Danchimviet - http://danchimviet.com
Kuku, nhật ký thăm lại hòn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần 1)
http://danchimviet.com/articles/1270/1/Kuku-nht-ky-thm-li-hon-o-t-nn--Nam-Dng-Phn-1/Page1.html
Lưu Dân

 
Tác Giả Lưu Dân
Đăng/Published on 10.07.09
 
Ở đất nước có hơn 17 ngàn hòn đảo này, người ta có thể bắt gặp bất cứ nơi đâu các bãi cát vàng tươi, các vách núi cheo leo, các hang động hiểm trở và các làng chài hiền hòa muôn thuở...

Như một cơn “chửa trâu” dai dẳng và đầy thử thách, chuyến đi “Về Bến Tự Do” thăm lại hòn đảo tỵ nạn Kuku ở Nam Dương (từ 10 đến 18.04.2009) đã thai nghén ròng rã gần 4 năm mới vượt cạn được. Có lẽ, nó cũng “chọn lựa” ngày lành tháng tốt mới kết tụ đủ duyên để khai hoa nở nhụy. Mà đúng boong, năm nay chả là năm Con Trâu còn gì. Và thời điểm tháng Tư cũng gợi nhớ về những biến cố đau buồn của đất nước cũng như nhắc nhở về lý do ra đi của hàng triệu người Việt Nam ly hương...

Đây là chuyến đi lần thứ 7 kể từ năm 2005 do Văn khố Thuyền nhân Việt Nam (www.vktnvn.com) tổ chức để cám ơn các quốc gia tạm cư đã giúp đỡ người tỵ nạn, để tưởng niệm đồng bào nằm lại trên xứ lạ biển xa, để trùng tu di tích và thu thập tài liệu cho các thế hệ mai sau về cuộc di cư bi tráng nhất trong lịch sử nhân loại vào cuối thế kỷ 20...

Vì là lần đầu nên chuyến đi Kuku mang tính "dò đường", không được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt hải ngoại vì ban tổ chức e ngại các yếu tố an toàn và an ninh. Mọi người tham dự đều chấp nhận sự may rủi - thậm chí là mạo hiểm - trong chuyến đi; kể cả tai nạn, thời tiết hoặc bệnh tật dọc đường. Tất cả chỉ vì bụng dạ cồn cào, vì sự thôi thúc kỳ lạ của Kuku.

Nhưng dù “mang nặng” như vậy nhưng Kuku lại... “đẻ không đau”! Trái lại là khác, rất “mẹ tròn con vuông” với những cơ duyên gặp gỡ kỳ thú và sự huyền nhiệm không thể giải thích được theo lẽ thường. Nó đã trở thành một chuyến đi để đời với những kỷ niệm vui nhộn và xúc động, có cả tiếng cười và nước mắt, của mọi thành viên trong đoàn...

Ngày 1 (10.04/ 2009 Singapore - Tanjung Pinang): Trên đường... tập kết!
Từ tối hôm trước, các nhóm (trừ 4 người từ Pháp đi theo lộ trình riêng và đã đến trước Tanjung Pinang ở Nam Dương) từ Úc, Mỹ, Đức, Thụy Điển và Việt Nam đã lần lượt “tập kết” tại điểm hẹn, một khách sạn bình dân nhưng tương đối sạch sẽ trong khu Geylang ở Singapore, một... xóm bình khang khá nhộn nhịp về đêm.

Ông Trần Đông, trưởng đoàn của chuyến đi, cứ tíu tít như gà mắc đẻ. Dù đã đến Sing (theo cách gọi tắt của người Việt trong nước hiện nay) từ hôm trước để “trải nệm” địa điểm hậu cần nhưng cả trăm việc không tên dường như vẫn thúc hối được giải quyết vì lần này VKTNVN tự thân lo liệu mọi thứ cho... đỡ tốn tiền, chứ không “chơi sang” nhờ đến các công ty du lịch địa phương như những lần trước. Điểm đón và giờ đến phi trường của nhiều thành viên trong đoàn lại cách nhau khá xa nên “Trần Lão Gia” (chúng tôi thân mật gọi anh Trưởng đoàn như vậy) phải “trưng dụng tại chỗ” lực lượng nhân sự sẵn có: ai đến trước phải đi rước người đến sau! Cũng may, luộm thuộm một chút nhưng chẳng có mống nào bị lạc!

Màn tẩy trần “chào bãi” được nhanh chóng sắp xếp. Mấy chiếc taxi lao vút vào ánh đèn đêm lấp lánh, mang theo “đám du khách quốc tế không giống ai” đến Newton, khu ăn tối nổi tiếng ngon và rẻ với đầy đủ món nhậu nghêu, sò, ốc, hến và hàng trăm thứ hầm bà lằng khác... Nào, “dzô” một phát cho đẹp coi, trước lạ sau quen! Mọi người nâng ly kết thân, lại còn kẹp nách hai chai cognac đi đường vì nghe đâu rằng bên đất nước Hồi giáo Nam Dương thứ chất cay này rất khó kiếm.

Sở dĩ ban tổ chức chọn lựa địa điểm Geylang (sau khi so sánh thiệt hơn với các chuyến đi trước) là vì những lý do thực tế: giá cả mềm mại, di chuyển thuận tiện, hàng quán gần kề và - có lẽ quan trọng nhất - là cơ hội để những người trong đoàn tự thân trải nghiệm mặt trái trong đời sống của đất nước được mệnh danh là “mini-superstate” (tiểu siêu quốc) này. Ừ, cũng nên chứ, đi một ngày đàng mà chẳng học được một sàng khôn nào thì hóa ra... chẳng phí lắm ru!

Ồ, nơi này có nhiều chuyện thú vị đáng kể lắm, các bạn ạ. Trước hết, đó là cú sốc mở màn đối với những người mới tham dự lần đầu, nhất là các bà các cô “nhạy cảm” với... dịch vụ đèn đỏ. Mấy trự đàn ông bị quản lý chặt hơn cửa hàng quốc doanh kiểm soát sổ gạo. May mà ở Sing khá lịch sự, không có cảnh chèo kéo ngoài đường nên cũng... không đến nỗi nào. Tuy vậy, hai cô trong đoàn trên đường về lại khách sạn sau buổi ăn tối vẫn “được” mấy chàng Ấn Độ hay Mã Lai gì đó để mắt rủ rê...

Sinh hoạt ở khu phố này càng về khuya càng... tưng bừng. Hàng chục - không, phải là hàng trăm mới chính xác - cô gái ăn sương (và cả những chàng “lady boy”) son phấn diêm dúa lượn lờ dọc theo các khách sạn, trong đường hẻm, dưới cột đèn... Điện thoại di động của họ cứ reo liên tục và, một số khá đông, í ới gọi nhau bằng... tiếng Việt. Ra vậy, thanh niên “thế hệ Hồ Chí Minh” không còn đất sống trong nước đến phải “xuất khẩu lao động” thế này. Những chuyện về “cô dâu Việt ở Sing” hoặc những đường giây công an Việt cộng buôn gái mãi dâm ra nước ngoài đang diễn ra ngay trước mắt chúng tôi, trần trụi và phũ phàng. Nghĩ vừa buồn vừa giận. Mấy ly bia tẩy trần hồi đầu hôm đã không đủ đô để đè xuống nỗi nhục của cảnh tha phương cầu thực kiểu này trong giấc ngủ chập chờn...

Buổi sáng, chầu cà-phê vỉa hè (nói thế cho giống... bụi đời, chứ thật ra chúng tôi ngồi trong một quán lề đường đàng hoàng) làm cho mọi người tỉnh táo hẳn sau chuyến bay dài và cả chục đĩa nghêu sò đêm trước. Chưa dứt màn tán gẫu vụn vặt, Trần Lão Gia đã thông báo một tin... hổng muốn nghe: trục trặc giờ phà sang Nam Dương, phải “ngồi đồng” ở Sing đến chiều. Ừ, cũng chẳng sao. Lại có dịp ngắm nhìn phố phường của Hải cảng Sư tử.

Một sáng kiến chợt lóe lên: Sao mình không làm một cú City Tour (Lòng vòng Thành phố) nhỉ, tội gì phải bó cẳng ngồi đây? Trong chương trình, mọi sinh hoạt được sắp xếp khít khao đến từng giờ nên không có một chỗ trống nào cho mục thư giãn như thế. Vậy, a-lê-hấp, biến khó khăn thành thuận lợi đi chứ!

Buổi ăn trưa, thay vì dự định ở Nam Dương, được đặt bàn cấp tốc tại một nhà hàng gần khách sạn để o bế bao tử của “thập bát anh hào” (vì ai nấy đều... ăn khỏe như trâu) trước khi 18 trự (không kể 4 mạng đã “cắm dùi” trước bên Nam Dương) chất lên chiếc mini-bus thuê bao trực chỉ hướng trung tâm thành phố.

Ông nhà báo Lưu Dân (mà mọi người cứ “vô tư” bỏ dấu sai thành... Lựu Đạn) tình nguyện làm hướng dẫn viên du lịch vì đã nhiều lần đến Singapore. Chiếc xe - với chàng tài xế nói tiếng Anh khá sõi - đưa chúng tôi đến các thắng cảnh nổi tiếng, như: Nhà hát Sầu Riêng (vì hình dáng của nó trông giống loại trái cây này), Viện Bảo tàng Nghệ thuật Á châu (khi ấy đang có cuộc triển lãm về các phẩm vật triều cống của các nước chư hầu cho Trung Hoa trong những thế kỷ trước), Công viên Merlion Park (nơi đặt bức tượng đầu sư tử đuôi cá đang phun nước, biểu tượng của Singapore) và Mount Faber (đỉnh núi có đường giây cáp treo đến đảo du lịch Sentosa)...

Âm thanh và ánh sáng từ các chiếc máy hình đủ loại, đủ kiểu cứ vang lên tí tách ở mỗi nơi dừng lại. Kẻ đứng tạo dáng, người khom bấm máy rộn cả góc trời khiến ông trưởng đoàn phát hoảng la toáng lên: “Nè, chừa memory cho hình ảnh Kuku nghen. Chuyến đi chưa thực sự bắt đầu đâu, bà con ơi!” Thế chứ, tưởng trục trặc hóa ra lại hay, và đáng đồng tiền bát gạo. Chuyến City Tour đã “gỡ” lại được phần tư vé bay rồi đấy! Đến 4 giờ chiều, mọi người lên tàu tốc hành sang Nam Dương mà câu chuyện vẫn râm ran chưa dứt.

Bấy giờ, một số người mới... thấm mệt. Vài nam tử và dăm cô nương đã riu ríu đôi mi, quẹo đầu lên vai người bên cạnh (có kẻ còn ngáy thành tiếng nữa, trời ạ) khi chiếc Penguine II tách bến rời Sing rẽ sóng đến Tanjung Pinang. Các chuyến bay dài, giờ giấc thay đổi và sự vui chơi hết mình đã bắt đầu... phát huy tác dụng. Chiếc đồng hồ sinh học trong cơ thể của họ đang báo hiệu hết pin, cần được sạc lại. Mà dễ gì chống lại được cơn buồn ngủ khi gió mát cứ mơn man, sóng biển cứ vỗ về và những người bạn đồng hành khác cứ gật gù... cầu nguyện hòa bình.

Vậy mà vẫn có người tỉnh queo! Cậu bạn trẻ Phạm Đình Chấn từ Munich (quên hỏi có bà con gì với nhạc sĩ Phạm Đình Chương không), một chuyên viên tư vấn trong công ty tái bảo hiểm nổi tiếng thế giới của Đức, vẫn chuyên chú giở từng trang kinh Phật lâm râm tụng niệm trong suốt chặng đường. Gọi là “cậu” cho thân tình, chứ thật ra Chấn đã từng ở Kuku cách đây 27 năm khi còn là một đứa bé 9-10 tuổi (cứ tính ra thì biết tuổi, kẻ viết bài này vốn dốt toán). Nhìn Chấn, có lẽ bạn khó tưởng tượng được một người thuộc “thế hệ trẻ” có trình độ và năng lực cao, trưởng thành và làm việc trong xã hội Âu Tây (Pháp và Đức) nhưng làu thông tiếng mẹ đẻ, tinh tường kinh kệ và gắn bó với sinh hoạt cộng đồng người Việt ở nơi cư ngụ như thế!

(Cái xui nhất của chàng này - ôi, cơ trời sắp đặt - là ở chung phòng và phải chịu đựng tiếng ngáy “sư tử hống” của ông già Lựu Đạn nhiều ngày trong chuyến đi. Thật ra, cả hai có thể lập nên “ban hợp xướng” rất ăn nhịp trong bản trường ca kéo gỗ!)
Vậy mà vẫn có người tỉnh queo! Như anh bạn muối tiêu Văn Nam (cùng đi với “một nửa của minh” Xuân Hương) từ Munich, Đức, mắt nhắm nghiền vai lắc lư theo nhịp sóng, hai tay bịt tai không phải vì tiếng lâm râm đọc kinh của người bên cạnh mà có lẽ vì không chịu được âm thanh rầm rì của máy tàu. Như nàng Oanh Oanh (nghe tên cứ như là... tài tử Hồng Kông) từ Perth, Úc, tỉ tê không hết chuyện với em gái Mimi Đài-Trang (cô út của đoàn, “điệu” hết biết luôn!) từ California, Mỹ, lâu ngày mới gặp lại. Như chàng lãng tử Anh Huy (lần thứ nhì tham dự chuyến đi Về Bến Tự Do) từ Georgia, Mỹ, cứ đứng trên boong ngắm mãi những lượn sóng trắng xóa mà hồn để tận đâu đâu...

Vậy mà cũng vẫn còn người tỉnh queo! Trần Lão Gia và cậu út Tuấn Hùng (từ Goteborg, Thụy Điển, lần thứ ba cùng đi với đoàn VKTNVN) nhón gót từ trong ra ngoài tàu, nhẹ nhàng bấm những tấm hình của từng người trong tư thế “rất thoải mái” để mong... bán lại kiếm chút cháo. Có ai từng nhìn thấy mình trợn mắt hoặc há mồm trong khi ngủ chưa nhỉ? Cứ đến năn nỉ hai ông phó nhòm ấy để khỏi bị đưa hình lên Net cho cả thế giới chiêm ngưỡng.

Và dĩ nhiên, cũng còn kẻ viết bài này, ráng nhướng mắt đấu vật với cơn buồn ngủ để ghi chép “Nhật ký dọc đường”.

Sau gần 2 tiếng bập bềnh trên biển, chiếc Penguine II cập cảng Tanjung Pinang vừa lúc mặt trời cũng uể oải giã từ một ngày. Chúng tôi nhận ra ngay sự khác biệt rõ rệt trong phong cách làm ăn giữa nước vừa đi và nước mới đến: ở Sing mọi sinh hoạt đều rất trật tự và quy củ, trong khi ở Nam Dương rất lộn xộn và xô bồ. Mọi người được nhắc nhở phải để ý đến hành lý của mình vì các tay bốc vác cứ giật lấy những chiếc va-ly hoặc túi xách từ khoang tàu để đưa lên xe đẩy của họ, y hệt như quang cảnh tại bến xe đò ở Việt Nam. Tuy không có sự mất mát hay cãi cọ giữa chúng tôi với cánh phu phà đó, nhưng cách giành giật như vậy đã tạo ấn tượng chẳng “vui lòng khách đến” tí nào cả.

Màn “thủ tục đầu tiên” trên đất Nam Dương đã... gặp ngay trục trặc: dù Ban tổ chức - qua Công ty du lịch địa phương - đã đóng lệ phí visa nhập cảnh 25USD cho mọi người trong đoàn nhưng thời hạn chúng tôi được phép lưu trú trên quốc gia này chỉ có 7 ngày, trong khi chương trình dự trù kéo dài đến 8 ngày. Thế là mỗi người phải móc ra 25USD nữa, dù chỉ “ở nán” thêm một ngày. Ai đó bỗng dưng hát một câu... vô duyên (mà đúng phóc tình cảnh dỡ mếu dỡ cười của chúng tôi lúc đó): “Lỡ leo rồi, làm sao neo được em ơi...” Thật ra, đó là... luật, chứ chẳng phải một khoản “hoạnh tài” nào của nhân viên kiểm soát di trú, nhưng cứ trông khuôn mặt méo xẹo của anh Trưởng đoàn mà... thấy thương!

Rồi “chuyện nhỏ” cũng qua, hai chiếc xe bus tương đối tiện nghi đưa chúng tôi lòng vòng qua các khu phố chính của Tanjung Pinang, thành phố lớn thứ nhì của đặc khu Riau sau Batam, lúc người dân bắt đầu đời sống về đêm. Hàng quán sáng trưng, xe cộ dập dìu, âm thanh rộn ràng như những thành phố Á châu khác - cũng mang nét xô bồ nhưng thân thuộc như bạn đang ở Manila, Bangkok hay Kuala Lumpur. Vừa lúc chúng tôi cảm thấy “ông-mê” vì những ổ gà trên chặng đường ngoằn ngoèo hơn nửa giờ, hai chiếc xe bus đậu lại trước bậc thềm của một khách sạn nguy nga trên đồi cao: Hotel Comfort, nơi được coi là “chỗ ngủ êm ái nhất của thành phố”.

Từ trong lobby, băng... “tứ nhân bang” từ Paris, Pháp (gồm đôi niên trưởng Tôn Thất Vinh - Vân Hải và cặp trung niên Đình Chung - Ngọc Thúy đã đến cắm dùi ở đây từ hôm trước) ùa ra chào đón, môi cười kéo dài đến tận mang tai! Dù chưa diện kiến tận mặt bao giờ nhưng ai cũng cảm thấy gần gũi và quen thân... từ kiếp trước. Chả gì, cả tháng trời chit-chat với nhau qua email, những chân dung mùa hạ mùa thu đã khoe ra khắp thiên hạ, cũng đủ tay bắt mặt mừng!

Lại màn nhận phòng cấp tốc như nhà binh, rửa sơ khuôn mặt nhớm nháp bụi đường (chỉ được phép 5 phút) trước khi tụ lại buổi sinh hoạt chung đầu tiên có mặt đầy đủ cả đoàn (gồm 22 người: 8 Úc, 4 Mỹ, 4 Pháp, 3 Đức, 2 Việt Nam và 1 Thụy Điển). Dưới ánh sáng của mấy ngọn đèn pha bên hồ bơi êm ả phía sau khách sạn, các món đặc sản Nam Dương được dọn ra ê hề (bánh phồng cá, chả cuốn cá, cà-ri cá, canh chua cá... và cả chục món cá khác), chuyện nổ như bắp rang, các món quà giao lưu được chuyền tay nhau và các chiếc máy ảnh lại tí tách, tí tách...

Có người bấm tay tính nhẩm: “Ở khách sạn thế này, ăn uống thế này, gỡ được thêm phần tư vé bay nữa, vị chi đáng nửa tiền đường rồi, mà chỉ mới một ngày!”
Ôi, sau này tôi mới “ngộ”, người ấy “có biết đâu niềm vui đang nằm trong thiên tai” vì gần suốt chặng đường còn lại chúng tôi chẳng những không được ở “khách sạn thế này” nhưng lại phải “ăn uống thế này” đến... phát ngán!

Ngày 2 (11.04 Terempah - Kuku): Đoạn đường... chiến binh!
Trước khi đến Tanjung Pinang, chúng tôi đã được Edi Surbakti, sếp của một công ty du lịch ở Batam và là người hướng dẫn đoàn, báo trước về một “trục trặc ngoài chương trình” khác: chiếc tàu khách hai tuần một chuyến từ Tanjung Pinang đến Letung mà chúng tôi đã đặt chỗ first-class cả tháng trước đang phải... nằm ụ để sửa chữa. Do vậy, thay vì cưỡi thuyền lướt sóng, chúng tôi sẽ đi mây về gió bằng chim sắt, không đến thẳng “hậu cứ Letung” mà phải bay vòng đến Matak rồi sau đó mới đáp tàu khách sang Terempah và ca-nô tốc hành đến Letung vào ngày hôm sau.
Do sự thay đổi lộ trình, mọi người được “gợi ý” (thực sự là... bắt buộc) chỉ mang theo “trang bị tác chiến” đủ cho 4 ngày mà thôi; như giấy tờ tùy thân, quần áo lội rừng, thuốc men cá nhân, lễ vật cầu nguyện và... mấy chai Martell phòng hờ. Phần hành lý còn lại phải gửi ở khách sạn Tanjung Pinang, vòng về tính sau.

Chuyện nhỏ, chẳng ai thắc mắc về sự thay đổi phương tiện di chuyển và chuẩn bị hành trang này, cho đến khi...Dù Trần Lão Gia nhiều lần nhắc nhở về “kỷ luật giờ giấc” trong sinh hoạt tập thể nhưng dường như thói quen lề mề là một cố tật khó bỏ của... người Việt đáng yêu! Buổi ăn sáng dự trù 1 giờ được kéo giãn gấp đôi, có lẽ vì món cháo trắng thanh đạm nhưng ngon miệng với cá cơm kho và hột vịt muối đã níu chân chúng tôi thêm một tua nữa! Bù lại, khi Edi toét còi lên xe thì mọi người đều... đâu vào đấy! Màn điểm danh nhanh gọn “Số 1, có! Số 2, có!... Số 22, có! Đủ, hồn ai nấy giữ nhé. Lên đường!” Lệnh lạc cứ như là hành quân. Mà quả vậy, chúng tôi sắp đi qua một “đoạn đường chiến binh” (hiểu theo nghĩa kiên nhẫn, chịu đựng và... không càm ràm) mà hầu như chẳng ai biết trước...

Hai chiếc xe bus hôm qua lại đưa chúng tôi ra phi trường Tanjung Pinang. Tiết mục thử thách sơ khởi bắt đầu: chờ đợi! Như nhiều hãng hàng không nội địa ở các quốc gia khác, chuyến bay của Air Riau đến Matak bị trễ đến gần 2 tiếng đồng hồ. Lại một chuyện “ngoài chương trình” khiến anh chàng hướng dẫn viên Edi xuề xòa vui tính cũng phát cáu. Buổi cơm trưa tay cầm (lại bánh phồng cá, chả cá và... thêm cái đùi gà) được đưa vào tận phòng đợi cho mọi người. Dường như tất cả chúng tôi đều “thi đậu” màn thử thách kiên nhẫn này.

Phi trường Tanjung Pinang thoạt trông cũng giống như các phi trường Đà Nẵng, Huế hoặc Cần Thơ của Việt Nam trước năm 1975, vẫn mang một nét vừa gần gũi vừa... nhà quê. Mọi thủ tục giấy tờ và khám xét hành lý đều làm bằng tay nên tốc độ khá chậm chạp. Rất may, chúng tôi đã được thu xếp trước nên đã tránh được sự phiền toái này. Mấy khi ở tỉnh lẻ lại có một nhóm “du khách quốc tế” đông đảo thế!

Vài chàng lấm tấm muối tiêu (và cả mấy trự “lơ thơ tơ liễu buông mành” trước trán nữa) “tranh thủ” vào một câu lạc bộ nhỏ xíu trong góc phòng chờ đợi, cà-phê thuốc lá và... tán gẫu với cô nhân viên thông tin khá xinh. Họ nói chuyện bằng miệng - với những chữ Nam Dương vừa học được “Salamat pagi” (Chào bạn), “Terimakasi” (Cám ơn)... - và bằng tay, vì vốn từ vựng của đôi bên chỉ đến bấy nhiêu. Bỗng nhớ Pleiku lạ lùng, “may mà có em đời còn dễ thương...”

Cà-phê ở phi trường - cũng như ở các hàng quán mà chúng tôi có dịp dừng chân trên đất Nam Dương - là... cực kỳ dở! (Ấy chết, chỉ là theo khẩu vị của kẻ viết bài này thôi. Nói phứa lên oan mạng có ngày!). Người bán cứ “vô tư” xúc hai muỗng nhóc cà-phê xay sẵn, đổ nước sôi vào, quậy tưng lên cho ra màu và trút thêm hai muỗng đường nữa là... xong, bất chấp người mua thích uống theo gout nào. Bạn phải chờ xác cà-phê lắng xuống, hớp nhẹ phần trên ngọt như chè và lim dim đến cả phút sau mới thấy... chất cafeine.
Còn thuốc lá thì... khỏi nói. Dân Nam Dương phì phèo như khói tàu. Họ thích hút loại thuốc Garam tẩm mùi đinh hương thơm phức và ngọt lịm, nổ tí tách theo từng hơi rít vào. Không gian nồng nồng cái mùi đặc biệt này nhưng dường như chẳng thấy ai tỏ vẻ khó chịu hoặc phàn nàn. Ở đâu họ cũng có thể hút thuốc thoải mái - trong khách sạn, nhà hàng, phòng họp... (có lẽ chỉ trừ trên máy bay). Mấy ông nghiền thuốc lá trong đoàn có vẻ khoái chí về quyền tự do cá nhân đó, chả bù với sự nghiêm cấm gắt gao tại những quốc gia họ đang sinh sống!

(Một ghi nhận nhỏ, thú vị: Khi làm thủ tục kiểm soát hành lý ở phi trường, tất cả hộp quẹt gas đều bị tịch thu vì lý do an toàn, nhưng lúc vào bên trong phòng đợi ai cũng móc ra... một cái khác để mồi thuốc lá. Hay thiệt!)

Cuối cùng, chiếc phi cơ Fokker 27 hai cánh quạt từ thời... Đệ nhị Thế chiến cũng đã đến. Cùng với các hành khách địa phương, chúng tôi (với 3 nhân viên tháp tùng của công ty du lịch) lục tục... đi bộ ra phi đạo. Nhìn chiếc máy bay, cả đoàn đều... thót ruột, nhưng sự lo ngại đó tan biến ngay bởi lời trấn an đầy thẩm quyền của niên trưởng Vinh, một cựu phi công dân sự quốc tế từng có 40 năm kinh nghiệm trong nghề: “Loại máy bay này tuy cũ nhưng an toàn lắm, không sao đâu!” Lại câu hát vô duyên của anh chàng mắc dịch vang lên: “Lỡ leo rồi, làm sao neo được em ơi...”
Sự uể oải của mọi người dường như được “massage” tỉnh táo ngay bởi thái độ lịch sự của viên phi công và nụ cười duyên dáng của hai cô tiếp viên. Cậu út Tuấn Hùng bị hớp hồn từ lúc đó - và chẳng biết bằng cách nào, chàng trai độc thân 35 tuổi từ xứ Bắc Âu này đã “dụ” được cả hai mỹ nhân Nam Dương cho số phone và chụp chung hình với họ trong cockpit. Bái phục, “hậu sinh... khả ố” có khác!

Chuyến bay ngắn, chỉ trên dưới một giờ. Thời tiết khá tốt, phong cảnh bên dưới đẹp như tranh vẽ, trùng điệp những cánh rừng nhiệt đới xanh ngắt trên những hải đảo chập chùng không dứt. Chúng tôi thay phiên nhau ngồi bên các khung cửa sổ để quay phim và chụp hình, một phần vì không cưỡng lại được sức thu hút của vẻ đẹp thiên nhiên và phần khác, để “mở cửa xin chút... gió” vì hệ thống điều hòa bên trong có lẽ không hạ nhiệt nổi những trận cười nghiêng ngã từ các mẩu chuyện tiếu lâm râm ran suốt chuyến bay. Các hành khách Nam Dương đi cùng dường như bị truyền nhiễm niềm vui của chúng tôi nên họ cũng vỗ tay tán thưởng hoặc cười theo.

(Một ghi nhận nữa, cũng thú vị: Khi phi cơ đáp xuống đường băng, mọi hành khách đều đồng loạt vỗ tay hoan nghênh phi hành đoàn đã thực hiện một... chuyến bay an toàn. Cả hai lần chúng tôi bay ở Nam Dương đều như thế. Vậy, mỗi khi có dịp đáp phi cơ nội địa ở nước này, bạn hãy nhớ thủ tục đó nhé! Không nghe tiếng vỗ tay t ức là... có chuyện rồi!)

Đến Matak, sau thủ tục gọn nhẹ, đoàn “du khách quốc tế” chúng tôi được đón tiếp niềm nở tại phi trường bởi chính... “chúa đảo”. Tôi cứ đoán bừa vị sĩ quan cao lớn, sắc phục chỉnh tề và có nụ cười dễ mến đó là... Đại úy, vì ông mang lon 3 mai vàng trên cổ áo, y chang như cấp bậc trong quân đội VNCH ngày xưa. Rồi bắt tay bắt chân, rồi chụp hình kỷ niệm, rồi “Selamat Datang” và “Terimakasi”... búa xua trước khi chúng tôi chất lên 2 xe mini-bus ra bến tàu khách cách đó khoảng 10 phút.

Bến tàu khách Matak tuyệt đẹp, nhà sàn sát mí nước, biển và rừng trùng điệp xanh ngắt. Chúng tôi đi cùng khoảng 50 người dân địa phương (cộng với xe gắn máy, gà vịt, mì gói và đủ thứ hàng tạp hóa khác) đến Terempah, giống hệt các chuyến đò ngang ở miền Tây Nam Bộ của quê hương nhưng trật tự và an toàn hơn. Nhiều người trong đoàn cũng cảm nhận một niềm vui nhẹ nhàng khi nhìn thấy một nhà sư Phật giáo trung niên đi cùng trên tàu. Ở đất nước Hồi giáo này, nhà thờ Công giáo hay chùa chiền Phật giáo là những hình ảnh hiếm thấy. Vạt áo cà sa màu vàng nghệ và khuôn mặt thư thái của vị sư nổi bật trên nền trời trong xanh giữa ngổn ngang những tất bật thế sự trên chuyến tàu hôm ấy đã mang đến một cảm giác yên bình và may mắn. Chúng tôi nào biết đó là cái duyên đầu tiên của mình trong chuyến đi tìm về kỷ niệm này...

Tàu càng xa bờ mọi người càng ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên. Ở đất nước có hơn 17 ngàn hòn đảo này, người ta có thể bắt gặp bất cứ nơi đâu các bãi cát vàng tươi, các vách núi cheo leo, các hang động hiểm trở và các làng chài hiền hòa muôn thuở... Nhưng có lẽ ấn tượng đập mạnh nhất vào mắt chúng tôi khi tàu đến gần Terempah là ngôi chùa chênh vênh trên sườn núi, mái ngói đỏ au như một chấm son tươi trên nền đá xám dãi dầu. Nơi đây, vào buổi tối hôm đó, chúng tôi đến lễ Phật và gặp lại vị sư đi cùng tàu, người chỉ thỉnh thoảng từ Matak sang Terempah một lần nhân những ngày vía lớn.

Đến Terempah, chẳng có “quan chức” nào... ân cần tiếp đón cả, ngoài một bầy con nít tíu tít reo hò và những ánh mắt hiếu kỳ từ các hàng quán bên cầu tàu. Ừ, như thế dễ chịu hơn, chứ khách sáo hoài cũng mệt. Vậy mà chúng tôi vẫn nhìn thấy một tấm băng-rôn lớn giăng ngay trên đường phố chính của đảo “Chào mừng đoàn du khách đến thăm Kuku”.

(Còn nữa)

© 2009 Đàn Chim Việt Online