Danchimviet - http://danchimviet.com
Kuku, nhật ký thăm lại hòn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần 2)
http://danchimviet.com/articles/1275/1/Kuku-nht-ky-thm-li-hon-o-t-nn--Nam-Dng-Phn-2/Page1.html
Lưu Dân

 
Tác Giả Lưu Dân
Đăng/Published on 12.07.09
 
Chúng tôi đứng vòng quanh ngôi mộ, ôm nhau trong nỗi nghẹn ngào xúc cảm và chúc mừng anh đạt được ước nguyện.


Chúng tôi trọ ở 2 khách sạn “bảnh nhất” trên đảo, ngay cạnh bến tàu, có máy lạnh và nước nóng, nhưng vẫn bánh phồng cá, cà-ri cá, canh chua cá... Có một chút “cải thiện” trong thực đơn: mì xào đồ biển với ớt và cơm chiên đồ biển với ớt, hai món đưa cay mà chúng tôi thân ái làm quen suốt mấy ngày sau đó. (Nhớ lại, thật tội nghiệp cho nhóm từ Âu châu, tôm cua ê hề mà cứ vòi... rau muống! Rõ nghèo!)

 

Dù được biết nơi đây sẽ phát triển mạnh trong tương lai gần vì các công ty dầu khí quốc tế vừa quyết định thiết lập nhiều cơ sở tiếp vận và sản xuất, nhưng Terempah bây giờ vẫn... đi dăm phút đã về chốn cũ. “Rốn” đảo là một con đường dọc ghềnh đá, được lát xi-măng khá sạch, có nhiều hàng quán, đền thờ Hồi giáo, cơ sở hành chánh - quân sự (hầu như Nam Dương ở đâu cũng thấy... trại lính!). Người dân địa phương chất phác, thân thiện. Họ không tìm cách “nạo” những du khách cả đời mới đến đây một lần khi chúng tôi mua trái cây, uống cà-phê hoặc kêu mồi nhậu. Cũng có vài người la cà đến làm quen, kể lại những chuyện về người tỵ nạn Việt Nam từng ghé lại đây hồi... thế kỷ trước. Họ cho biết có nhiều ngôi mộ thuyền nhân Việt Nam phía trên đồi và sẵn sàng hướng dẫn chúng tôi đến đó. Vì không có đủ thời gian, chúng tôi hẹn lượt về (3 ngày sau) sẽ đi thăm.

 

Buổi tối, mới hơn 9 giờ mà trên đảo đã vắng teo. Băng “quậy” trong đoàn (gồm các trự trung niên khó ngủ, kể cả người viết bài này) cởi trần ra cầu tàu hóng mát và (hy vọng) tìm... vài lon bia giải khát. Mà tìm được thật, các bạn ạ. Thứ xịn nữa chứ: bia lon Tiger và Heineken ướp lạnh! Giá cả cũng khá mềm: tính ra chỉ khoảng hơn 1 đô Úc một lon. Từ chiều, Tuấn Hùng đã rảo một vòng trên đảo và chấm tọa độ một tiệm tạp hóa có bán bia. Thế là cứ đến gõ cửa, làm dấu, trả tiền và biến ra cầu tàu cùng với hai xâu bia tòng teng... “Cậu út” giỏi thật, đến đất lạ quê người heo hút mà vẫn moi ra được thứ “nhu yếu phẩm” này, chỉ tiếc đồ mồi hơi hẻo: chỉ bịch lạc rang và... vài cái bánh phồng cá (lạ thay, lúc ấy thật ngon!).

 

Có bia thì có... nhạc. Tuy vài lon chưa đủ liều để biểu diễn “tài năng chưa một lần chớm nở” nhưng đã có người tính qua mặt Duy Khánh, Nhật Trường, Chế Linh... “Chung vui đêm này cho trọn tình yêu thương...”, “Chuyện cô sinh viên hay buồn, thường nhắc nhở những chiến công...”, “Mình về thành phố đây rồi, chốn ăn chốn chơi, lạ mặt người...” Những bài hát Việt Nam cất lên vừa đủ nghe, hòa cùng tiếng sóng vỗ nhịp rập rềnh từ dưới chân cầu tàu, giữa vùng trời vắng lặng xa lạ này, mang âm điệu hoài hương man mác, buồn buồn...

 

Và cũng ở Terempah, vào sáng hôm sau trước khi lên đường đi Letung, chúng tôi cũng đã gặp những đồng bào của mình trong một hoàn cảnh trớ trêu...

 

Ngày 3 (12.04 Letung - Kuku): Trời quen đất lạ…

“Số 1, có! Số 2, có!... Số 22, có! Đủ rồi. Nhổ neo, bác tài!”

Chiếc ca-nô tốc hành tách bến, phóng ra khơi như một mũi tên xé nước, mang theo đoàn người hành hương trở về con đường ký ức. Mọi người đã tươi tỉnh hẳn sau một đêm sạc pin đầy đủ ở khách sạn bến tàu Terempah và chầu điểm tâm mì xào ớt. Chất cay tươi này (để phân biệt với thứ “chất cay lỏng” mà đám các ông cắt củm mang theo như mèo giấu... của hiếm) dường như đã tô thêm một tí màu hồng trên đôi má của các bà các cô để bù lại khuôn mặt “người tình không chân dung” trên đoạn đường chiến binh hôm qua.

 

Tháng Ba bà già đi biển có khác! Không một cơn gió mạnh hoặc một gợn sóng lăn tăn nào suốt cả tiếng đồng hồ đi tàu. Mặt nước êm và phẳng như một miếng thạch trong veo khổng lồ. Nếu không có âm thanh động cơ, tiếng cười đùa của hành khách và vệt sóng trắng xóa sau đuôi tàu, bạn sẽ không bị coi là... kẻ “té giếng” nếu ngỡ mình đang là Lưu Thần - Nguyễn Triệu đi lạc vào cõi thiên thai vì khung cảnh tĩnh mịch và diễm ảo của vùng quần đảo này.

 

Chiếc ca-nô tốc hành (với khoảng 30 chỗ ngồi và dụng cụ an toàn hải hành đầy đủ, do tài công và hoa tiêu địa phương dẫn đường), được thuê bao riêng cho chúng tôi suốt chặng đường Terempah - Letung - Kuku - Terempah - Matak trong 3 ngày sau đó. Phương tiện này khá thuận tiện vì chúng tôi cần phải di chuyển liên tục đến nhiều địa điểm khác nhau trong vùng.

 

“Letung kia rồi!” Trần Lão Gia chỉ tay về một hòn đảo phía xa sau khi được hoa tiêu thông báo sắp đến nơi. Thật ra, anh trưởng đoàn chẳng biết tí ti gì về quần đảo Anambas trong thực tế và cũng chẳng giây mơ rễ má đến kỷ niệm thời tỵ nạn với vùng này (vì ổng là dân “cựu Bidong” ở tận bên Mã Lai) nhưng có lẽ là người am tường địa hình nhất trong nhóm. Từ khoảng 6 tháng trước chuyến đi, ngày nào ổng cũng chúi mũi vào màn hình computer tra cứu bản đồ, tham khảo những dữ kiện địa lý, đối chiếu với hồi ức của những người từng tạm cư tại đây... Và để chắc ăn, ổng còn mang theo cả máy đo tọa độ từ vệ tinh để xác định những vị trí cần biết; như các điểm chuẩn trên đảo, địa điểm các ngôi mộ hoặc di tích thuyền nhân Việt Nam...

 

Khoảng 15 người trong nhóm đã từng đến Letung nhưng hầu như chẳng ai nhận ra hòn đảo này từ xa. Mãi đến khi chúng tôi bước chân lên cầu tàu, những hình ảnh và kỷ niệm từ ngăn kéo ký ức khóa kín 25-30 năm trước mới tái hiện, dồn dập đến ngộp thở vì xúc động.

 

Tấm bảng “Selamat Datang” trên cổng chào ở cầu tàu đã tạo nên cảm giác êm ả và gần gũi. Vài đứa bé mình trần bóng láng đang tắm biển dưới chân cầu tàu vẫy tay chào “Hello” với nụ cười rạng rỡ làm rụng tim các bà mẹ trong đoàn. Mấy bịch bánh kẹo, ô mai xí muội “cho đỡ buồn miệng dọc đường” của Kim Vân (từ Melbourne, Úc), Xuân Hương (Munich, Đức), Trang Đài (California, Mỹ), Ngọc Thúy (Paris, Pháp)... được lôi ra hết để kết bạn với các thiên thần nhỏ tuổi. Món quà làm quen này đã xô ngã tức khắc hàng rào bất đồng ngôn ngữ giữa chúng tôi và người dân địa phương. Những bàn tay nắm chặt, ánh mắt ấm áp, cử chỉ thân thiện của họ vẫn như ngày nào họ từng cưu mang hàng trăm, hàng ngàn đoàn người tỵ nạn lếch thếch, tơi tả, hấp hối... đến đây từ vùng đất xa xôi không cùng chủng tộc, văn hóa, lịch sử... Thoáng chốc, khoảng thời gian mấy mươi năm xa cách bỗng thu ngắn lại như mới hôm qua...

 

(Một nhận xét nữa, đáng ghi lại: Dù sống cách xa “văn minh thành thị” nhưng hầu hết trẻ em trên những hòn đảo này rất lễ phép, biết chào khách và không bám theo xin xỏ hoặc quấy rầy như thường thấy ở những nơi khác. Nhiều em còn từ chối nhận quà khi không được cha mẹ cho phép. Giỏi quá!)

 

Letung không đổi thay nhiều so với 27 năm trước, khi tôi và những người bạn cùng ghe đến đây sau bốn ngày vượt biển. Tiệm tạp hóa ngay ở cầu tàu - nơi người chủ ghe của chúng tôi mua thùng mì gói đầu tiên trên đất liền với giá 1 chỉ vàng để “mừng sống” cho cả ghe - nay là một quán cà-phê, cũng với mái tôn che phủ ra ngoài và vài cái bàn bày dưới hàng hiên. Tôi vào hỏi thăm (bằng miệng và... bằng tay) mới biết người chủ cũ đã qua đời và cái tiệm bây giờ do con gái của ông quán xuyến. Tôi gọi một ly cà-phê và mua gói Garam để nhớ lại hương vị cũ, dù không mấy thích gout cà-phê Nam Dương và cũng không ghiền thuốc lá. Tôi cũng xin phép ra căn chòi vệ sinh phía sau (bây giờ đã xây vách kín đáo) để sờ tay vào chiếc cột từng móc bộ đồ vượt biên te tua và lấm lem ói mửa sau khi được một người địa phương tặng cho chiếc áo lành lặn... Tô mì gói ngon nhất đời và chiếc áo ân nghĩa đó đã nuôi sống và giữ ấm tình người trong tôi đến tận hôm nay.

 

Sự tiếp đón ân cần lúc đầu bởi các viên chức và người dân Letung đột ngột trở thành khó thở với sự xuất hiện của “Thằng Mặt Đen” (xin miễn nêu tên, sợ “văng miểng” các nhóm đến đây lần sau), một nhân vật cắc ké trong hệ thống chính quyền địa phương cấp xã nhưng lại là người có thẩm quyền sinh sát về chuyến đi của chúng tôi. Y là “Xếp Bến Tàu”, người có quyền cho phép các chuyến tàu - đặc biệt là những đoàn du khách quốc tế - cập bến và rời cảng Letung.

 

Giữa những sĩ quan quân đội và viên chức hành chánh cao cấp nhất đảo ra cầu tàu đón tiếp chúng tôi với thái độ niềm nở lịch sự, “Thằng Mặt Đen” đứng chống nạnh ưỡn ngực, khuôn mặt lạnh tanh làm ra dáng quan trọng, thỉnh thoảng đưa tay sửa lại chiếc mũ nỉ đen thêu chữ Harbour Master vàng chóe và đôi mắt láo liên dưới cặp kính râm cứ liếc xéo về phía nhóm phụ nữ. Vài người trong đoàn lân la đến làm quen nhưng y cứ hất mặt lên, chẳng muốn bắt chuyện dù y cũng võ vẽ vài câu tiếng Anh. Chúng tôi bắt đầu chột dạ và thầm thì cảnh giác cho nhau. Vài người hồi tưởng đến hình ảnh của những hung thần một thời trong các trại tỵ nạn...

 

Với một cử chỉ dứt khoát, “Thằng Mặt Đen” ra lệnh chiếc ca-nô tốc hành của chúng tôi không được tách bến vì... lý do an toàn. Quả vậy, lúc đó một cơn mưa rào bỗng ập xuống như trút nước. Nhưng mưa rào trong tháng hè ở vùng nhiệt đới là chuyện thường ngày mà! Dù sao, nó đã là lý do đủ để “Thằng Mặt Đen” biểu diễn uy quyền. Y trịnh trọng đưa tay sửa lại bảng tên trên túi áo đầy huy hiệu và chiếc mũ Harbour Master trên đầu lần nữa trước khi leo lên xe Honda phóng đi mất dạng. Chúng tôi đứng lóng nhóng ở bến tàu trong khi Edi, người hướng dẫn đoàn, hối hả đi... chạy thuốc.

 

Cơn mưa đi bất chợt như khi nó đến. Chỉ dăm phút sau, trời sạch như lau và biển lặng như tờ. Và “Thằng Mặt Đen” cũng trở lại, khuôn mặt giãn ra được một chút. Y khoát tay cho tài công tách bến. Edi và chúng tôi thở phào. Một bước khó khăn đã qua, nhưng chúng tôi biết còn nhiều bước khác sẽ đến, vì Letung là “hậu cứ hành quân” của chuyến trở về Kuku và chuyện dài bực mình này còn... hồi sau sẽ rõ. Dù sao, “được một bửa là anh mừng một bửa” cái đã, mọi rắc rối ngày mai cứ chờ đấy!

(Về sau chúng tôi mới biết “Thằng Mặt Đen” là quý tử độc nhất của một đại gia ở Letung, học hành chẳng ra gì - cái chức Habour Master là do... tiền định - và y mắc bệnh “hám danh mê quyền” đến điên rồ. Ra thế, xí xóa cho kẻ tội nghiệp ấy thôi!)

 

Chiếc ca-nô lại phóng mình ra biển với những tiếng cười và chuyện kể rôm rả. Ai nấy đều đã quên bản mặt đăm đăm như bị táo bón của Xếp Bến Tàu như quên một lỗ ổ gà dọc đường. Tàu ghé đảo Air Raya rước hai người hướng đạo địa phương đến Kuku vì họ biết rành các thủy lộ tránh đá ngầm và cũng đã từng sống ở Kuku trong thời gian có người VN tỵ nạn. Họ mang cả dao rựa (thấy mà khiếp!) để phát hoang mở đường cho chúng tôi đến những địa điểm muốn đến.

 

Theo hướng chỉ của người dẫn đường, Kuku hiện ra mờ mờ từ phía chân trời sau khoảng nửa giờ hải hành. Chúng tôi yêu cầu tài công giảm tốc độ để mọi người có thể ngắm nhìn hòn đảo một thời từng là mảnh đất hồi sinh của mình. Ai nấy đều chồm ra ngoài khung cửa sổ, tất cả máy chụp hình giương cao lên để bấm những tấm ảnh để đời, bất chấp các quy định về an toàn di chuyển. Viên tài công mỉm cười thông cảm và chia sẻ. Mấy khi một đoàn khách thế này có dịp về thăm lại nơi chốn đầy ắp kỷ niệm như vậy...

 

Đảo rộng chừng vài chục cây số vuông mà ngay cả một số người địa phương chưa hề nghe tên. Nhưng đối với gần trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam, Kuku nằm tận trong ngăn sâu ký ức bồi hồi vì nó từng là nơi đặt chân đầu tiên của họ trên đường vượt biển tỵ nạn cách đây hơn một phần tư thế kỷ. Vì vậy Kuku đối với họ là một kho tàng kỷ niệm của cả đời người. Nó đồng nghĩa với sự sống sau chuyến hải hành thập tử nhất sinh, đồng nghĩa với nhân phẩm và tự do, đồng nghĩa với những giọt nước mắt ngậm ngùi tưởng tiếc các bạn đồng thuyền nằm lại và nụ cười hy vọng của cuộc đời mà họ có hôm nay...

 

Nhớ lại, nhân chuyến Về Bến Tự Do lần thứ nhì hồi tháng 8.2005 - sau khi hai tượng đài tưởng niệm thuyền nhân ở các trại tỵ nạn Bidong (Mã Lai) và Galang (Nam Dương) bị đập bỏ vì áp lực từ Hà Nội - VKTNVN đã có dịp tiếp xúc với Thống đốc của Tiểu bang Tanjung Pinang để bày tỏ lòng tri ân của người tỵ nạn VN với Chính phủ Nam Dương và đồng thời xin phép đến thăm Kuku. Chính vị Thống đốc rất thân thiện này, một Tiến sĩ tốt nghiệp từ Bỉ có sự hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh của người tỵ nạn từ Việt Nam, cũng không biết Kuku nằm ở đâu, dù nó thuộc quyền quản trị hành chánh của ông.

 

Trước chuyến đi lần này, không ai trong chúng tôi biết rõ - hoặc nhớ lại - một cách chính xác địa hình địa vật trên đảo. Những chi tiết trong hệ thống định vị thế giới trên mạng Google cũng chỉ cung cấp vài nét thông tin đại khái. Thậm chí, không có cả địa danh Kuku trong bản đồ của quần đảo Anambas. Thôi thì kẻ bàn ra người tán vào rối tung cả lên, mạnh ai nấy làm... thầy bói.

 

Ký ức của các "cựu Kuku" lại càng mù mờ hơn. Các ông bà cải nhau ỏm tỏi cả tháng trời trên email về vị trí của các điểm chuẩn trên đảo như sân trực thăng, nhà thương, văn phòng Cao ủy, ghềnh đá "Bác Hồ" v.v... Chẳng ai nhường ai, nhưng hầu như tất cả đều "ngậm ngùi thừa nhận" rằng có thể thời gian đã gặm mất một mảng lớn bộ nhớ của họ rồi. Trong đoàn, người có "tuổi đảo" cao nhất chỉ 6-7 tháng, trong khi thời gian xa cách ai cũng tròm trèm hai chục năm dư. Có thánh mới dám vỗ ngực xác nhận được ở đâu trên bãi biển xinh đẹp đến ngẩn ngơ đó là nơi... "tao đã đào lỗ chôn bầu tâm sự".

 

(Một khám phá thú vị: Địa danh Kuku có nghĩa là “cậu”, phiên âm theo tiếng Hoa. Nó bắt nguồn từ một câu chuyện cách đây hơn nửa thế kỷ khi một thương nhân người Hoa đến đây khai hoang trồng dừa. Ông là một người tốt bụng, thường giúp đỡ dân nghèo nên được mọi người thương mến gọi bằng “cậu”. Sau khi ông qua đời - hoặc bỏ đi nơi khác, chẳng ai rõ - người ta đặt tên rừng dừa này là Kuku.)

 

Bây giờ, Kuku đang ở trước mặt...

 

Anh trưởng đoàn Trần Đông lúi húi dò tìm trên máy định vị để xác định tọa độ của Kuku, gương mặt căng thẳng chợt giãn ra sau một tiếng “Đúng!” cụt ngủn. Mấy tháng trời xẩu mình với cả chục tấm bản đồ chi chít, ổng đã “tìm được em rồi”. Cậu út Tuấn Hùng leo hẳn lên mui tàu để quay phim, tấm lưng trần lực lưỡng và mái tóc lồng lộng trong gió trông hệt một Robinson Crusoe thời đại. Cô nương Oanh Oanh chìa máy thu âm để ghi lại cảm xúc của từng người trong “giờ phút lịch sử” đó. Anh Nguyễn Triệu (từ Melbourne, Úc; không phải là bạn của Lưu Thần khi... lạc thiên thai) rưng rưng nhìn lên đỉnh đảo như để lắng nghe một tiếng gọi trìu mến từ quá khứ tuy đã xa nhưng đang rất gần. Kim Vân (từ Melbourne, Úc), cô bé mười mấy tuổi khi ở Kuku, căng mắt tìm chiếc cầu tàu mà gia đình cô đổ bộ lên cách đây hơn phần tư thế kỷ sau chuyến vượt biển thừa chết thiếu sống. Bác Hồ (từ Atlanta, Mỹ) - dạ phải, ông đã cao tuổi và mang... họ Hồ - đứng vịn thành tàu mà tròng mắt đỏ hoe, nhớ lại thời trung niên gian truân trên đảo. Và niên trưởng Tôn Thất Vinh (từ Paris, Pháp) cũng bồi hồi rút ra chiếc mũ mà ông cất kín trong ba-lô từ đầu cuộc hành trình. Chiếc mũ ấy là kỷ vật duy nhất còn lại của ông sau gần 30 năm rời Kuku và bây giờ, người cựu tỵ nạn 71 tuổi ấy đội lại lên đầu như một lời chào tái ngộ...

 

Một cảm giác hụt hẫng bỗng phủ tràn trong tâm tưởng của các “cựu Kuku” khi chiếc ca-nô tiến dần vào bờ. Hàng dừa cao vút đâu rồi? Bãi biển thênh thang ngày xưa sao bây giờ chỉ còn chút xíu? Các dãy lều tạm cư và cầu tàu chẳng còn dấu vết nào cả ư? Cả một khu vực rộng lớn vang động âm thanh và xôn xao bóng người bây giờ chỉ là một vạt rừng xanh ngăn ngắt, hoang vu và lạnh lẽo...

 

Nước cạn, ca-nô không thể ủi bãi vì sợ đá ngầm làm gãy chân vịt. Chúng tôi, từng nhóm nhỏ 4-5 người, phải leo xuống chiếc xuồng của dân địa phương chờ sẵn để được dắt vào bờ. Tôi lên chuyến “taxi” thứ nhất với ý định sẽ bấm những tấm hình của đoàn người tỵ nạn đầu tiên “trở về mái nhà xưa” kể từ khi những thuyền nhân VN cuối cùng rời Kuku cách đây hai thập niên. Độ xốp của bãi cát làm tôi lún sâu đến mắt cá và té nhủi vào một bụi cỏ khi hấp tấp phóng xuống từ mũi xuồng, mặt mày lấm lem và chiếc máy ảnh đeo trên vai cũng trở thành vô dụng từ đó. (Cám ơn các bạn cùng chuyến đã “viện trợ” cho tôi những tấm hình trong loạt bài phóng sự này. Món nợ đó sẽ được trả lại đầy đủ bằng... mì xào ớt trong chuyến Kuku lần sau!) Tôi không tiếc chiếc máy ảnh còn khá tốt (dù biết “Lệnh Bề Trên” ở nhà sẽ cằn nhằn khi trở về, vì “bả” thương nó lắm) nhưng chỉ tiếc đã không ghi lại được những tấm hình ý nghĩa đó.

Chúng tôi được biết khi những thuyền nhân VN cuối cùng rời đảo, cả trại tỵ nạn đã được “hỏa thiêu” như một biện pháp tổng vệ sinh phòng ngừa bệnh dịch. Từ ấy, Kuku lại trở thành một đảo hoang cho đến nay.

 

Không ai nhìn ra cảnh cũ vì mọi dấu vết đã bị thời gian xóa sạch gần hết. Rừng cây và cỏ dại đã lấn ra tận mé nước khiến bãi biển bị thu hẹp lại. Những gốc cổ thụ nghiêng đổ ngổn ngang làm lạc hướng ký ức của những người tìm về. Ngoài khung cảnh thiên nhiên, vài di tích nhân tạo còn nhận dạng ra được là bãi đáp trực thăng trên đỉnh đồi, nền chùa um tùm cỏ dại bên bờ suối và những chiếc cọc bê-tông rêu phong của khu bệnh xá...

 

Căn nhà khá rắn chắc từng là văn phòng Cao ủy Tỵ nạn LHQ ở đầu ghềnh phía tay mặt (từ ngoài biển nhìn vào) cũng chẳng còn gì ngoài vài chiếc trụ xi-măng cô đơn giữa những đợt sóng miên man không dứt. Mấy xác ghe vượt biên trơ sườn bị chôn vùi dưới lớp cát dầy bởi hàng vạn đợt thủy triều còn ráng nhú mũi lên như những nấm mồ chứng nhân chưa siêu thoát của một thời dâu bể...

 

Chúng tôi tập họp trên bãi cỏ tranh bên bờ biển, nghe Trần Lão Gia phổ biến (lần thứ... một trăm) các quy định của đoàn về an toàn và cấp cứu trước khi được những người địa phương dẫn đường lên đồi trực thăng, điểm chuẩn để định hướng các vị trí cần đến trên đảo.

 

Ngày 3 (12.04 Kuku): Phép lạ giữa đời...

Trong đoàn trở về Kuku có ba nhóm tìm kiếm phần mộ người thân và hỏa thiêu hài cốt nếu tìm thấy. Các thành viên khác trong đoàn - ngoài mục đích thăm viếng, cầu nguyện và thu thập di vật thuyền nhân - cũng nhân chuyến đi này tự nguyện “đỡ đần một tay” với các nhóm đó, dù đa số không quen biết nhau trước khi lên đường.

 

Nhóm thứ nhất là “Băng 3T”, gồm 3 anh em cột chèo: Triệu (từ Melbourne, Úc), Tài và Tước (từ Sài Gòn, Việt Nam). Triệu là người chèo lái, “rước” người chị đầu, Tài và Tước là hai người chèo mũi, “ẵm” hai cô em sau. Do một cơ duyên tình cờ từ mấy tháng trước, ba anh em cùng hẹn đến Kuku vì một lý do rất xa và rất gần...

 

Cách đây gần đúng 27 năm, anh Triệu cùng người vợ mới cưới, chị Cecile Hoàng Thu Minh, đến Kuku sau một chuyến vượt biên gian nan vào đầu tháng 6.1982. Mối tình đầy trắc trở và thử thách qua thời gian dài đã bắt đầu kết hoa đơm trái trên hòn đảo tỵ nạn này, một nơi thiếu hụt mọi bề mà đôi vợ chồng son coi như thiên đường trăng mật của họ.

 

Nhưng định mệnh oan nghiệt đã cướp đi mạng sống của chị - và chiếc bào thai vừa tượng hình trong bụng - sau gần 2 tháng đến đảo, giữa lúc ước mơ về một tương lai hạnh phúc vừa chớm nở. Cơn sốt rét cấp tính đã quật ngã chị - và xô luôn cả anh vào trũng xoáy khủng hoảng - sau mấy tuần chống chọi trong tuyệt vọng với căn bệnh. Chị được chôn cất vội vàng, chỉ vài giờ sau khi trút hơi thở cuối cùng vào buổi sáng, vì lúc ấy chuyến tàu Cao ủy Tỵ nạn LHQ đang chờ ngoài bãi Kuku và dự định sẽ nhổ neo vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày để đưa nhóm thuyền nhân ở đây về trại tỵ nạn Galang.

 

Mọi chuyện đều gấp rút. Anh bối rối không biết phải làm gì nên cứ chống chọi với hoàn cảnh được tới đâu hay tới đó, theo từng phút trôi qua. Rất may, chuyến tàu đã hoãn lại đến ngày hôm sau vì một lý do gì đó nên anh và một số người đi cùng ghe có cơ hội lên đồi thăm chị lần cuối để đốt nén nhang từ biệt... Phần mộ của chị nằm cạnh bãi đáp trực thăng do những người bạn và nhân viên Cao ủy Tỵ nạn LHQ chung tay giúp anh thiết lập. Họ đã che chắn chung quanh ngôi mộ bằng những thân cây lớn để chống mưa lũ xói mòn và cắm một chiếc thánh giá bằng gỗ đơn sơ ghi tên người quá vãng...

 

Trong nỗi đau khổ tận cùng lúc đó, anh hầu như không còn tâm trí nào để ghi nhận hoặc làm dấu nơi an nghỉ nghìn thu của người bạn đời. Anh như một kẻ mất hồn, ai bảo sao làm vậy, chứ không chủ động được việc gì trong nghi thức tang lễ hoặc mai táng cho chị. Anh chỉ mang máng nhớ rằng, theo lời chỉ dẫn của các cô bác cùng ghe, anh đã chôn theo trong quan tài những di vật (gương, lược, áo quần...) và để luôn chiếc nhẫn cưới trên ngón tay áp út của chị như lời kết nguyền một đời tình nghĩa phu thê. Anh cũng ghi chép các chi tiết cá nhân của chị và bỏ vào một cái chai được bịt kín để chôn trước đầu mộ, với hy vọng mai sau sẽ trở về tìm lại - hoặc có ai tình cờ tìm thấy mà biết gốc tích của người nằm dưới lòng đất và đốt giùm một nén nhang siêu thoát...