Danchimviet - http://danchimviet.com
Vì đâu nên nỗi
http://danchimviet.com/articles/1242/1/Vi-au-nen-ni/Page1.html
Nguyễn Đức Vượng

 
Tác Giả Nguyễn Đức Vượng
Đăng/Published on 29.06.09
 
Trước nguy cơ của sự sụp đổ hệ thống tiền tệ thế giới, dưới áp lực của đa số dân chúng đương gánh chịu thiệt hại mà không phải họ gây ra, và những cấp bách cải tổ cần thiết về kinh tế nói chung, và cải tổ về sức khỏe tại Mỹ nói riêng, các lobby không còn lộng hành như trước.

Tìm hiểu vì đâu đã đưa đến một khủng hoảng kinh tế toàn cầu rộng lớn và sâu rộng như hiện nay, theo ông Matt Taibbi, nên nhìn vào AIG. AIG đã lỗ 61.7 tỷ dollars cho tam cá nguyệt cuối năm 2008. Có nghĩa là AIG lỗ $27 triệu mỗi giờ, $465,000 mỗi phút, bằng mười lần thâu nhập trung bình hàng năm của một gia đình Mỹ, hay là $7,750 mỗi giây. Thật là một chuyện điên rồ. Tuy nhiên phần lớn vẫn nghĩ và cho rằng đây cũng chỉ là một tai nạn tài chính, một rủi ro như ông giám đốc điều hành (CEO) của AIG Edward Liddy nói là nếu mọi người bị viêm phổi, thì chúng tôi cũng bị lây. Ông CEO quên không nói AIG từ mười năm qua tìm mọi cách qua mặt kiểm soát của chính phủ Mỹ và thế giới. Cảm cúm của AIG là đã thua lỗ 500 tỷ dollars trên thị trường Unregulated derivatives market. Số tiền mà AIG không có. Như trong một sòng bài khổng lồ, nhà cái AIG nợ tất cả mọi người, và sau đó để tránh đổ vỡ giây chuyền, chính phủ Mỹ buộc lòng phải lấy tiền thuế người dân đóng góp bail out AIG. Tất cả những chuyện khủng hoảng kinh tế, bail out đã xẩy ra được là vì từ nhiều năm qua, quyền hành của chính phủ bị tước đoạt dần dần qua những ảnh hưởng lên các cuộc bầu cử, mua chuộc, kiểm soát các dân biểu, và làm suy yếu đi các đạo luật kiểm soát thị trường kinh tế.

Khi chuyện đổ bể, thay vì giám đố điều hành (CEO) và ban quản trị phải đi tù, thì “những người bạn” trong chính phủ lo chuyện cấp tiền cứu nợ (bail out), và lỗ lã của AIG chỉ là một tai nạn.

Hãy tìm hiểu AIG đã làm những gì để một công ty khổng lồ từ cả thế kỷ nay làm việc cặm cụi, đã tạo ra một uy tín, gia tài vững chắc, để rồi trong vòng 1, 2 năm qua đã xụp đổ hoàn toàn. Người cầm đầu là ông Joseph Cassano của AIG Financial Products (AIGFP). Dưới quyền ông có 400 nhân viên. Các bộ óc siêu việt này tìm mọi cách để vòng qua những luật lệ điều tiết buôn bán tài chính, và thị trường chứng khoán. Mặt khác dùng ảnh hưởng trên các dân biểu từ từ tháo gỡ các bộ luật điều tiết. Như vậy cho phép họ tự do buôn bán các sản phẩm tài chính mà không bị chính phủ dòm ngó vào.

Hỗn loạn Cassano tạo ra đã bắt rễ từ sản phẩm khoản nợ có thế chấp (Collateralized-Deb Obligation (CDO)). CDO có thể chứa bất cứ sản phẩm tài chính nào như nợ mua nhà, tiền các xí nghiệp vay, tiền mượn mua máy bay, nợ thẻ tín dụng, một CDO khác… Một sản phẩm như vậy chỉ nhận được tiền vào khi các con nợ trả, và không cho ai mượn cả. Chỉ cần một số con nợ trả là CDO nhận được tiền vào đều đều. Ðể được xếp hạng AAA (zero risk) của những cơ quan như Moody và S&P. CDO không dựa trên giá trị của nó, mà dùng một công thức toán học phức tạp để chứng minh, theo một trader trẻ tuổi, rằng rủi ro mất tiền chỉ xẩy ra một lần trên 10,000 năm. Mỗi CDO được chia làm nhiều phần nhỏ để bán cho các nhà đầu tư, quỹ bảo hiểm, ngân hàng, quỹ hưu bổng … Các CDO cho lời lớn hơn là các quỹ tiết kiệm, hay cho chính phủ vay. Các ngân hàng bán CDO lời lớn, các nhà đầu tư làm giầu giữ nhiều CDO.

Như vậy những món nợ xấu cũng có thể bán cho các nhà đầu tư bảo thủ. CDO tạo ra một bùng nổ cho các cơ quan tài chính cho vay vô trách nhiệm. Nhiều người có thể mua nhà không cần bỏ đồng nào. Tất cả những nợ mới được bỏ vào các CDO, và bán cho các cơ quan đầu tư. Những cơ quan tài chính giữ ngày càng nhiều CDO, bắt đầu lo lắng, cần một loại bảo hiểm. Cassano giữ trách nhiệm AIGFP vào năm 2001. Cassano nói với các lãnh đạo AIG là các ông biết về bảo hiểm, lo về bảo hiểm, tôi rành về đầu tư, hãy để tôi yên. Cassano bán bảo hiểm cho các cơ quan tài chính giữ CDO. Cassano phát minh ra sản phẩm Giao kèo sang nhượng đề bảo hiềm các tín chỉ (Credit-Default Swap (CDS).

Credit default swap (CDS) là tín chỉ phát sinh từ tín chỉ gốc (credit derivative) hợp đồng giữa hai đối tượng. Người mua trả một số tiền đều đặn, và sẽ nhận được một số tiền lớn hơn nếu có một sự cố nào ghi trong hợp đồng xẩy ra. CDS được xem như một bảo hiểm, nhưng khác bảo hiểm ở nhiều điểm. Người bán CDS không cần là một cơ quan bị điều tiết, không cần giữ một dự trữ tiền để thanh toán. Bảo hiểm nhà cửa, xe cộ dựa trên định luật của số đông. Buôn bán CDS dựa trên cộng trừ lời lỗ những CDS khác, những buôn bán dưới thị trường trái phiếu (bond markets). Và còn nhiều khác biệt phức tạp khác. AIG bán cả tỷ dollars CDS, mà không có tiền dự trữ. Nhiều sự cố đã xẩy ra, AIG không thanh toán được. AIG có bạn bè tại Washington lo bail out, và có những người đóng thuế như chúng ta đứng sau lưng.

Theo các điều lệ, các ngân hàng luôn phải giữ một số tiền mặt để có thể bảo đảm cho các món nợ. Vào năm 1994, một nhóm lãnh đạo J.P. Morgan tìm ra một cách có thể vòng qua các điều lệ đó, để cho mượn nhiều hơn số tiền quy định. Như vậy ngân hàng chỉ cần giữ tiền mặt ít đi, kiếm được thêm lợi nhuận. Cách thức đó gọi là Giao kèo sang nhượng (Credit Swaps (CS)) là tiền thân của CDS. Morgan cho rằng những món nợ có bảo hiểm, như vậy là rất an toàn, xem như là tiền mặt. Như vậy Morgan không cần giữ tiền mặt nhiều trong ngân hàng, mà vẫn tuân thủ theo các điều lệ. Federal Reserve và Office of The Controller of the Currency chấp nhận lập luận đó, và Morgan được quyền cho mượn nhiều hơn nữa.

Ðiều mà Cassano làm là dùng hình thức Credit Swaps của Morgan thành một đánh cá khổng lồ trên địa ốc. Trên lý thuyết, mua bảo hiểm để bảo vệ tiền đầu tư mua CDS là điều nên làm. Các nhà đầu tư trả một số tiền bảo hiểm cho AIGFP.

Hình thức bảo hiểm của Cassano khác những bảo hiểm quen thuộc như bảo hiểm xe cộ, nhà cửa ở hai điểm:

1. Cassano bán CDS bảo hiểm không cần chứng tỏ cho một ai là AIGFP có đủ khả năng trang trải khi cần. Vì vậy, dựa trên uy tín của AIG, Cassano đã bán bảo hiểm cho nhiều tỷ dollars, mà trong ngân quỹ không có xu nào bảo đảm cho bảo hiểm đó.

2. Cassano bán sản phẩm “naked” CDS bảo hiểm. Gọi là naked vì những cơ quan mua hay bán CDS bảo hiểm này không liên quan gì đến CDS cả. Chẳng hạn ngân hàng X không dính dáng gì đến một CDS nào cả, nhưng lại mua hay bán bảo hiểm cho một CDS nào đó. Ðó không còn là bảo hiểm nữa, mà là hình thức đánh cá vì ngân hàng X có giữ CDS nào đâu. Ngân hàng X chỉ mong một sự cố nào xẩy ra để lãnh bảo hiểm.

Trong vòng 7 năm, Cassano đã bảo hiểm cho khoảng 500 tỷ dollars, với ít nhất 64 tỷ cho supprime mortgage.

Năm 1999, AIG có lời $737 triệu dollars. Sang 2005, tiền lời tăng lên 3.2 tỷ dollars. Trong vòng 7 năm, 400 nhân viên được lãnh $3.5 tỷ dollars. Cassano lãnh ít nhất 280 triệu.

Một mình Cassano làm sao có thể gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế được. Không lý chính phủ Mỹ và bao nhiêu cơ quan kiểm soát không thấy những báo động nào. Các ngân hàng Mỹ luôn bị kiểm soát, theo dõi từ lâu, nhất là từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế 1917. Các ngân hàng giữ tiền của tư nhân, và xí nghiệp không có quyền hành động như các ngân hàng đầu tư, không có quyền thu hút tiền bằng cách bán chứng khoán. Ðạo luật Glass-Steagall thông qua trong thời đại khủng hoảng ngăn chặn các ngân hàng đi vào lãnh vực bảo hiểm.

Vào cuối 1990, các dân biểu đảng dân chủ, thấy liên lạc chặt chẽ của đảng Cộng Hòa với các giới tài phiệt, cũng bỏ đường lối chống đối cố hữu của mình, và có những liên lạc thân thiện giống như vậy. Trong khoảng mười năm bắt đầu từ 1998, các cơ quan tài chính đã chi ra 1.7 tỷ dollars cho các cuộc bầu cử, và 3.4 tỷ dollars cho các nhóm lobbyists. Họ kết thân, nếu không muốn nói là mua chuộc các dân cử của cả hai đảng.

Một vài sự kiện cho thấy các dân biểu bị mua chuộc cỡ chừng nào. Ai cũng biết bảo hiểm sức khỏe tại Mỹ có nhiều điều không ổn, phải cải tổ một cách sâu rộng. Là một nước giầu nhất trên thế giới, mà có khoảng 50 triệu trên 300 triệu người không có bảo hiểm. Ngay những người may mắn có bảo hiểm cũng không được an tâm gì, khi bị nan y nặng, sẽ bi xa thải, sau đó mất bảo hiểm, và kể như vô phương được bảo hiểm như cũ. Muốn được bảo hiểm phải thành khẩn khai báo đã có chứng bệnh nào chưa. Ai đã xem cuốn phim của Micheal Moore về bảo hiểm sức khỏe tại Mỹ, thì thấy danh sách những bệnh các hãng bảo hiểm lưu tâm dài nhiều trang giấy. Ước lượng cũng vài trăm bệnh. Rất ít ai không có một trong những bệnh ấy. Mỗi năm, tiền đóng bảo hiểm tăng gấp đôi, gấp ba lạm phát. Năm 2008, những người đi làm trung bình đóng $3,400, tăng 12% so với năm 2007. Từ năm 1999, tiền đóng bảo hiểm tăng 120% so với lạm phát 44%, và trong thời gian đó lương tăng 29%. Tiền túi (copay) phải trả tăng 115% từ năm 2000. Trong năm 2008, nước Mỹ chi phí cho sức khỏe 2,400 tỷ dollars, và dự tính sẽ chi 4.600 tỷ cho năm 2016. 1/3 số tiền này (800 tỷ dollars) chi tiêu về vấn đề giấy tờ, hành chánh, so với khoảng 10% tại Âu Châu, và Canada.

Khi bà Hillary Clinton đề nghị những cải tổ về bảo hiểm sức khỏe. Lập tức nhiều bài báo chỉ trích mạnh mẽ, nêu ra hàng trăm lý do để bác bỏ, và duy trì tình trạng hiện tại. Khi một vài dân biểu ngỏ ý cho phép dân Mỹ được mua thuốc do các công ty Mỹ sản xuất bán tại Canada giá chỉ bằng nửa tại Mỹ, lai bị ào ạt phản đối vì không bảo đảm được phẩm chất, và nhầm lẫn. Trong nước Mỹ, cùng một thuốc giá bán cho Wall Mart có thể gấp 22 lần cho các tiêm bán thuốc (pharmacy) nhỏ. Năm 2008, có khoảng 1 triệu người Mỹ đã đi chữa bệnh tại các xứ Ấn Ðộ, Thái Lan, Singapor, Phi Luật Tân … Vấn đề cải tổ bảo hiểm sức khỏe vô cùng cấp bách còn hơn cháy nhà, mà không thấy một dân cử dám đưa ra đề nghị nào có tầm vóc như vậy, còn lúc biểu quyết chắc chẳng còn ai. Một vài dự định cải tổ nho nhỏ đã bị dập ngay từ trong trứng nước.

Từ tháng 3 năm 2009 đến nay, không đầy 2 tháng, tại Mỹ, đã có 8 vụ nổ súng vì cơn điên, và lấy đi sinh mạng của 57 người. Con số vượt xa thiệt hại binh lính Mỹ tại hai chiến trường Iraq và Afganistan. NRA kín đáo từ chối không bình luận gì, lấy cớ hãy để cho các gia đình nạn nhân yên tĩnh, lo an táng các nạn nhân. Khi nào tình hình lắng đọng lại, sẽ tính. Nhưng khi đó, dư luận xuống, còn ai muốn bàn tán gì nữa. Ngay tháng 3 năm 2009, 65 dân biểu đảng dân chủ tuyên bố sẽ ngăn cản mọi dự luật cấm buôn bán súng tự đông của Liên Bang. Họ sẽ chống đối gia hạn cấm mua bán súng tự động. Họ sẽ ngăn cản bất cứ đạo luật nào cấm mua súng quân đội đang dùng.

Lúc này chắc chắn không phải là lúc tuyên bố một cách vô lương tâm như vậy. Nó đi ngược với nguyện vọng của dân Mỹ càng ngày càng đông, muốn giới hạn mua bán võ khí. Không cần thiết, không đúng lúc, nhưng các dân biểu vẫn làm, và có lẽ phải làm. Chắc hẳn họ được các nhà sản xuất võ khí hậu đãi, và biết ơn lắm.

William Philip Gramm là một trong người chủ chốt, tác động lên khủng hoảng kinh tế hiện nay. Ông là nghị sỹ dân chủ (1978–1983), nghị sỹ cộng hòa (1983-1985), thượng nghị sỹ cộng hòa (1985-2002), và làm cố vấn kinh tế cho ông McCan trong cuộc bầu cử cho tới ngày 18/06/2008.

Năm 1999, ông đưa ra bộ luật Gramm-Leach-Bliley Act xóa bỏ ngăn cách giữa ngân hàng, bảo hiểm và ngành môi giới (broker). Theo Washington Post 2008, ông là 1 trong 7 người trách nhiệm chính, đã bãi bỏ các luật lệ điều tiết buôn bán derivatives vào những năm 1998-99. Ông thường xuyên chống lại CEO Securities and Exchange Commission (SEC) xin thêm ngân khoản, thuê thêm người để theo dõi các hoạt động Walll Street ngày một gia tăng. Ông cũng chống lại luật lệ của Securities and Exchange Commission cấm các công ty kế toán gần, hay có liên hệ với các công ty kiểm tra (audit). Ông đe dọa cắt ngân khoản của Securities and Exchange Commission nếu luật lệ này được chấp thuận.

Dựa vào xóa bỏ ngăn cách này, mà những công ty tài chính khổng lồ đã được thành lập như Citigroup, và cũng phá vỡ luôn những phương cách làm việc của các ngân hàng nhỏ. Từ trước đến 1990, ngân hàng biết những ai họ cho mượn tiền, và số nợ đó nằm trong kế toán của họ. Lẽ dĩ nhiên, các ngân hàng không dại dột gì cho vay những nơi ít có khả năng trả lại. Ngáy nay, các cơ quan tài chính chẳng lo ngại lắm khi cho mượn những nơi rủi ro lớn, miễn là ngay sau khi cho mượn xong, lấy được các chi phí, họ có thể bán đi cho một cơ quan đầu tư nào đó, và cho vay tiếp.

Vào 15/10/2000, khi nước Mỹ còn đang xôn sao đếm phiếu ở Florida, chính phủ Mỹ và quốc hội vội vã biểu quyết cho xong một mớ các dự luật chi tiêu 381 tỷ dollars, ông Gramm đã xen vào đó Commodity Futures Modernization Act. Ðạo luật được viết với sự giúp đỡ (hay hoàn toàn) của những lobbyists trong ngành tài chánh. Ngay ông Gramm cũng đã tưởng đạo luật này chết rồi, không ngờ xen vào một mớ các dự luật chi tiêu, và được thông qua. Ðạo luật này không cho phép làm ra những đạo luật điều chế về credit swaps, chứng khoán hay công phiếu.  Ngân hàng thương mại cạnh tranh trực tiếp với các cơ quan tài chính hay đầu tư, mua bán credit swaps để có lời nhiều hơn. Ông Eric, lãnh đạo New York State Insurance Department cho rằng quan niệm CDS không phải là đánh cá, hay chứng khoán mở đường cho phát triển, và tăng trưởng của thị trường tài chính.

Tình trạng không điều tiết (deregulation) tiến thêm bước lớn nữa vào 2004. Các xứ thị trường chung Âu Châu lo ngại, muốn kiểm soát nhiều hơn nữa các hoạt động đầu tư của các ngân hàng lớn của Mỹ tại Âu Châu nếu Mỹ không tự kiểm soát lấy. Vào ngày 28 tháng tư năm 2004, 5 ngân hàng đầu tư Mỹ lớn nhất, với sự giúp đỡ của giám đốc Goldman Sachs Hank Paulson, xin chịu những điều luật mới ràng buộc những rủi ro về đầu tư, và để bù lại xin bãi bỏ tất cả những ngăn cấm về vay mượn. Tồng Giám Đốc điều hành (CEO) William Dolnaldson của Securities and Exchange Commission (SEC) bằng lòng quyết định đó, và những điều luật mới đủ bảo đảm khiến các xứ thị trường chung Âu Châu cũng bãi bỏ dự tính mong muốn kiểm soát thêm các nhà đầu tư khổng lồ Mỹ. Donaldson và người kế vị Cox không làm một gì để điều tiết hoạt động của các ngân hàng, mà tạo ra một hội đồng 7 người để dòm ngó $4,000 tỷ của 5 ngân hàng đầu tư Mỹ. Sau đó hết thời ông Donaldson, và một năm rưỡi thời ông Cox, hội đồng này chưa có giám đốc, và dĩ nhiên chưa làm một thanh tra nào. Các ngân hàng lời lớn vì trước kia kêu than bị kiểm soát bởi SEC, và thị trường chung Âu Châu, nay không còn bị một ai kiểm soát cả, hoàn toàn tự do!!!

Kẽ hở này cho phép Cassano có thể bán bao nhiêu CDS mà ông muốn, liên quan tới một số tiền cả trăm tỷ dollars mà chính phủ, hay các quan kiểm soát như SEC không nói một chữ nào. Khi một ngân hàng đầu tư cho ra một CDS, ngân hàng phải bảo chứng nó. Nhưng công ty bảo hiểm thì không bắt buộc!!! Thế là AIGFP đánh cá cả tỷ, cả tỷ dollars.

Các hoạt động của AIGFP và cũng như các cơ quan tài chính khác bị tiết chế bởi Office of Thrift Supervision (OTS). Trên thực tế làm sao một công ty tý hon OTS có thể trông coi một công ty khổng lồ như AIGFP. Vào năm 1999, một đạo luật được thông qua cho phép các công ty như AIGFP có quyền lựa OTS để trông coi những hoạt động của chính mình!!! Cùng trong năm 1999, AIG mua một công ty OTS ở Delaware, và tìm cách xin được giấy phép cho công ty OTS này chính thức kiểm soát tất cả những hoạt động của AIG.

Nước Anh là nước bảo thủ, mọi cải cách, thay đổi vô cùng khó khăn. Nước Anh có truyền thống lâu đời về ngân hàng, và bảo hiểm. Lloyds là hãng bảo hiểm lớn bậc nhất thế giới. Lloyds bảo hiểm thương mại cho trên 200 xứ, có nghĩa là tất cả các xứ trên thế giới. Các hãng bảo hiểm khác phải tái bảo hiểm tại Lloyds. Hệ thống ngân hàng, và bảo hiểm tồn tại lâu dài là nhờ luật lệ rất khắt khe, và bảo thủ. Nhớ lại chuyện một ông chủ ngân hàng người Do Thái tại Ðức, nhận thấy sớm muộn Ðức sẽ có chế độ phái xít, đã bỏ Ðức và sang Anh mở ngân hàng 4 năm trước khi Hitler nắm chính quyền. Ông bị các chủ ngân hàng khác xem như con ghẻ, vì không nằm trong những giới truyền thống ngân hàng Anh. Khi ông cho đăng tải ý muốn ngân hàng của ông mua các cổ phần của một công ty đang có trên thị trường với giá cao, để có đủ đa số cổ phần kiểm soát công ty đó. Các chủ ngân hàng phản đối cung cách làm việc ra ngoài khuôn khổ. Cổ chí kim có ai làm thế bao giờ. Chuyện lôi thôi đến nỗi, Thủ tướng Anh gọi ông vào văn phòng để thuyết phục ông bỏ cách làm ăn khác thường ấy. Dần dần giới tài chính Anh mới chấp nhận chuyện đó.

AIGFP có trụ sở tại Luân Ðôn, nơi mà các luật lệ kiểm soát các ngân hàng, và các cơ quan tài chính ngặt nghèo nhất. Mấy ngân hàng, hay cơ quan tài chính nào qua mặt được Britan’s Financial Services Authority. Vậy mà công ty OTS tìm mọi cách chứng tỏ là có dư khả năng theo dõi và kiểm soát các hoạt động của các công ty khổng lồ. Ðến năm 2007, OTS được cho phép theo dõi AIG, GE, và Ameriprise.

Cùng năm đó, khủng hoảng suprime bùng nổ. Government Accountability Office mới kêu lên OTS không đủ tầm vóc để theo dõi và kiểm soát. Riêng về ngành bảo hiểm, OTS chỉ có một chuyên gia để theo dõi hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG. Nói tóm lại tất cả những kiểm soát có tính cách hình thức, và giới hạn. AIG giải thích cho các nhân viên của OTS là những gì họ làm CDS, Credit swaps không có một hiểm nghèo nào cả. Các nhân viên OTS cũng không tài nào hiểu khác được trước những vấn đề vô cùng phức tạp. Nói thêm là những CDS, CS, derivatives là những hợp đồng, đều kèm theo những văn kiện viết ra bởi những luật sư siêu việt về luật, và kinh tế, còn khó hiểu hơn nhiều những giao kèo, hợp đồng của các công ty bảo hiểm nhà cửa, xe cộ, hay thẻ tín dụng.

Vào đầu tháng ba, sau lần bail out, ông Tresury Secretary Timothy Geithner nói là AIG quá lớn, lại dính với nhiều chi nhánh ngân hàng đầu tư, hedge fund mà không có một cơ quan nào kiểm soát cả. Tất cả những ngân hàng, cơ quan tài chính, và các công ty lớn, đều có những chuyên gia của hãng, hay consultants kiểm soát hoạt động của các nhân viên. Tùy theo chức bậc, và nhiệm vụ, nhân viên được quyền chi tiêu, mua bán đến một mức độ nào. Khi có những hoạt động nào bất bình thường, họ có nhiệm vụ báo động ngay cho cấp trên để hành động. Nếu AIG có những chuyên gia nội bộ kiểm soát đắc lực như vậy, thì nhiều chuyện đã được ngăn chặn kịp thời. Nhưng những hoạt động lại do chính các CEO và ban quản trị chỉ nhìn theo tiền thưởng, chủ chương thì vô phương cứu chữa. Sáu tháng trước khi chuyện đổ bể, AIG tìm kiếm chủ sự tài chính (Chief Financial Officer), và chủ sự kiểm báo rùi ro tài chánh (Chief risk-Assessment Officer), nhưng cuối cùng cũng không mướn ai hết. Như vậy AIG không có ai theo dõi công ty có bao nhiêu của cải, nợ nần ra sao. Tình hình đen tối và mờ mịt đến độ, trước khi bailout, nhân viên tài chính AIG không thể trả lời nổi câu hỏi dễ dàng, và căn bản cho các cố vấn (consultants) bên ngoài vào thanh tra, là AIG dính líu chừng mực nào với thị trường cho vay về nhà cửa. We don’t know.

Ngày 21 tháng tư năm 2009, ông Bộ trưởng tài chánh (Treasury secretary) Timothy Geithner than phiền những tiền độc hại (toxic assets) cản trở khả năng các ngân hàng vay hay cho mượn tiền.

Xem thử một Credit default swap (CDS) giản tiện nhất. CDS chỉ chứa đựng những món nợ cho vay mua nhà. Thời vàng son của địa ốc rất là thoải mái. Nhiều mua nhà không cần bỏ một xu nào, mượn 100%, Tiền lãi lẽ dĩ nhiên cao hơn. Số tiền nợ trong CDS mới được vài tháng đã được trả lại cả vốn lẫn lời vì chủ nhà mượn nợ lại, được phân lãi nhẹ hơn. Nhiều khi chủ nhà còn mượn hơn số nợ cũ vì giá nhà tăng vùn vụt. Tiền nợ mới lại đi vào một CDS khác. Khi gió đã xoay chiều, trong một CDS, có những món nợ được trả bình thường, một số nợ không được trả đồng nào, nhà bị tịch thu. Các ngân hàng, cơ quan đầu tư chỉ quen với tiền bạc, chứ không muốn dính líu gì về nhà cửa. Sau một thời gian tìm hiểu và lưỡng lự, các chủ CDS lật đật tìm mọi cách bán nhà đi để lấy tiền về. Giá nhà xuống mau chóng. Buôn bán nhà cửa cần nhiều thời gian, và các chủ CDS làm sao để không bán rẻ quá, đem tối đa tiền mặt về. Thị trường địa ốc nhiều nơi xuống 3, hay 4% mỗi tháng. Giá trị của mỗi CDS thay đổi liên tục theo thời gian, và như vậy không thể biết chính xác giá trị của nó để làm kế toán được. Những món tiền độc hại chỉ có thể giải quyết được khi tất cả các món nợ được thanh toán hết, lỗ hay lời. Trong lúc chờ đợi, các món tiền độc hại vẫn được ghi trên sổ kế toán với giá mua, có nghĩa là cao hơn thực tế rất nhiều. Tất cả những CDS sẽ giải quyết không cùng một lúc, và như vậy cho phép các ngân hàng, cơ quan tài chính có thời gian thu xếp lời lỗ trong kế toán của họ.

Chuyện bắt đầu đổ bể không phải là các suprimes, hay nhà cửa xuống giá, mà là ngay ở AIG. Trước 2005, các món nợ của AIG được xem như là không có rủi ro, và được điểm cao nhất AAA. Tên và uy tín của AIG đủ bảo lãnh các món nợ đó. Nhưng kế toán của AIG Cassano bắt buộc phải kể đến những CDS mà Cassano đã bán ra. Vào mùa thu 2007, tình trạng tài chánh của AIGFP trở nên rất nặng nề, Cassano nói thoáng qua AIGFP có thể lỗ. Những viên chức cao cấp (senior executives) lật đật xem xét tình hình. Kế toán viên Joseph St Denis quan tâm đến các CDS, và hậu quả có thể đưa đến các hủy diệt hàng loạt. Cassano dùng uy quyền giám đốc AIGFP đẩy Denis ra khỏi hãng, và cấm Denis tham gia vào ban giám sát tài chánh.
Tháng hai năm 2008, AIG khai lỗ 11.5 tỷ dollars, và thông báo Cassano từ chức. AIG không những trả Cassano 34 triệu dollars tiền thưởng, và còn tiếp tục lưu Cassano lại làm việc như một cố vấn (consultant) với lương 1 triệu dollars mỗi tháng cho đến tháng 9/2008. Trong thời gian ấy, chính phủ đã phải dùng tiền thuế giúp AIG 85 tỷ dollars. Ông CEO của AIG trả lời chất vấn các nghị sỹ là AIG phải lưu ông Cassano lại vì ông Cassano có 20 năm kinh nghiệm về tài chính!!!

Tháng 9 năm 2008, điểm tín dụng tin tưởng của AIG xuống từ AA còn A, AIG dù có bán tất cả tài sản, và tất cả những tín dụng có thể vay mượn được cũng không đủ bảo kê được những CDS mà Cassano đã phát hành ra.

Vào những ngày cuối tuần 13, 14 tháng 9 năm 2008, bộ trưởng tái chánh (Tresuary Secretary) Hank Paulson đang lo về những hậu quả phá sản của Lehman Brothers, những nhân vật cao cấp của AIG gặp ông Hank Paulson, và cho biết AIG không thể vay mượn ai cả. Giám đốc điều hành (CEO) của Goldman Sachs cũng có mặt trong những buổi họp. Lý do là Goldman Sachs dính lứu khoảng $20 tỷ với AIGFP. Nếu AIG vỡ nợ, thì Goldman Sachs và nhiều ngân hàng khác cũng đi theo con đường ấy, khai thông cho dùng tiền thuế bail out bắt đầu.

Chỉ trong thời gian ngắn sau, AIG kín đáo trả 90 triệu dollars tiền thưởng cho các cựu giám đốc, và sau đó $277 triệu cho các nhân viên khác. AIG đã phải bãi bỏ $90 triệu tiền thưởng khi bị dư luận, và quốc hội phản đối. Trong năm 2008, AIG đã trả $554 triệu tiền thưởng. Đó chỉ là số tiền thưởng AIG khai chính thức, còn một số tiền khác không được xem là tiền thưởng. Vào đầu năm 2009, AIG lại quyết định trả $450 triệu cho 400 nhân viên của AIGFP vừa bị khai phá sản. Ban quản trị AIG cho biết họ phải làm như vậy để giữ lại những thành phần ưu tú, nếu không công ty sẽ không chạy được, tuy là họ là những người đã đưa đến tình trạng phá sản của AIG!!! Ngay trong những lúc phải vay mượn, lỗ lã, bail out, phá sản, AIG đã thưởng từ đầu năm 2008 đến nay trên 1 tỷ dollars cho những nhân viên đã đưa AIG vào vực thẳm. Vào đầu tháng 5 năm 2009, AIG đã bán tất cả các trụ sở đại bản doanh (headquarters) tại Tokyo cho Nippon Life Insurance Co. được 1.2 tỷ dollars, vừa vặn bằng số tiền thưởng cho nhân viên từ năm 2008 cho đến nay.

Tiền thưởng (bonus) cho những người làm việc về tài chính của Anh tăng đều đều từ khoảng 15 tỷ dollars năm 2000 cho đến 30 tỷ dollars năm 2007.

Tại Mỹ, năm 2007, năm ngân hàng Bear Stearns, Goldman Sachs, Lehman Brothers, Merrill Lynch, và Morgan Stanley, vì tình hình không tốt lắm, chỉ tự thưởng 39 tỷ dollars cho năm 2007. Năm 2006, những người làm việc cho các cơ quan tài chính, và ngân hàng được thưởng 23.9 tỷ dollars.

Năm 2008, các giám đốc ngân hàng Bank of Anerica, Well Fargo, Citigroup tự bỏ, không lãnh tiền thưởng. Tổng cộng tiền thưởng của ngân hàng Lehman Brothers vượt qua tải sản của ngân hàng trước khi phá sản. Không riêng gì tại Mỹ, chuyện tiền thưởng quá lố xẩy ra ở Âu Châu, Trung Đông, Ấn Độ …

Để biết những số tiền tỷ, tỷ đó dollars lớn cỡ nào, ngân sách tiểu bang California dụ trừ bị thâm thủng 8 tỷ dollars cho đến giữa năm 2010 nếu không tăng thuế, cắt giảm chi tiêu ngay cả những ngành như y tế, giáo dục, nhà tù, an ninh …, và có nguy cơ lên đến 15 tỷ dollars.

Khi nhiều người bị phá sản, mất nhà, mất việc … không một ai trong chính phủ cứu giúp. Nhưng khi ngân hàng Goldman Sachs bị nguy cơ, càc nhân viên của hãng lương trung bình $350,000 mỗi năm bị thiệt hại, chính phủ không ngần ngại dùng tiền thuế bù đắp thua lỗ. AIG và nhiều ngân hàng khác nhận được nhiều tiền thuế cứu trợ, không bao giờ quên hay giảm tiền thưởng cho các nhân viên, nhất là các giám đốc và ban trị sự. Ngay Chrysler Financial liên quan trực tiếp đến ngành xe hơi Mỹ trên đường phá sản, cũng từ chối $750 triệu tiền chính phủ cho vay, đi mượn ở các nơi khác dù lãi xuất cao hơn, để không bị ràng buộc giới hạn về tiền lương và tiền thưởng cho ban điều hành.

Vào đầu tháng hai năm 2009, một dự luật đã được quốc hội thông qua giới hạn tiền thưởng tối đa cho mười người cao nhất trong ban điều hành của những công ty được chính phủ trợ cấp, là 500 triệu dollars.

Nhìn chung quanh chúng ta, quần áo, giường ngủ, bàn ghế, nồi niêu song chảo, máy giặt, hút bụi … hầu hết những vật dụng đều không do Mỹ sản xuất. Xe hơi sản xuất hơn một nửa bởi các công ty ngoại quốc. Ngay những dụng cụ văn phòng như máy in, photocopy, bàn ghế văn phòng hầu hết mang nhãn hiệu công ty ngoại quốc. Phải đi sâu vào máy vi tính, mới tìm ra chips, CPU mang nhãn hiệu USA. Vậy đâu là sức mạnh để Mỹ làm bá chủ thế giới.

Sức mạnh của Mỹ dựa trên những điểm chính sau:

1. Canh nông, chăn nuôi heo, bò, gà, máy móc, và kỹ nghệ biến chế thực phẩm .... Các ngành này đem lại khoảng 10% sản lượng quốc gia.

2. Võ khí, máy bay. Mỹ là nước đứng đầu xuất cảng võ khí, và máy bay trên thế giới. Tuy nhiên những võ khí tối tân nhất không thể bán cho ai được, chế tạo xong nằm trong kho dự trữ. Các võ khí dùng và gây thiệt hại nhân mạng nhiều nhất trên thế giới như AK47, B40 …phần lớn do các xứ như Trung Cộng, Nam Mỹ … sản xuất, và xuất cảng nhiều vì giá rẻ. Trên thực tế, đây là những võ khí hủy diệt hàng loạt, gây ra cả triệu thương vong mỗi năm.

3. Trí tuệ. Phần lớn những phát minh do các chuyên gia Mỹ. Toàn thế giới dùng hệ điều hành của Microsoft, IBM, HP … và các chương trình Oracle, Sybase ...

4. Y khoa: Thuốc men, dụng cụ y khoa. Vì những gì Mỹ sản xuất ra bán rất đắt, nên bị cạnh tranh nhiều. Riêng về thuốc men, các xứ nhược tiểu mua, hay sản xuất lấy những thuốc thông dụng qua những sáng chế đã được phổ biến công cộng. Còn những thuốc đắt tiền như thuốc chữa ung thư, không hiệu nghiệm lắm, $100 một viên, thà chết còn hơn!!!

5. Ngân hàng và bảo hiểm: Hệ thống ngân hàng và bảo hiểm của Mỹ bao trùm cả thế giới. Cũng nên nhắc lại 95% trao đổi trên thế giới là kinh tế giấy, có nghĩa là không liên quan gì đến những trao đổi mua thực bán thực như dầu hỏa, máy bay, nông phẩm, quặng mỏ, dụng cụ chế biến, xe hơi …Phần lớn những trao đổi này đều dùng tiền dollar và qua tay các ngân hàng Mỹ. Các ngành này đem lại khoảng 40% sản lượng quốc gia. Ngành này đang bị khủng hoảng nặng nề.

Thế giới đi vào cuộc khủng hoảng kinh tế và suy thoái rất trầm trọng. Nguyên nhân là các ngân hàng, đầu tư lớn của Mỹ đã phá và tránh né những điều tiết do chính phủ, hay chính họ đề nghị ra, đầu cơ, đánh cá trên mức độ ngay chính họ cũng không kiểm soát nổi. Các giám đốc quản trị (CEO) và ban trị sự lo nhiều cho tiền thưởng của họ mỗi năm hơn là lo cho các công ty, lấy những quyết định không hợp lý và thái quá. Trước kia tỷ lệ cho vay trên số vốn lưu động của các ngân hàng vào khoảng 12, đã lên đến gần 50. Chi nhánh của các công ty, ngân hàng lớn nằm ở các đảo thiên đàng về thuế má, không ai kiểm soát. Các tiêu chuẩn về kế toán không được thống nhất. Các cải cách sâu rộng trên những nguyên nhân ấy, và những vấn đề lớn của Mỹ như bảo hiểm sức khỏe, súng đạn … đã khó khăn, lại đụng phải các lobbyists và các dân biểu bị mua chuộc.

Câu hỏi mọi người đặt ra là chừng nào ra khỏi cuộc khủng hoảng này. Câu hỏi không có câu trả lời. Nhìn lại năm 1990, khi thị trường địa ốc xụp đổ, Nhật Bản đã bỏ ra khoảng 1,500 tỷ dollars qua 12 chương trình cứu nguy. Nhận Bản cần hơn mười năm tình hình mới xem như tạm ổn. Đó là chỉ khủng hoảng về địa ốc, và chính phủ Nhật Bản có khả năng về tài chính, và quyết tâm giải quyết. Khủng hoảng hiện nay liên quan cùng lúc đến cả hai vấn đề lớn địa ốc và tài chính. Tại Mỹ, hiện nay khoảng 20% nhà có giá trị thấp hơn số tiền đang vay mượn. Số người mất việc làm gia tăng, may mắn kiếm lại việc rất thấp, và tiền lương nhiều khả năng bị suy giảm. Một số người sẽ bắt buộc phải bán nhà, hay để nhà bị tịch thu. Chính phủ đã ra chương trình cho phép nhiều chủ nhà mượn nợ lại với lãi xuất nhẹ hơn để ngăn chặn phần nào số nhà bị tịch thu. Trên thực tế hiệu lực chương trình này còn rất giới hạn. Số nhà được thay đổi lãi xuất tiền mượn chì bằng một phần rất nhỏ những nhà sắp bị tịch thu. Các ngân hàng tìm mọi cách bán đi số nhà có trên tay. Ngân hàng cho vay đòi hỏi những điều kiện ít người có được, như tiền lương cao trên hai ba năm qua, chỉ số tín dụng tốt, và xem xét kỹ lưỡng nguồn gốc số tiền có trong ngân hàng. Vấn đề địa ốc sẽ còn cần nhiều thời gian mới trở lại tình trạng ít nhiều bình thường.

Về tài chính, chính phủ cho các ngân hàng, AIG mượn cả ngàn tỷ dollars để chuyển động lại hệ thống ngân hàng. Các xứ phát triển gia tăng đóng góp vào quỹ tiền tệ thế giới để cứu nguy các xứ kém mở mang bị ảnh hưởng trầm trọng vì suy thoái toàn cầu. Chính phủ Mỹ bắt đầu thay đổi hệ thống thuế để kiểm soát các thiên đàng thuế má. Còn rất nhiều cải tổ phải làm để khủng hoảng trầm trọng không xầy ra nữa.

Riêng tại Mỹ, nhiều gia đình bị phá sản, hay mất hết những gì đã dành dụm từ nhiều năm qua. Tiền để dành hưu trí bị giảm 30% đến 80%. Một số người tự sát, gia đình tan vỡ. Khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng lên học vấn của một số trẻ em, và như vậy trên nhiều thế hệ. Tất cả những chuyện đã và đang xảy ra như vậy trên cả thế giới, thiệt hại, và liên quan trực tiếp đến đời sống nhiều tỷ người, mà không thấy một người trách nhiệm trong chính phủ, hay công ty nào nào nhận lỗi, bị truy tố, hay tù đầy. Trong khi đó, đầu tháng 5 năm 2009, hai vợ chồng broker người Mễ môi giới mua bán nhà bị tuyên án tù 23 năm 8 tháng, và 19 năm 8 tháng vì đã làm giấy tờ giả cho 22 khách hàng mua nhà. Ngay khi kinh tế phục hồi lại, những chuyện đáng tiếc nói trên không bao giờ lấy lại đuợc.

Chính phủ Mỹ, và 19 các nước khác trong nhóm G20 đã bỏ ra vài ngàn tỷ dollars chống đỡ, như vậy tình hình kinh tế đã đến đáy vực chưa?

AIG chỉ dính líu một phần nhỏ trên những sản phẩm tài chính buôn bán riêng giữa những ngân hàng và các cơ quan đấu tư. Số tiền những sản phẩm tài chính này được ước lượng khoảng 700 ngàn tỷ dollars, vượt xa cả trăm lần số tiền G20 đã dùng cứu trợ. Tiền thua lỗ phỏng đoán của 700 ngàn tỷ này, nếu đổ bể ra, có khả năng phá vỡ tất cả hệ thống tài chính hoàn cầu.

Trước tình trạng đen tối như vậy, đâu là hy vọng. Chưa bao giờ 20 quốc gia giầu có nhất thế giới lại đồng tâm, và hiệp lực để cứu vãn nền kinh tế hoàn cầu như hiện nay. Tuy nhiên quốc gia nào cũng muốn lôi kéo theo chiều hướng thuận lợi cho xứ mình. 20 quốc gia này đã chung đóng góp vào quỹ tiền tệ thế giới lên cả tỷ dollars để giúp các xứ nghèo khác đang bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế. Trước nguy cơ của sự xụp đổ hệ thống tiền tệ thế giới, dưới áp lực của đa số dân chúng đương gánh chịu thiệt hại mà không phải họ gây ra, và những cấp bách cải tổ cần thiết về kinh tế nói chung, và cải tổ về sức khỏe tại Mỹ nói riêng, các lobby không còn lộng hành như trước. Các cải tổ sẽ dễ dàng hơn trước nhiều. Các giám đốc ngân hàng, và các cơ quan tài chính sẽ bớt đi những chia chác khổng lồ làm thâm thủng ngân sách các công ty. Không thấy một ai phản đối đề nghị kiểm soát những công ty có trụ sở tại các thiên đường thuế má, và các dự luật kiểm soát mua bán những sản phẩm tài chính. Ngay các công ty sức khỏe cũng tự đề nghị ra những cắt giảm chi phí cho những người tiêu thụ. Chờ xem.

Bài do tác giả gửi đến Đàn Chim Việt Online