Từ tháng 3 năm 2009 đến nay, không đầy 2 tháng, tại Mỹ, đã có 8 vụ nổ súng vì cơn điên, và lấy đi sinh mạng của 57 người. Con số vượt xa thiệt hại binh lính Mỹ tại hai chiến trường Iraq và Afganistan. NRA kín đáo từ chối không bình luận gì, lấy cớ hãy để cho các gia đình nạn nhân yên tĩnh, lo an táng các nạn nhân. Khi nào tình hình lắng đọng lại, sẽ tính. Nhưng khi đó, dư luận xuống, còn ai muốn bàn tán gì nữa. Ngay tháng 3 năm 2009, 65 dân biểu đảng dân chủ tuyên bố sẽ ngăn cản mọi dự luật cấm buôn bán súng tự đông của Liên Bang. Họ sẽ chống đối gia hạn cấm mua bán súng tự động. Họ sẽ ngăn cản bất cứ đạo luật nào cấm mua súng quân đội đang dùng.

Lúc này chắc chắn không phải là lúc tuyên bố một cách vô lương tâm như vậy. Nó đi ngược với nguyện vọng của dân Mỹ càng ngày càng đông, muốn giới hạn mua bán võ khí. Không cần thiết, không đúng lúc, nhưng các dân biểu vẫn làm, và có lẽ phải làm. Chắc hẳn họ được các nhà sản xuất võ khí hậu đãi, và biết ơn lắm.

William Philip Gramm là một trong người chủ chốt, tác động lên khủng hoảng kinh tế hiện nay. Ông là nghị sỹ dân chủ (1978–1983), nghị sỹ cộng hòa (1983-1985), thượng nghị sỹ cộng hòa (1985-2002), và làm cố vấn kinh tế cho ông McCan trong cuộc bầu cử cho tới ngày 18/06/2008.

Năm 1999, ông đưa ra bộ luật Gramm-Leach-Bliley Act xóa bỏ ngăn cách giữa ngân hàng, bảo hiểm và ngành môi giới (broker). Theo Washington Post 2008, ông là 1 trong 7 người trách nhiệm chính, đã bãi bỏ các luật lệ điều tiết buôn bán derivatives vào những năm 1998-99. Ông thường xuyên chống lại CEO Securities and Exchange Commission (SEC) xin thêm ngân khoản, thuê thêm người để theo dõi các hoạt động Walll Street ngày một gia tăng. Ông cũng chống lại luật lệ của Securities and Exchange Commission cấm các công ty kế toán gần, hay có liên hệ với các công ty kiểm tra (audit). Ông đe dọa cắt ngân khoản của Securities and Exchange Commission nếu luật lệ này được chấp thuận.

Dựa vào xóa bỏ ngăn cách này, mà những công ty tài chính khổng lồ đã được thành lập như Citigroup, và cũng phá vỡ luôn những phương cách làm việc của các ngân hàng nhỏ. Từ trước đến 1990, ngân hàng biết những ai họ cho mượn tiền, và số nợ đó nằm trong kế toán của họ. Lẽ dĩ nhiên, các ngân hàng không dại dột gì cho vay những nơi ít có khả năng trả lại. Ngáy nay, các cơ quan tài chính chẳng lo ngại lắm khi cho mượn những nơi rủi ro lớn, miễn là ngay sau khi cho mượn xong, lấy được các chi phí, họ có thể bán đi cho một cơ quan đầu tư nào đó, và cho vay tiếp.

Vào 15/10/2000, khi nước Mỹ còn đang xôn sao đếm phiếu ở Florida, chính phủ Mỹ và quốc hội vội vã biểu quyết cho xong một mớ các dự luật chi tiêu 381 tỷ dollars, ông Gramm đã xen vào đó Commodity Futures Modernization Act. Ðạo luật được viết với sự giúp đỡ (hay hoàn toàn) của những lobbyists trong ngành tài chánh. Ngay ông Gramm cũng đã tưởng đạo luật này chết rồi, không ngờ xen vào một mớ các dự luật chi tiêu, và được thông qua. Ðạo luật này không cho phép làm ra những đạo luật điều chế về credit swaps, chứng khoán hay công phiếu.  Ngân hàng thương mại cạnh tranh trực tiếp với các cơ quan tài chính hay đầu tư, mua bán credit swaps để có lời nhiều hơn. Ông Eric, lãnh đạo New York State Insurance Department cho rằng quan niệm CDS không phải là đánh cá, hay chứng khoán mở đường cho phát triển, và tăng trưởng của thị trường tài chính.

Tình trạng không điều tiết (deregulation) tiến thêm bước lớn nữa vào 2004. Các xứ thị trường chung Âu Châu lo ngại, muốn kiểm soát nhiều hơn nữa các hoạt động đầu tư của các ngân hàng lớn của Mỹ tại Âu Châu nếu Mỹ không tự kiểm soát lấy. Vào ngày 28 tháng tư năm 2004, 5 ngân hàng đầu tư Mỹ lớn nhất, với sự giúp đỡ của giám đốc Goldman Sachs Hank Paulson, xin chịu những điều luật mới ràng buộc những rủi ro về đầu tư, và để bù lại xin bãi bỏ tất cả những ngăn cấm về vay mượn. Tồng Giám Đốc điều hành (CEO) William Dolnaldson của Securities and Exchange Commission (SEC) bằng lòng quyết định đó, và những điều luật mới đủ bảo đảm khiến các xứ thị trường chung Âu Châu cũng bãi bỏ dự tính mong muốn kiểm soát thêm các nhà đầu tư khổng lồ Mỹ. Donaldson và người kế vị Cox không làm một gì để điều tiết hoạt động của các ngân hàng, mà tạo ra một hội đồng 7 người để dòm ngó $4,000 tỷ của 5 ngân hàng đầu tư Mỹ. Sau đó hết thời ông Donaldson, và một năm rưỡi thời ông Cox, hội đồng này chưa có giám đốc, và dĩ nhiên chưa làm một thanh tra nào. Các ngân hàng lời lớn vì trước kia kêu than bị kiểm soát bởi SEC, và thị trường chung Âu Châu, nay không còn bị một ai kiểm soát cả, hoàn toàn tự do!!!

Kẽ hở này cho phép Cassano có thể bán bao nhiêu CDS mà ông muốn, liên quan tới một số tiền cả trăm tỷ dollars mà chính phủ, hay các quan kiểm soát như SEC không nói một chữ nào. Khi một ngân hàng đầu tư cho ra một CDS, ngân hàng phải bảo chứng nó. Nhưng công ty bảo hiểm thì không bắt buộc!!! Thế là AIGFP đánh cá cả tỷ, cả tỷ dollars.

Các hoạt động của AIGFP và cũng như các cơ quan tài chính khác bị tiết chế bởi Office of Thrift Supervision (OTS). Trên thực tế làm sao một công ty tý hon OTS có thể trông coi một công ty khổng lồ như AIGFP. Vào năm 1999, một đạo luật được thông qua cho phép các công ty như AIGFP có quyền lựa OTS để trông coi những hoạt động của chính mình!!! Cùng trong năm 1999, AIG mua một công ty OTS ở Delaware, và tìm cách xin được giấy phép cho công ty OTS này chính thức kiểm soát tất cả những hoạt động của AIG.

Nước Anh là nước bảo thủ, mọi cải cách, thay đổi vô cùng khó khăn. Nước Anh có truyền thống lâu đời về ngân hàng, và bảo hiểm. Lloyds là hãng bảo hiểm lớn bậc nhất thế giới. Lloyds bảo hiểm thương mại cho trên 200 xứ, có nghĩa là tất cả các xứ trên thế giới. Các hãng bảo hiểm khác phải tái bảo hiểm tại Lloyds. Hệ thống ngân hàng, và bảo hiểm tồn tại lâu dài là nhờ luật lệ rất khắt khe, và bảo thủ. Nhớ lại chuyện một ông chủ ngân hàng người Do Thái tại Ðức, nhận thấy sớm muộn Ðức sẽ có chế độ phái xít, đã bỏ Ðức và sang Anh mở ngân hàng 4 năm trước khi Hitler nắm chính quyền. Ông bị các chủ ngân hàng khác xem như con ghẻ, vì không nằm trong những giới truyền thống ngân hàng Anh. Khi ông cho đăng tải ý muốn ngân hàng của ông mua các cổ phần của một công ty đang có trên thị trường với giá cao, để có đủ đa số cổ phần kiểm soát công ty đó. Các chủ ngân hàng phản đối cung cách làm việc ra ngoài khuôn khổ. Cổ chí kim có ai làm thế bao giờ. Chuyện lôi thôi đến nỗi, Thủ tướng Anh gọi ông vào văn phòng để thuyết phục ông bỏ cách làm ăn khác thường ấy. Dần dần giới tài chính Anh mới chấp nhận chuyện đó.

AIGFP có trụ sở tại Luân Ðôn, nơi mà các luật lệ kiểm soát các ngân hàng, và các cơ quan tài chính ngặt nghèo nhất. Mấy ngân hàng, hay cơ quan tài chính nào qua mặt được Britan’s Financial Services Authority. Vậy mà công ty OTS tìm mọi cách chứng tỏ là có dư khả năng theo dõi và kiểm soát các hoạt động của các công ty khổng lồ. Ðến năm 2007, OTS được cho phép theo dõi AIG, GE, và Ameriprise.

Cùng năm đó, khủng hoảng suprime bùng nổ. Government Accountability Office mới kêu lên OTS không đủ tầm vóc để theo dõi và kiểm soát. Riêng về ngành bảo hiểm, OTS chỉ có một chuyên gia để theo dõi hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG. Nói tóm lại tất cả những kiểm soát có tính cách hình thức, và giới hạn. AIG giải thích cho các nhân viên của OTS là những gì họ làm CDS, Credit swaps không có một hiểm nghèo nào cả. Các nhân viên OTS cũng không tài nào hiểu khác được trước những vấn đề vô cùng phức tạp. Nói thêm là những CDS, CS, derivatives là những hợp đồng, đều kèm theo những văn kiện viết ra bởi những luật sư siêu việt về luật, và kinh tế, còn khó hiểu hơn nhiều những giao kèo, hợp đồng của các công ty bảo hiểm nhà cửa, xe cộ, hay thẻ tín dụng.

Vào đầu tháng ba, sau lần bail out, ông Tresury Secretary Timothy Geithner nói là AIG quá lớn, lại dính với nhiều chi nhánh ngân hàng đầu tư, hedge fund mà không có một cơ quan nào kiểm soát cả. Tất cả những ngân hàng, cơ quan tài chính, và các công ty lớn, đều có những chuyên gia của hãng, hay consultants kiểm soát hoạt động của các nhân viên. Tùy theo chức bậc, và nhiệm vụ, nhân viên được quyền chi tiêu, mua bán đến một mức độ nào. Khi có những hoạt động nào bất bình thường, họ có nhiệm vụ báo động ngay cho cấp trên để hành động. Nếu AIG có những chuyên gia nội bộ kiểm soát đắc lực như vậy, thì nhiều chuyện đã được ngăn chặn kịp thời. Nhưng những hoạt động lại do chính các CEO và ban quản trị chỉ nhìn theo tiền thưởng, chủ chương thì vô phương cứu chữa. Sáu tháng trước khi chuyện đổ bể, AIG tìm kiếm chủ sự tài chính (Chief Financial Officer), và chủ sự kiểm báo rùi ro tài chánh (Chief risk-Assessment Officer), nhưng cuối cùng cũng không mướn ai hết. Như vậy AIG không có ai theo dõi công ty có bao nhiêu của cải, nợ nần ra sao. Tình hình đen tối và mờ mịt đến độ, trước khi bailout, nhân viên tài chính AIG không thể trả lời nổi câu hỏi dễ dàng, và căn bản cho các cố vấn (consultants) bên ngoài vào thanh tra, là AIG dính líu chừng mực nào với thị trường cho vay về nhà cửa. We don’t know.

Ngày 21 tháng tư năm 2009, ông Bộ trưởng tài chánh (Treasury secretary) Timothy Geithner than phiền những tiền độc hại (toxic assets) cản trở khả năng các ngân hàng vay hay cho mượn tiền.

Xem thử một Credit default swap (CDS) giản tiện nhất. CDS chỉ chứa đựng những món nợ cho vay mua nhà. Thời vàng son của địa ốc rất là thoải mái. Nhiều mua nhà không cần bỏ một xu nào, mượn 100%, Tiền lãi lẽ dĩ nhiên cao hơn. Số tiền nợ trong CDS mới được vài tháng đã được trả lại cả vốn lẫn lời vì chủ nhà mượn nợ lại, được phân lãi nhẹ hơn. Nhiều khi chủ nhà còn mượn hơn số nợ cũ vì giá nhà tăng vùn vụt. Tiền nợ mới lại đi vào một CDS khác. Khi gió đã xoay chiều, trong một CDS, có những món nợ được trả bình thường, một số nợ không được trả đồng nào, nhà bị tịch thu. Các ngân hàng, cơ quan đầu tư chỉ quen với tiền bạc, chứ không muốn dính líu gì về nhà cửa. Sau một thời gian tìm hiểu và lưỡng lự, các chủ CDS lật đật tìm mọi cách bán nhà đi để lấy tiền về. Giá nhà xuống mau chóng. Buôn bán nhà cửa cần nhiều thời gian, và các chủ CDS làm sao để không bán rẻ quá, đem tối đa tiền mặt về. Thị trường địa ốc nhiều nơi xuống 3, hay 4% mỗi tháng. Giá trị của mỗi CDS thay đổi liên tục theo thời gian, và như vậy không thể biết chính xác giá trị của nó để làm kế toán được. Những món tiền độc hại chỉ có thể giải quyết được khi tất cả các món nợ được thanh toán hết, lỗ hay lời. Trong lúc chờ đợi, các món tiền độc hại vẫn được ghi trên sổ kế toán với giá mua, có nghĩa là cao hơn thực tế rất nhiều. Tất cả những CDS sẽ giải quyết không cùng một lúc, và như vậy cho phép các ngân hàng, cơ quan tài chính có thời gian thu xếp lời lỗ trong kế toán của họ.

Chuyện bắt đầu đổ bể không phải là các suprimes, hay nhà cửa xuống giá, mà là ngay ở AIG. Trước 2005, các món nợ của AIG được xem như là không có rủi ro, và được điểm cao nhất AAA. Tên và uy tín của AIG đủ bảo lãnh các món nợ đó. Nhưng kế toán của AIG Cassano bắt buộc phải kể đến những CDS mà Cassano đã bán ra. Vào mùa thu 2007, tình trạng tài chánh của AIGFP trở nên rất nặng nề, Cassano nói thoáng qua AIGFP có thể lỗ. Những viên chức cao cấp (senior executives) lật đật xem xét tình hình. Kế toán viên Joseph St Denis quan tâm đến các CDS, và hậu quả có thể đưa đến các hủy diệt hàng loạt. Cassano dùng uy quyền giám đốc AIGFP đẩy Denis ra khỏi hãng, và cấm Denis tham gia vào ban giám sát tài chánh.
Tháng hai năm 2008, AIG khai lỗ 11.5 tỷ dollars, và thông báo Cassano từ chức. AIG không những trả Cassano 34 triệu dollars tiền thưởng, và còn tiếp tục lưu Cassano lại làm việc như một cố vấn (consultant) với lương 1 triệu dollars mỗi tháng cho đến tháng 9/2008. Trong thời gian ấy, chính phủ đã phải dùng tiền thuế giúp AIG 85 tỷ dollars. Ông CEO của AIG trả lời chất vấn các nghị sỹ là AIG phải lưu ông Cassano lại vì ông Cassano có 20 năm kinh nghiệm về tài chính!!!

Tháng 9 năm 2008, điểm tín dụng tin tưởng của AIG xuống từ AA còn A, AIG dù có bán tất cả tài sản, và tất cả những tín dụng có thể vay mượn được cũng không đủ bảo kê được những CDS mà Cassano đã phát hành ra.

Vào những ngày cuối tuần 13, 14 tháng 9 năm 2008, bộ trưởng tái chánh (Tresuary Secretary) Hank Paulson đang lo về những hậu quả phá sản của Lehman Brothers, những nhân vật cao cấp của AIG gặp ông Hank Paulson, và cho biết AIG không thể vay mượn ai cả. Giám đốc điều hành (CEO) của Goldman Sachs cũng có mặt trong những buổi họp. Lý do là Goldman Sachs dính lứu khoảng $20 tỷ với AIGFP. Nếu AIG vỡ nợ, thì Goldman Sachs và nhiều ngân hàng khác cũng đi theo con đường ấy, khai thông cho dùng tiền thuế bail out bắt đầu.

Chỉ trong thời gian ngắn sau, AIG kín đáo trả 90 triệu dollars tiền thưởng cho các cựu giám đốc, và sau đó $277 triệu cho các nhân viên khác. AIG đã phải bãi bỏ $90 triệu tiền thưởng khi bị dư luận, và quốc hội phản đối. Trong năm 2008, AIG đã trả $554 triệu tiền thưởng. Đó chỉ là số tiền thưởng AIG khai chính thức, còn một số tiền khác không được xem là tiền thưởng. Vào đầu năm 2009, AIG lại quyết định trả $450 triệu cho 400 nhân viên của AIGFP vừa bị khai phá sản. Ban quản trị AIG cho biết họ phải làm như vậy để giữ lại những thành phần ưu tú, nếu không công ty sẽ không chạy được, tuy là họ là những người đã đưa đến tình trạng phá sản của AIG!!! Ngay trong những lúc phải vay mượn, lỗ lã, bail out, phá sản, AIG đã thưởng từ đầu năm 2008 đến nay trên 1 tỷ dollars cho những nhân viên đã đưa AIG vào vực thẳm. Vào đầu tháng 5 năm 2009, AIG đã bán tất cả các trụ sở đại bản doanh (headquarters) tại Tokyo cho Nippon Life Insurance Co. được 1.2 tỷ dollars, vừa vặn bằng số tiền thưởng cho nhân viên từ năm 2008 cho đến nay.

Tiền thưởng (bonus) cho những người làm việc về tài chính của Anh tăng đều đều từ khoảng 15 tỷ dollars năm 2000 cho đến 30 tỷ dollars năm 2007.

Tại Mỹ, năm 2007, năm ngân hàng Bear Stearns, Goldman Sachs, Lehman Brothers, Merrill Lynch, và Morgan Stanley, vì tình hình không tốt lắm, chỉ tự thưởng 39 tỷ dollars cho năm 2007. Năm 2006, những người làm việc cho các cơ quan tài chính, và ngân hàng được thưởng 23.9 tỷ dollars.