Quận đoàn 3 cho lập vòng đai bảo vệ Sài Gòn:  Tuyến Củ chi ở Tây Bắc gồm sư đoàn 25 và liên đoàn 9 Biệt động quân; Tuyến Bình Dương phía Bắc gồm Sư đoàn 5; tuyến Biên Hoà phía Đông Bắùc gồm Sư đoàn 18, Lữ đoàn TQLC; Tuyến Vũng Tầu, Quốc lộ 15 gồm Lữ đoàn dù, bộ binh thuộc Sư đoàn 3 di tản; Tuyến Long An, phía Nam có Sư đoàn 22 di tản và 3 Liên đoàn Biệt động quân. Ngày 21-4 Nguyễn Văn Thiệu từ chức, ông Trần văn Hương lên thay. Khi ấy Lực lượng hai bên Nam Bắc quân như sau.

Bắc Việt 20 sư đoàn, 280 ngàn quân, 400 xe tăng, 420 khầu pháo.

Việt Nam Cộng Hoà. 6 sư đoàn chủ lực, quân số kể cả địa phương 240 ngàn, 625 xe tăng, 400 khẩu pháo.

Lực lượng hai bên cân bằng về xe tăng, pháo binh nhưng về nhân lực và đạn dươc thì Bắùc Việt dồi dào hơn nhiều. Theo ông Cao Văn Viên phía VNCH chỉ còn đủ đạn đánh trong vòng hai tuần lễ.

Vòng đai bảo vệ thủ đô ngày một thu hẹp lại, ngày 24-4 hai ông Thiệu, Khiêm rời Việt Nam. Ngày 26-4 Bắc Việt đánh trường thiết giáp Long Thành, căn cứ Nước trong, ngày 27-4 Sư đoàn 3 CS  tấn công Phước Lễ. Phía Tây các căn cứ dọc theoVàm Cỏ  Đông bị Việt Cộng chiếm, phía Tây Nam,  Đoàn 232 gồm 3 sư đoàn BV cắt Quốc Lộ 4 chận đường tiếp viện từ QK-4... Chiều ngày 28-4 ông Trần Văn Hương bàn giao chức vụ Tổng thống cho Tướng Dương Văn Minh. Đài BBC nói tại Sài Gòn ông Dương Văn Minh đã được cử giữ chức vụ quyền Tổng Thống để chuẩn bị cho một cuộc đầu hàng. Từ 4 giờ sáng 29-4 phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích dữ dội. Dương Văn Minh cử sứ giả đến trại David Tân sơn Nhất để thương thuyết với phái đoàn quân sự CS  nhưng bị Võ Đông Giang bác bỏ. Ngày 29-4 tuyến phòng thủ phía Bắc, Sư đoàn 18 phải rút về Thủ Đức, sáng 30-4 tuyến phía Tây Bắc Sư đoàn 25 thất thủ. Căn cứ Lai Khê phía Bắc bị bao vây, CSBV đã tới Ngã tư Bẩy Hiền giao tranh với quân Dù, Biệt cách Dù chống trả dữ dội. Mười giờ sáng ngày 30-4- năm 1975 Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trong khi quân khu Bốn vẫn còn nguyên vẹn.

Thấm thoắt đã mấy chục năm trôi qua.

Mới đây, năm 2006 cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ Melvin R. Laird dưới thời Nixon lên tiếng kết án Hoa Kỳ phản bội đồng minh năm 1975, ông ta nói rằng đó là một điều xấu hổ, Tổng Thống Ford, bộ trưởng quốc phòng Shlesinger và bộ trưởng ngoại giao Kissinger cũng phải chia sẻ nỗi nhục này. Ông cho rằng Quốc Hội Hoa Kỳ là nguyên nhân chính trong việc bỏ rơi đồng minh qua những quyết định:

1-Chấm dứt can thiệp quân sự (8-73).

2- Cấm can thiệp trở lại Việt nam; 

3- Cấm trả đũa nếu Hiệp định Paris bị vi phạm; 

4- Giảm quân viện từ 1 tỷ 4 xuống 700 triệu vào năm 1974;

5-Từ chối yêu cầu của Tổng thống Ford xin viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam đầu tháng 4-75.

Laird cho rằng Tổng thống Ford đã bác bỏ thuyết Domino có từ 7-4-1954 dưới thời Eisenhower, thuyết Domino nay đã lỗi thời, nếu có bỏ rơi Việt Nam thì Đông Nam Á vẫn tồn tại y nguyên  vì nay hiểm hoạ Cộng sản không còn nghiêm trọng như xưa. Hoa Kỳ vẫn bình chân như vại, họ sẽ không bao giờ còn phải lo sợ bị bao bọc bởi biển đỏ, không bao giờ phải lo xây đắp một Vạn Lý Trường Thành thứ hai. Sẽ không bao giờ có một Vạn Lý Trường Thành thứ hai, có chăng chỉ là bức cổ thành khổng lồ vạn dặm đã được xây dựng dưới thời nhà Tần từ hai ngàn hai trăm năm trước. Hoa kỳ đã chiêu hồi được Trung Quốc, điều mà họ mơ ước từ bấy lâu nay đã thành sự thật, cái bắt tay lịch sử giữa Nixon và Mao ngày 21-2-1972 đã thay đổi cả một kỷ nguyên. Núi xương sông máu của hằng triệu binh lính cả hai miền Nam Bắc Việt Nam đã được họ đem ra làm món hàng đổi chác.

Vô tình Việt nam Cộng Hoà lại đi đúng và vết xe đổ của Trung Hoa Dân Quốc  40 năm trước đó. Trong những năm chống Nhật từ 1940-1945, Hoa Kỳ viện trợ thả dàn cho Tưởng để ngăn chận sự bành trướng của đế quốc Nhật. Năm 1945 quân Nhật đầu hàng, khi ấy Mao còn yếu lắm, mới chỉ kiểm soát được 1/4 đất đai và 1/3 dân số. Tưởng định thừa cơ  xua quân tiêu diệt Mao, Mao  nhờ Liên Sô can thiệp với Anh Mỹ ép Tưởng phải ký đàm phán hoà bình với Mao vì lý do nhân đạo: "nhân dân đã đau khổ nhiều vì chiến tranh Hoa Nhật" Tưởng phải cắn răng mà ký. Trong bốn năm 1945-1948 Mao được Nga viện trợ súng đạn ồ ạt, kể cả vũ khí của Nhật để lại. Mao đã tổ chức được một đạo quân hùng hậu rồi tấn công Tưởng bằng chiến thuật biển người, Hồng quân  tràn vào Hoa Bắc như nước vỡ bờ, cán cân quân sự nghiêng hẳn về phía Mao. Tưởng cử Tống Mỹ Linh sang Hoa Kỳ xin viện trợ đầu tháng 12-1948 nhưng người bạn đồng minh ngoảnh mặt làm ngơ, bỏ rơi Tưởng không thương không tiếc vì nay đế quốc Nhật đã tan tành thành tro bụi, Tưởng không còn là đồng minh cần thiết nữa.

Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam Hoa Kỳ đã chi tiêu trên 300 tỉ đô la, năm 1975 chỉ cần họ cho miền Nam thêm một, hai tỉ là có thể chuyển bại thành thắng nhưng họ từ chối. Khi có chuyện cần dù phải xài hai, ba trăm bạc người ta cũng không tiếc, nhưng khi đã không cần nữa thì dù một đồng người ta cũng chẳng chịu bỏ ra.

Từ sau 1975 đến nay nhiều người vẫn cứ tiếc mãi, họ nói rằng nếu đừng rút lui tại Quân khu 1 và 2, cứ đánh thì chưa chắc ai đã thắng ai. Nhưng nếu ta nhìn lại hơn nửa thế kỷ trước đây thì còn có những cái đáng tiếc gấp trăm lần như thế. Hồi ấy nghe tin Nhật đầu hàng Đồng Minh, Việt Minh thừa cơ nhẩy ra cướp chính quyền. Đại sứ Nhật tại Việt Nam được lệnh của Tokyo phải giữ ngôi cho Hoàng Đế Bảo Đại, ông xin yết kiến nhà vua và Thủ tướng Trần Trọng Kim. Ông nói mặc dù quân Nhật đã đầu hàng Đồng Minh nhưng chúng tôi vẫn có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự tại đây để chờ quân đội Đồng Minh đến giải giới. Đại sứ xin nhà vua và Thủ tướng cho phép dẹp loạn để giữ ngôi Thiên Tử nhưng cả nhà vua lẫn Thủ tướng đã từ chối sự giúp đỡ của họ vì sợ trách nhiệm với Đồng Minh sau này. Tại Hà Nội, Phó lãnh sự Nhật đã đến Phủ Khâm sai gặp bác sĩ Nguyễn xuân Chữ, Chủ tịch Uỷ ban giám đốc chính trị miền Bắc, ông ta nói "chúng tôi sẵn sàng đặt dưới quyền điều động của các ngài" nhưng bác sĩ cũng từ chối thiện chí của họ. 

Nếu hồi đó vua quan không đến nỗi quá ư nhu nhược như thế, nếu người Nhật đã được ủy quyền dẹp loạn tái lập an ninh trật tự thì cái gọi là Tổng Bộ Việt Minh đã bị hoàn toàn tiêu diệt và đất nước đâu đến nỗi phải bị dầy vò xâu xé vì chiến tranh cách mạng mấy chục năm đằng đằng, đâu đến nỗi phải gánh chịu cả một lịch sử tang thương đau khổ di hại đến muôn đời như thế. Nhìn lại qua khứ chúng ta không khỏi chạnh lòng xót thương cho cả một dân tộc bất hạnh trước sự sai lầm của lịch sử.         
                                                


 
Tài Liệu Tham Khảo
 
Trần Trọng Kim: Một Cơn Gió Bụi
Hoàng Văn Chí: Từ Thực Dân Đến Cộng Sản. Chân Trời Mới, 1965.
Cao Thế Dung: Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa, Alpha 1991.
Đoàn Thêm: Những Ngày Chưa Quên, Quyển Thượng (1939-1954), Quyển Hạ(1954-1963), Xuân Thu 2000.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Nam Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Texas 1990.
Lâm Lễ Trinh: Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang, 2006.
Phan Thứ Lang: Bảo Đại, Vị Vua Triều Nguyễn Cuối Cùng, Nhà xuất bản Công An
Nhân Dân, Saigon 1999.
Vũ Ngự Chiêu: Phía Bên Kia Cuộc Cách Mạng 1945, Đế Quốc Việt Nam 3-8-1945,  Văn Hoá ( Houston) 1996
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại Nam, 2000.
Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.
Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.
Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003
Trần Đông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 ngày cuối cùng, Nam Việt 2006
Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh xuất bản, 2005.
Văn Tiến Dũng: Đại Thắng Mùa Xuân, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 2005.
Đinh Văn Thiên: Một Số Trận Đánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn, nhà xuất bản Quân Đôïi Nhân Dân, Hà Nội 2005.
Dương Đình Lập, Trần Minh Cao: Cuộc Tổng Tiến Công và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975, nhà xuất bản tổng hợp TPHCM 2005.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1991.
Đoàn Thêm: 1965 Việc Từng Ngày, Xuân Thu 1989.
Đoàn Thêm: 1966 Việc Từng Ngày, Xuân Thu 1989
Đoàn Thêm: 1969 Việc Từng Ngày, Xuân Thu 1989.
Lâm Quang Thi: Autopsy The Death Of South Vietnam, Sphinx publishing 1986.
The World Almanac Of The VietNam War: John S.Bowman, General editor, A Bison book.
Stanley Karnov: Vietnam - A History, Penguin books 1991.
Marilyn B Young, John J. Fitzgerald, A.Tom Grunfeld: The Vietnam War, A History In Documents, Oxford University press 2002.
Lâm Lễ Trinh: Tổng Thống Hai Ngày Dương Văn Minh, Người Việt Dallas 30-6-2005.
Nguyễn Quang Khải: Sau Ba Mươi Năm Giữ Yên Lặng, Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin R Laird Nói Gì Về Cuộc Chiền Tranh Ở Việt Nam, điện báo Talawas tháng 3-2006.
Việt Nguyên: 32 Năm Lật Trang Sử Cũ, Người Việt Dallas 25-4-2007.
Minh Võ: Tại Sao Thua, Người Việt Dallas 26-4-2006.
Lữ Lan: Cuộc Chiến 30 Năm Nhìn Lại Từ Đầu, Sài Gòn Nhỏ Dallas 28-4-2006.
Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Đỏ Ai Còn Ai Mất, Người Việt Dallas 7-10-2005.
Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt Dallas 21-6-2006.
Lâm Lễ Trinh: Mạn Đàm Với Đại Tướng Cao Văn Viên, Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang 2006.
Hồ Đinh: Cơn Phẫn Nộ Cuối Cùng Của Một Quân Đội Bị Phản Bội, Người Việt Dallas 23-12-2005.
Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ Cung dịch, Người Việt Dallas 22-11-2006.

Bài do tác giả gửi đến Đàn Chim Việt Online