khoảng trăm mét bên mé phải, vừa mở đường vừa gọi tên để định hướng. Tiếng đáp của Tài vọng lại mồn một cả góc rừng yên tĩnh đã làm xúc động cho cả đoàn: “Tìm thấy mộ rồi, anh Triệu ơi!”
Ngay bên dưới sườn đồi khá dốc, Tài đứng đó, trước một tấm bia đá ghi rõ họ tên người chị vợ quá cố, khuôn mặt còn ràn rụa thương cảm và vui mừng. Anh Triệu, sau thời gian đăng đẳng chôn kín nỗi sầu thương trong lòng, đã không ngăn giữ được nữa cảm xúc của mình. Anh gần như ngã khụy xuống, để mặc cho dòng nước mắt tái ngộ dâng trào. Một số người khác trong đoàn cũng vừa kéo đến, chúng tôi ôm nhau chia sẻ niềm hạnh phúc đoàn tụ của anh, dưới bóng những thân cây cao che rợp nắng trưa và tiếng chim hòa điệu bản đàn thôn dã...
Vì sợ không đủ thời gian trên đảo trong ngày đầu tiên nên Tài đã tách đoàn để tranh thủ tìm mộ chị Cecile Hoàng Thu Minh lúc mọi người còn đang chuẩn bị lễ cầu nguyện. Dù chưa đến Kuku lần nào (thật ra, đây là lần đầu tiên hai anh em cột chèo Tài và Tước rời Việt Nam ra nước ngoài) nhưng những câu chuyện nghe kể lại trong gia đình và lòng thương cảm đối với người “chèo lái” mà họ coi như anh ruột, Tài đã quyết định “xé lẻ” để thực hiện ý định của mình. Hơn nữa, anh cũng có một ít kinh nghiệm về chuyện đi tìm mộ ở Việt Nam nên đã khá dễ dàng xác định được địa điểm chôn cất của người chị vợ. Và kết quả đã đến một cách không ngờ...
Ngay cả anh Triệu cũng không ngờ. Trước chuyến đi, anh chỉ mơ hồ hồi tưởng những chi tiết rời rạc về vị trí mộ phần của người vợ đầu (anh đã tục huyền khi định cư ở Úc nhiều năm sau khi đoạn tang) vì lúc mai táng anh hầu như không còn thần trí để ghi nhớ mọi chuyện. Những di vật còn lại của biến cố bi thương trong đời đó mà anh mang theo trong chuyến đi chỉ là vài tấm hình đã phai màu của những người bạn cùng ghe đang đứng cầu nguyện trước ngôi mộ của chị, lúc đó không có cả tấm bia đá được khắc tên rõ ràng như bây giờ. Với anh, sự tìm thấy ngôi mộ - và tấm bia anh chưa một lần nhìn thấy - là cả một phép lạ, dù nó đã nằm trong tiềm thức của anh từ hơn phần tư thế kỷ qua.
Anh Triều kể lại rằng sau khi rời đảo một cách vội vàng vì hoàn cảnh không cho phép nấn ná thêm, anh được biết những người bạn còn ở lại đã lập tấm bia cho chị theo ước nguyện của anh. Anh đã viết thư kể chuyện này cho gia đình chị nhưng lại quên bẵng chi tiết quan trọng đó khi chuẩn bị lên đường về Kuku. Nhưng Tài lại nhớ và nhờ đó, đã tìm được. Ký ức của anh, như một cuốn phim cũ được quay chậm lại, dần dần hiện ra nguyên vẹn và rõ ràng, dù qua màn lệ nhòe nhoẹt dưới mái đầu đã nhuốm phong sương...
Ngày rời Kuku 27 năm trước trên chiếc tàu Cao ủy đi đến trại Galang cùng khoảng 450 người khác, anh đã dõi mắt lên đỉnh núi và khấn thầm trong lòng: “Anh đã đưa em đi. Anh sẽ đưa em về!” Ngày mai, anh Triệu và chúng tôi sẽ trở lại để cùng bốc mộ chị đưa về đất mẹ, về với gia đình và bạn bè theo ý nguyện của anh.
Trong khi anh Triệu vẫn còn chưa nguôi thương cảm, Tài và Tước đã chu đáo sắp xếp những phong bánh và bình sữa cho đứa cháu chưa ra đời trên chiếc hộp giấy đơn sơ trước phần mộ của người chị vợ. Hai anh em cột chèo cũng kịp thời thông báo qua điện thoại di động về tin vui này đến những người thân ở Hoa Kỳ và Việt Nam đang ngày đêm cầu nguyện và mong đợi. Những tiếng nấc nghẹn hạnh phúc và lời tạ ơn vọng lại từ cả hai bờ đại đương đến khu rừng tịch mịch mênh mông này khiến ai cũng rưng rưng...
Lúc ấy, buổi lễ chung tại bãi trực thăng cũng vừa dứt. Anh Trưởng đoàn cùng mọi người kéo đến hiệp lời cầu nguyện cho Cecile. Trước phần mộ của chị, anh Trưởng đoàn đốt nén nhang khấn vái: “Chị Thu Minh ơi, tôi thay mặt cho cả đoàn xin được chúc mừng cho chị. Anh Triệu và gia đình đã tìm kiếm chị từ bao nhiêu năm nay đến bây giờ mới đủ duyên lành để hội ngộ. Kính cầu nguyện cho linh hồn chị yên nghỉ ở nước Chúa. Ngày mai, chúng tôi sẽ trở lại và kính xin được rước hài cốt của chị về với gia đình. Xin được báo tin với chị và mong chi giúp cho đoàn tìm được các mồ mả thuyền nhân VN khác trên đảo...”
Chúng tôi đứng bên nhau cùng dâng lời cầu nguyện cho linh hồn người quá cố được thảnh thơi nơi cõi vĩnh hằng và chúc mừng sự đoàn tụ của anh chị, trong ý nghĩa thiêng liêng về sự kết hợp của Thiên Chúa. Những bản thánh ca, lời kinh Lạy Cha và Kính Mừng cất lên, dịu dàng và an ủi, như thấp thoáng trong bóng mát cây rừng Kuku nụ cười xum họp của Cecile.
Sau nghi thức ngắn ngủi nhưng đầy xúc động, chúng tôi xuống đồi tiếp tục tìm kiếm những ngôi mộ khác. Nắng gắt buổi trưa và năng lượng bị tiêu hao trong chuyến leo đồi buổi sáng đã làm cho nhiều người thấm mệt nhưng ai nấy vẫn tỏ ra “dư sức qua cầu” sau tin vui của Băng 3T. Lại nữa, cả đoàn vừa được bơm một liều vitamin độc đáo và đúng lúc: một chục ổ bánh chưng và dưa món do Tài và Tước cắc củm mang (lén) sang từ Sài Gòn để “đãi” anh chị em... Việt kiều trên đất khách. (Quý hóa lắm, cái tình đồng bào rất đậm đà trong lối nghĩ và cách thương cho nhau! Cám ơn hai bạn nhiều nhé. Có dịp sang Úc, tôi sẽ mời lại món kangaroo nướng khói độc đáo của quê hương thứ hai của tôi!).
Thật ra, công ty du lịch đã chuẩn bị phần ăn trưa đầy đủ cho đoàn nhưng chúng tôi nhường mấy chục hộp mì xào ớt đó cho khoảng 20 người địa phương đi cùng để thưởng thức hương vị quê nhà ở nơi “trời quen đất lạ” này.
Sau bữa ăn “tay cầm” dã chiến trên đỉnh đồi, đoàn chia ra làm hai nhóm để tìm kiếm và ghi nhận vị trí các ngôi mộ thuyền nhân VN trên đảo. Trần Lão Gia dẫn một nhóm đi “quần” các khu vực trước đây có nhiều người được chôn cất. Tôi tình nguyện dẫn nhóm thứ nhì tìm mộ của “Nhà họ Huỳnh” theo bản đồ trí nhớ của mình căn cứ trên những chi tiết được hai anh em Thế Trung - Thế Minh kể lại. David Lý (và “bác Hồ” bố vợ) cũng theo nhóm của tôi để... cầu may, vì thật sự anh hoàn toàn không biết vị trí ngôi mộ của mẹ. Cả hai nhóm đều có người địa phương hướng dẫn và khuân vác giúp những vật dụng cúng tế.
Sau khoảng một giờ “trượt đồi” và băng qua vạt cỏ tranh cao gần đầu người, nhóm chúng tôi đến một khu rừng thưa. Tôi quyết định cho nhóm nghỉ chân tại bãi trống cạnh một con suối cạn để bà con phục hồi công lực trước khi... chống gậy lê bước đi tiếp về hướng ngôi chùa theo lời chỉ dẫn của những người địa phương. Trong lúc cả nhóm (trong đó có cả một sĩ quan cảnh sát và một người lính đi theo bảo vệ an ninh) giải lao cà-phê thuốc lá, vài người bỗng phát giác có nhiều ngôi mộ rãi rác quanh bãi đất trống này. Thật ra, đó chỉ là những hòn đá đã xanh rêu được xếp thành hình bầu dục hoặc hình chữ nhật do bàn tay con người, một phần bị lún sâu xuống đất sau bao mùa mưa nắng. Nhưng rõ ràng, đó là những ngôi mộ thuyền nhân vì một số tấm bia có sơn hoặc khắc danh tính của người chết bằng tiếng Việt và tiếng Hoa, được tạo dựng trong khoảng thời gian người tỵ nạn lưu ngụ trên đảo.
Chúng tôi quên cả mệt, lập tức giăng giây làm dấu địa điểm và bắt đầu chụp hình, đốt nhang tại những ngôi mộ tìm thấy. Út Tuấn Hùng quay phim hết toàn cảnh khu vực này, trong lúc David và những anh chị khác bày biện lễ phẩm cúng tế. Chúng tôi tiếp tục sục sạo chung quanh với hy vọng tìm thêm được các ngôi mộ khác. Tất cả đều cầu nguyện thành tiếng để mong nhờ những linh hồn bơ vơ phù trợ cho chúng tôi tìm được nơi gửi thân của họ mà thắp nén nhang tưởng niệm...
Bỗng tôi nghe một tiếng gọi lớn: “Anh Lưu Dân ơi, có một bia mộ nữa nè!” Một dòng điện nửa như rờn rợn nửa như ấm áp chạy dọc sống lưng tôi khi nhìn thấy màu sơn còn đỏ tươi trên phiến đá nằm úp mặt xuống đất vừa được lật lên. Ngay lúc đó, tôi có linh cảm một sự huyền nhiệm lạ lùng đang hiện đến...
Bất chợt, tôi buột miệng gọi: “David, lại đây! Mẹ em tên gì vậy? Có biết ngày sinh, ngày tử của bà không?” Tôi hỏi dồn dập mà không ý thức đến cả việc tấm bia mộ chỉ viết bằng tiếng Hoa, ngôn ngữ mà trong nhóm không ai biết đọc. Bác Hồ Tắc nhanh chân phóng lại, nhưng ông lắc đầu bảo: “Chắc không phải đâu, vì dì nó nói mẹ nó chôn bên cạnh một cây cổ thụ rất lớn mà...”
Dù không tin đó là ngôi mộ của mẹ mình, nhưng David cũng chạy vội đến và suýt té ngã khi anh vấp chân vào một gốc cây bị đốn lìa gần sát đất. Anh lấy ra mảnh giấy viết tay từ chiếc ba-lô đeo vai mấy ngày nay để so chiếu với những chữ trên tấm bia. Bác Hồ Tắc cẩn thận rưới bình nước uống mang theo để rửa sạch bùn đất trên tấm bia và David cũng cởi phăng chiếc áo thun đang mặc để thấm khô vết nước. Bàn tay anh run lên khi dòng chữ càng lúc càng hiện rõ ra trên tấm bia. Với vốn liếng Hán văn nghèo nàn của bác Hồ Tắc và tôi cộng lại khi so chiếu với dòng chữ trên giấy mà David mang theo từ Mỹ, chúng tôi khẳng định đây chính là ngôi mộ của mẹ anh vì tên tuổi, ngày sinh và ngày mất hoàn toàn khớp với nhau. Và gốc cây bị đốn sát đất (có lẽ đã vài năm rồi) suýt làm cho David vấp ngã chính là cây cổ thụ mà người dì ghi nhớ như một điểm mốc về vị trí của ngôi mộ.
Kết quả đến thật bất ngờ như một sự linh hiển trước mắt khiến mọi người trong nhóm chấn động đến sững sờ. Ngay từ đầu chuyến đi, không ai kỳ vọng sẽ tìm được mộ mẹ của David với những chi tiết mù mờ như thế. Ở Kuku có hàng chục con suối và cả triệu cây rừng, biết đâu mà mò. Chúng tôi cũng không có một hướng dẫn cụ thể nào về phương hướng hoặc vị trí để tìm. Ngay cả David và nhạc phụ cũng chưa hề đặt chân đến đây lần nào để có thể hình dung lại khung cảnh gần 30 năm trước. Vậy mà...
Chúng tôi đứng vòng quanh ngôi mộ, ôm nhau trong nỗi nghẹn ngào xúc cảm và chúc mừng anh đạt được ước nguyện. Và David, một doanh nhân thành công đã từng trải qua vô vàn gian nan lăn lóc trên đường đời từ thời niên thiếu mồ côi nơi xứ lạ quê người, chợt ôm mặt khóc rưng rức như một đứa trẻ thất lạc vừa tìm được mẹ...
Chúng tôi bày biện lễ phẩm để thực hiện nghi thức cầu siêu chung cho những người nằm lại nơi đây và giăng giây làm dấu mộ phần mẹ của David để ngày mai trở lại bốc mộ. Làn khói trắng êm đềm tỏa lên từ bãi đất trống giữa núi rừng trùng điệp trên bầu trời xanh thẳm của buổi trưa đáng nhớ ấy đẹp như một bức tranh thoát tục, siêu nhiên. Có lẽ không một họa sĩ nào có thể vẽ được bức tranh đó bằng màu sắc trần gian mà chỉ chúng tôi mới có thể cảm nhận được nó trong lòng...
Như đã ước định trước, tôi thổi những hồi còi báo tin cho nhóm thứ nhất nhưng không được đáp lại. Có lẽ anh Trưởng đoàn còn lặn lội phía bên kia đồi và không nghe thấy. Chặp sau, một người địa phương mà chúng tôi nhờ đi báo tin về đến và cho biết tin vui đã được nhóm của Trần Lão Gia tiếp nhận với sự phấn khởi cao độ. Ít nhất, cho đến giờ phút đó, chúng tôi đã đạt được hai phần ba mục tiêu của chuyến đi ngay trong ngày đầu tiên, một “chỉ tiêu” không người nào dám mơ ước dù ai cũng âm thầm hy vọng. Phần còn lại là... ngon như cơm sườn, vì phần mộ thân phụ của hai anh em Nhà họ Huỳnh có lẽ cũng dễ tìm được với những dấu tích và vị trí khá rõ ràng. Trước chuyến đi, Thế Trung - Thế Minh nói chắc ăn là sẽ tìm được, vì chính hai anh em đã làm mộ cho cha bằng xi-măng vững chắc, cạnh sân chùa, trên sườn đồi, rất dễ tìm...
Chúng tôi lại vượt suối băng rừng lên đồi đến ngôi chùa Phật giáo theo sự dẫn đường của những người địa phương. Trời đã ngã về chiều và không khí trong rừng cũng bắt đầu nhuốm lạnh, muỗi rừng và những thân cây ngã đổ càng làm cho đường đi khó khăn trắc trở hơn.
Ngôi chùa khá rộng ngày xưa chỉ còn trơ nền đất, không còn nhìn ra chánh điện hoặc dấu tích gì của nơi thờ phượng, ngoài hai chiếc thùng phuy cắt ngang một nửa trước đây được dùng làm bồn hoa bây giờ đã hoen rỉ trước bậc tam cấp bên cổng. Cỏ dại và cây rừng đã tràn kín cả vùng khiến chúng tôi không thể mạo hiểm đi xa hơn vài chục mét.
Với những chiếc tu huýt và đèn pin cá nhân, chúng tôi chia thành hai tốp nhỏ bắt đầu tìm kiếm. Theo sự khẳng định của hai anh em họ Huỳnh, ngôi mộ thân phụ của họ nằm ở một vị trí rất gần chung quanh nền chùa. Lớp lá dầy ẩm ướt và những tảng đá rêu phong trơn trợt khiến tốc độ tìm kiếm chậm lại, nhưng đến khi sục sạo giáp vòng khu vực chúng tôi vẫn không tìm thấy. Mỗi lần đi một lần khó, dễ gì có được cơ hội đến đây cả đoàn như thế này. Chúng tôi lại cố gắng lần nữa, soi đèn vào từng gốc cây, lật lên từng hòn đá, cạo sạch từng mảng rêu... nhưng cũng không kết quả. Đành phải ngưng thôi, ngày mai trở lại tìm tiếp.
Nhóm của anh Trưởng đoàn gồm gần chục người (cộng với 4 người dẫn đường địa phương) cũng trèo đèo lội suối mấy đợt mới đến khu vực nghĩa trang phía sau bãi trực thăng. Nhóm này cũng tìm thấy một cụm 5-6 ngôi mộ. Các bia mộ trong cụm này viết bằng tiếng Hoa nên không biết là phần mộ của ai. Sau này tra cứu lại với những bản họa đồ vẽ theo trí nhớ của những người từng ở Kuku trước đây, chúng tôi mới xác định được đây có lẽ là khu vực mai táng dành cho người Hoa. Khu nghĩa trang này cây cối um tùm chứ không được khai quang như khu vực gần chùa hoặc dưới bãi tranh. Anh Trưởng đoàn cũng đã bày ra một bàn thờ lộ thiên cúng tế cho vong linh những người nằm lại trước khi trở về họp mặt với nhóm chúng tôi.
Cả đoàn tập họp kiểm điểm quân số ở bãi biển quãng hơn bốn giờ chiều sau một ngày đã đời với nhang khói, bùn sình và vài chiếc áo rách vì vướng cây, ngã té. Báo cáo sơ khởi từ các nhóm cho thấy quân ta bình yên vô sự (thật ra, có vài người trầy sướt chút đỉnh), kết quả vượt chỉ tiêu (tìm thấy hai trong ba ngôi mộ muốn tìm), thu nhặt được một số di vật (gồm chai lọ, dép, chén...) và quan trọng hơn cả là hàng trăm tấm hình các ngôi mộ thuyền nhân VN ở Kuku.
(Sau chuyến đi, Văn khố Thuyền nhân VN được biết một gia đình ở California, Hoa Kỳ, đã tình cờ nhìn thấy ngôi mộ người con gái của họ tên là Bùi Thị Thu Kiều khi xem cuộc phỏng vấn chị Vân Hải - từ Paris, Pháp quốc - trên đài SBTN và xem hình ảnh chuyến đi trên trang web của Cộng đồng Người Việt ở Paris. Người cha đã nghẹn ngào kể lại rằng chính ông đã tự tay khuân 16 hòn đá từ dưới biển lên khu nghĩa trang để đắp quanh mộ phần của đứa con gái 16 tuổi qua đời hai ngày sau khi lên đảo. Lạ lùng thay, họ tên của cô gái vắn số vẫn còn tươi nét sơn trên chiếc thánh giá bằng gỗ dù đã trải qua hơn phần tư thế kỷ dãi dầu mưa nắng.)
Chúng tôi “tranh thủ nhúng nước” trên bãi Kuku, nhiều người mặc nguyên bộ quần áo lội rừng, bơi ra chiếc ca-nô tốc hành thả neo chờ đợi từ sáng để trở về hậu cứ Letung. Chẳng ai còn nhớ đến “Thằng Mặt đen” hồi sáng, vì sau những gì chúng tôi trải qua ngày hôm nay, mấy thứ vặt vãnh ấy đều là… chuyện ruồi bu.
Buổi tối, chúng tôi được các quan chức trên đảo (gồm đại diện chính quyền, quân đội và cảnh sát) thết đãi một buổi dạ tiệc tiếp tân khá linh đình. Không có mì xào ớt, cơm chiên ớt mà đầy ngập tôm hùm, ghẹ biển, cá tươi... Và có cả chất cay nữa, mà toàn là... thứ thiệt. Lại cái chàng “trùm sò” bấm đốt ngón tay lẩm nhẩm: “Thế này là đủ vốn rồi nhé! Mà chỉ mới nửa đường. Từ giờ, cuộc hành tỏi bao nhiêu là lãi đấy!” Chẳng ai hiểu anh ta hành tỏi giống gì, nhưng mọi người cứ... ngậm miệng mà nhai cái đã!
Giữa những lời chào mừng vui vẻ, bát đũa xôn xao và tiếng nhạc xập xình, chuông điện thoại của anh Trưởng đoàn cứ reo liên tục. Rất may, dù cách xa đất liền nhưng nơi đây không nằm “ngoài vùng phủ phê” mà còn lọt “trong vùng phủ song” nên vẫn liên lạc được với... thế giới bên ngoài. Các đài phát thanh Á châu Tự do RFA, BBC London và Little Saigon Radio gọi đến tới tấp để phỏng vấn về chuyến đi nhớ đời này. Trần Lão Gia cứ như... gà mắc đẻ, vì ổng vừa tiếp khách vừa trả lời các câu hỏi, vừa ngoắc người này vừa lôi kẻ nọ đến để kể lại những câu chuyện của họ với thính giả khắp năm châu.
Buổi tiệc rồi cũng tàn theo những đôi mắt nhướng hết lên và những bộ giò rã rời đang tìm nơi giãn gân. Lúc ấy đã gần hai giờ sáng...
Ngày 4 (13.04 Kuku - Letung): Hạnh ngộ tuyệt vời
Giấc ngủ thẳng cẳng và chầu điểm tâm “cải cách” với cháo cá và bún gà do bác Hồ Tắc (chủ nhà hàng ở Atlanta) đích thân vào bếp đã nạp đầy lại năng lượng tiêu hao trong mấy ngày qua. Tiếng cười đùa rộn ràng làm xao động không khí yên tĩnh của chiếc quán nhỏ trong ngôi làng chài hiền hòa này. Sự thân thiện và hòa đồng của chúng tôi với người địa phương đã xóa hẳn những ngăn cách và e dè lúc đầu. Vài người mang những vỏ ốc hoặc viên đá xinh xắn đến tặng làm kỷ niệm, ai cũng vẫy tay “hello” khi chúng tôi đi ngang. Và các em học sinh, trong những bộ đồng phục sạch sẽ và thẳng nếp, đã không còn ngại ngùng hoặc mắc cỡ khi nhận quà hoặc chụp hình với chúng tôi.
Cả đoàn hôm nay chỉ trang bị nhẹ vì tất cả hành lý đều để lại nhà trọ. Những ngày trước, vì chưa biết “đoạn đường chiến binh” sẽ cam go như thế nào nên ai nấy đều mang theo mọi thứ có thể vác trên lưng để phòng hờ, từ lọ thuốc xịt muỗi đến... thỏi son môi. (Một ông nào đó trong đoàn đã “dại miệng” thốt lên rằng ở Kuku chẳng có khỉ để... làm điệu đâu! Trời hỡi, làm sao bụm miệng cho kịp. “Lời nói không mất tiền mua, liệu lời mà nói cho... vừa người nghe” chứ! Chẳng lẽ ổng không hiểu rằng đụng chạm đến mấy vụ này là một hành vi “phạm thượng” không thể tha thứ được sao? Từ đó đến cuối chuyến đi, đương sự bị “trừng phạt đích đáng” bằng biện pháp cúp hẳn phần ô mai xí muội dọc đường!).
Mọi người đều phấn chấn và sẵn sàng. Ai cũng biết, hôm nay là ngày N, cái “đích” của cuộc hành trình. Chúng tôi đã thảo luận các phương án... hành quân, chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho từng người từ tối hôm trước. “Mũi ai nấy thở” nhé, cứ thế mà làm. Anh Trưởng đoàn dặn đi dặn lại mãi. Vậy mà các chị, các cô vẫn... tranh thủ đi xem ngôi chợ quê và mua sắm một ít đồ tươi trong khi chờ ca-nô tách bến. Cái “máu shopping” muôn thưở đó, buổi sáng hôm ấy như nhờ có... bà độ, đã mang lại một niềm vui tràn ngập và bất ngờ cho cả đoàn: một cuộc hạnh ngộ tuyệt vời với người cũ nơi cảnh xưa!
Lúc “rảo” chợ tìm mua trái cây, các cô Kim Vân, Xuân Hương, Ngọc Thúy... bỗng nghe từ phía sau lưng một lời chào hỏi bằng tiếng Việt với giọng miền Nam đặc sệt: “Các chị ơi, tới đây hồi nào dzậy? Ở lại lâu hông? Tôi giúp gì được hông?” Giọng nói ấy bộc lộ sự mừng rỡ pha lẫn chút thích thú. Quay lại, họ thấy một người đàn ông trung niên, khuôn mặt trí thức và trang phục lịch sự, đang đứng mĩm cười thân thiện. Các cô chưa hết ngạc nhiên thì ông ấy tiếp: “Tôi là Adnan Nala, từng làm việc nhiều năm cho người tỵ nạn Việt Nam ở Kuku và Galang. Bữa nay tôi về Letung thăm gia đình. Thấy mấy chị là người lạ và nghe nói tiếng Việt, tôi tới hỏi thăm... Thiệt là hên!”
Phong cách niềm nở, thái độ chân thành và gần gũi của Nala đã tạo nên một sự tin cậy tức khắc. Các cô tíu tít bắt chuyện và mời ông đến cầu tàu, nơi cả đoàn đang chờ đợi nhổ neo. Chẳng chút ngần ngừ, Nala vui vẻ nhận lời sau khi kín đáo ra hiệu cho mấy người đứng chung quanh (dường như là cảnh sát bảo vệ) cứ để ông tự nhiên đi một mình. Cử chỉ ấy không thoát qua đôi mắt quan sát tinh tế của các cô. Họ có cảm giác đang tiếp xúc với một VIP dù không ai hỏi và cũng chẳng ai nói.
Cái duyên hạnh ngộ với Nala bắt đầu một cách đột ngột như thế và câu chuyện sau đó được kể lại về sự liên hệ của ông với thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đẹp như một huyền thoại có thật trong đời. Khi chúng tôi mời Nala đến ăn tối với đoàn ở khu nhà trọ, ông thoáng lưỡng lự nhưng lại gật đầu ngay. Trên khuôn mặt ông lúc ấy phảng phất một nét bồn chồn mà mãi đến buổi tối hôm ấy chúng tôi mới biết...
“Số 1, có! Số 2, có... Số 22, tây đui là... tui đây! Đủ rồi, bác tài. Nhổ neo!”
Chiếc ca-nô nhẹ nhàng rời bến, phóng mình ra biển trực chỉ hướng Kuku. Hôm nay, ngoài đoàn chúng tôi còn có gần chục người khác - gồm các cảnh sát và lính Nam Dương đi theo bảo vệ. Chúng tôi cũng được khoảng 20 người địa phương từ Air Raya đến trước để giúp việc bốc mộ và hỏa thiêu di hài.
Theo sự phân công, chúng tôi chia làm ba cánh, “đánh” ba hướng khác nhau. Nhóm thứ nhất cùng đi với Băng 3T để bốc mộ chị Thu Minh trên đồi trực thăng. Nhóm thứ nhì theo David và bác Hồ Tắc bốc mộ cho mẹ của David ở con suối cạnh bãi tranh. Nhóm thứ ba đi với gia đình Nhà họ Huỳnh tiếp tục tìm kiếm ngôi mộ thân phụ của Thế Trung và Thế Minh. Tất cả đều chuẩn bị khá kỹ (áo quần lao động, dụng cụ đi rừng, lễ phẩm cúng tế...).
Tôi cùng Mimi Đài Trang và Kim Vân theo nhóm đầu, đi với ba anh em Triệu - Tài - Tước lên đồi. Khoảng 10 người Nam Dương giúp việc đã chờ sẵn với đầy đủ cuốc xẻng, dao rựa. Sau nghi thức cầu nguyện ngắn, chúng tôi bắt tay ngay vào việc để tranh thủ thời tiết còn mát vào buổi sáng. Toán nhân công địa phương chặt bớt cây cành và mở rộng diện tích chung quanh ngôi mộ cho dễ làm việc. Anh Triệu lần dở từng tấm hình 27 năm trước để nhớ lại và cám ơn những người bạn đã giúp anh mai táng Cecile trên đảo. Tài và Tước cũng sắp đặt những vật dụng cần thiết cho lễ hỏa thiêu. Hai anh em đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho chuyến đi này từ Việt Nam. Họ mang theo cả chiếc xẻng cá nhân mới keng (loại có thể xếp gọn lại, như lính VNCH ngày xưa thường mang trên ba-lô hành quân), mấy lít rượu đế để rửa hài cốt và chiếc hủ đựng tro xương. Hai ông bạn này chu đáo... đến khiếp, từ việc mang (lén) bánh chưng dưa món ra nước ngoài để “chiêu đãi Việt kiều” đến chuyện đem theo cả cuốc xẻng và rượu đế lên máy bay! Cử chỉ ấy đã nói lên tình nghĩa gia đình với người quá cố, dù cả Tài và Tước đều chưa từng gặp mặt chị Thu Minh lúc sinh thời.
(Một chuyện nhỏ ngoài lề: Nhiều người địa phương xăm xoi nhìn chiếc xẻng cá nhân với một vẻ thích thú đặc biệt. Họ ướm lời muốn xin hoặc mua chiếc xẻng ấy, nhưng Tài và Tước đều lắc đầu vì muốn giữ nó như một vật kỷ niệm của chuyến đi).
Trái với sự lo ngại của chúng tôi, nơi an táng chị Thu Minh là một vùng đất sét pha cát khá xốp chứ không phải đá núi nên việc bốc mộ diễn ra khá êm xuôi. Dù vậy, anh Triệu đã bắt đầu đứng ngồi không yên khi những người phu đã đào sâu đến ngực, lưng áo đẫm ướt mồ hôi mà vẫn chưa thấy quan tài. Và họ cũng chẳng tìm được chiếc chai bịt kín mà anh đã ghi chi tiết của người quá cố chôn trước đầu mộ. Có lẽ nào...
Chúng tôi quyết định tạm ngưng để bàn bạc với nhau. Anh Triệu vẫn còn nhớ như in lúc quan tài của vợ được hạ huyện, chỉ sâu khoảng này mà thôi. Mọi người lại định thần và chuyên chú cầu nguyện. Hai cô Mimi và Kim Vân cứ thấp thỏm nắm tay nhau đi lên đi xuống từ đồi trực thăng, hỏi thăm và đem nước uống cho chúng tôi. (Sau này, hai cô mới “tự thú” rằng họ không dám chứng kiến cảnh bốc mộ vì... sợ. Ngay cả việc chụp hình lúc các phu mộ đang đào bới họ cũng lâm râm cầu nguyện và xin phép vong linh người quá cố.)
Đột nhiên, anh Triệu như sực nhớ một điều gì và yêu cầu toán phu mộ móc sâu qua phía tay phải. Quả nhiên, chỉ sau vài nhát xẻng, họ đã đụng ngay vách ván thiên. Tiếng bồm bộp dội lên từ lòng huyệt làm anh Triệu chấn động, tay run lên suýt đánh rơi điếu thuốc đang hút dở. Anh chồm đến như muốn nhảy xuống để tận tay sờ vào chiếc áo quan. Tài và Tước xắn tay áo phụ giúp các phu mộ mở rộng chiếc hố từ phía trên. Chẳng mấy chốc, bốn vách quan tài hiện dần ra nhưng nắp ván thiên đã tiêu rã thành cát bụi dưới sức nặng của mô đất phía trên sau thời gian dằng dặc...
Thì ra, lúc những người bạn của anh Triệu còn ở lại Kuku lập bia cho chị Thu Minh, họ đã cắm nó hơi lệch sang hướng trái nên khi các phu mộ đào thẳng xuống không đụng quan tài. Anh Triệu cũng nghĩ rằng những ân nhân chí tình đó của anh cũng đã hủy chiếc chai dấu tích sau khi họ thiết lập tấm bia mộ đàng hoàng cho chị.
Nhờ tấm bọc bằng nhựa khá dầy và chắc chắn của Cao ủy, chị Thu Minh được nằm trọn vẹn bên trong mà không bị xiêu lạc hoặc bị rễ cây đâm xuyên dù hài cốt đã phân hủy gần hết. Và, thật là một tình cờ mầu nhiệm, khi di thể của chị vừa được đưa lên khỏi huyệt mộ, trời bỗng đổ cơn mưa xối xả như để gội rửa thân thể lấm lem của những người phu mộ vất vả cả buổi sáng, để xóa tan những dòng lệ thương cảm của người thân chất chứa bao tháng năm dài và để tắm mát một linh hồn vừa tái hợp với gia đình sau cuộc phân ly đăng đẳng...
Trên nền xi-măng của bãi trực thăng dưới cơn mưa nặng hạt, Tài và Tước tỉ mỉ tìm kiếm và thu nhặt những mẩu xương cốt còn lại của người chị vợ trong lúc anh Triệu thẫn thờ cầm những di vật của người bạn đời vừa tìm được trong chiếc bọc. Đoạn phim cũ của thời điểm đau buồn đó cứ chiếu lại trong tâm trí anh, đứt quãng nhòe nhoẹt mà tươi nguyên như mới hôm qua...
Chiếc gương, cây lược và những bộ áo quần đó kéo anh về quá khứ của một tuần trăng mật tuyệt vời và gần hai tháng lo âu, khủng hoảng đến gần suy sụp trên đảo Kuku 27 năm trước. Tai anh vẫn văng vẳng lời nhắc nhở của cô bé 14 tuổi đi cùng ghe tên Hiền lúc anh như kẻ mất hồn vì sự ra đi quá thương đau của chị: “Anh Triệu nhớ đem theo áo quần, gương lược cho chị Minh xài...”
Bé Hiền ơi, anh Triệu đây! Anh vẫn còn nhớ vóc dáng nhỏ nhắn của em cẩn thận gói ghém những vật dụng đó cho chị Minh lúc anh vô cùng bối rối trước cảnh sinh ly tử biệt. Bao nhiêu năm nay, chị đã có gương lược bầu bạn và có cả sự chăm chút ấm áp của đứa em nhỏ trong phút lâm chung, dù hai chị em chỉ quen biết nhau trong thời gian ngắn ngủi trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề của cuộc đời tỵ nạn. Bé Hiền ngày nào ơi, bây giờ anh đã gặp lại chị Minh ở nơi chốn ngút ngàn kỷ niệm hạnh phúc lẫn đau thương của cả một đời người. Hãy cho anh gửi một lời cảm ơn từ đáy lòng.
Đang miên man trong nỗi hồi tưởng về quá khứ, anh Triệu chợt bừng tỉnh vì lời gọi của Tài: “Anh Triệu, chiếc nhẫn của chị nè...” Tài đã biết chuyện người anh cột chèo của mình quyết định để nguyên chiếc nhẫn cưới trên bàn tay của vợ khi anh vĩnh biệt chị. Hai anh chị là những con chiên thuần thành và họ đã sống đạo một cách trọn vẹn theo lời dạy trong Kinh Thánh: “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”. Với suy luận tự nhiên, Tài tìm thấy chiếc nhẫn ngay vị trí bàn tay trái của di hài dù xương cốt phần cơ thể này đã tiêu tan vào lòng đất.
Thực sự, sau khi tìm được gương và lược, anh Triệu vẫn chưa “chắc ăn” rằng bộ hài cốt trong tấm bọc nylon là di thể của vợ, vì trong vài ngày qua chúng tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều sự kiện huyền nhiệm không thể giải thích được. Anh vẫn còn âm thầm chờ đợi một xác định cuối cùng. Anh căn dặn Tài và Tước cả chục lần: “Còn chiếc nhẫn cưới nữa!” Và khi Tài tìm thấy nó, anh đã thở phào như trút ra tất cả những ưu tư chất chứa từ đầu chuyến đi...
Ôi, bằng chứng kết ước của tình nghĩa vợ chồng vẫn còn nguyên vẹn. Anh Triệu cầm lấy chiếc nhẫn còn dính đất và đeo ngay vào tay mình, như thể không còn chờ đợi thêm một giây nào nữa! Anh kể lại rằng anh đã giữ lại và đem theo bông tai và dây chuyền của chị như một kỷ vật vì sợ người chết bị quấy nhiễu bởi những kẻ đạo chích vô lương muốn quật mộ để tìm vàng. Riêng chiếc nhẫn này anh quyết định chôn theo chị như lời nguyện chung thân của hai người trong ngày hôn lễ. Chiếc nhẫn đó sẽ nằm trong hủ cốt của chị khi anh đưa chị về Việt Nam.
Trong lúc anh Triệu và Tước tiếp tục thu nhặt và rửa sạch hài cốt, tôi cùng với Tài và toán nhân công địa phương trở lại mộ phần của chị Thu Minh để lấp lại huyệt mộ. Theo ý nguyện của gia đình, mộ bia cùng với tấm bọc Cao ủy và rễ cây trong đó được gửi lại xuống lòng huyệt như một lời tạ ơn đất trời Kuku về sự nương náu xác thân từ 27 năm qua.
Trên đường về bãi trực thăng, những người phu mộ chỉ cho tôi thấy một lõm đất trũng cách đó không xa. Đó là ngôi mộ của một thuyền nhân VN được hốt cốt cách đây khoảng một năm bởi thân nhân từ Hoa Kỳ. Sự kiện này được xác định khi chúng tôi trở về Letung và tìm thấy trong thời gian đó có tên 5 người Việt trong danh sách khách trọ nơi chúng tôi đang trú ngụ.
Sau lễ tạ từ, nhóm chúng tôi xuống bãi biển để thực hiện cuộc hỏa thiêu hài cốt. Những người địa phương, qua sự thu xếp của công ty du lịch, đã đào hai cái hố cát hình chữ nhật sâu khoảng một mét, chất sẵn củi khô phía dưới và một bình dầu lửa. Họ chỉ yên lặng theo dõi cuộc hỏa thiêu mà không góp tay, có lẽ một phần vì tôn trọng niềm tin tôn giáo hoặc tình cảm gia đình và phần khác, họ cũng chẳng biết phải làm gì vì chưa hề chứng kiến một nghi thức như thế.
© 2009 Đàn Chim Việt Online
Rỉ Tai
Các loạt bài/Article Series
This article is part 3 of a 3 part series. Other articles in this series are shown below:
-
Kuku, nhật ký thăm lại hòn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần 3)
3 Responses to "Kuku, nhật ký thăm lại hòn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần 3)" 
|
said this on 13 Jul 2009 4:22:35 PM EST
Cảm ơn bài bút ký của Anh Lưu Dân,
Tôi cũng là một thuyền nhân ở Trại Pulau Bidong, từng chứng kiến cảnh người chết và chôn ở đảo. Nên hiểu được tâm trạng của người còn sống sót. Tôi không cầm được nước mắt khi đọc những dòng bút ký của anh. tình thân, Bửu Chế |
|
said this on 15 Jul 2009 1:55:25 AM EST
Cám ơn anh Lưu Dân đã viết nên một bài phóng sự cảm động tuyệt vời.
Tôi là cựu thuyền nhân tại Galang 1985, dự định về thăm đảo Galang năm tới (2010). Xin anh cho biết có phải đường đi tốt nhất là bay tới Singapore, đáp tàu đi Batam rồi từ Batam đi xe xuống Galang? Xin anh cho biết tàu nào tốt nhất, xe gì tốt nhất? Tim Hoàng |
|
said this on 16 Jul 2009 12:49:29 AM EST
Phần 3 trong nhật ký của ông Lưu Dân đã làm tôi rớt nước mắt từng hồi, nhất là lời cảm ơn của anh Triệu với cô bé tên Hằng đi cùng thuyên năm xưa. Vật chất cho nhau cho dù có đẹp đẽ cách mấy cũng không bao giờ gợi được trong chúng ta một niềm thương cảm tràn đầy như khi chúng ta nhớ đến những tấm chân tình giữa con người đã giành cho nhau trong những khi hoạn nạn. Cám ơn ông Lưu Dân đã làm sống lại trong lòng những người cựu thyền nhân mảnh đời đầu tiên trên bước đường tỵ nạn. Dù ngày ấy chúng ta đặt chân lên đảo với trăm vạn nỗi niềm khác nhau, nhưng có phải điều quí giá nhất chúng ta có được trong tay là TỰ DO?
|


Author/Admin)