Kế hoạch không đầy đủ, kỷ luật hỗn tạp, không nghiên cứu lộ trình, cầu cống, dân chúng và gia đình binh sĩ chạy theo hỗn độn mất tinh thần. Tại Bình Định 2 Trung đoàn 42 và 47 thuộc Sư đoàn 22 giao chiến với Sư đoàn 3 Sao vàng CSBV, hai bên thiệt hại nặng một nửa quân số. Ngày 27-3 Sư đoàn 320 Bắc Việt tràn vào Tuy Hoà, Sư đoàn F10 tràn ngập Lữ đoàn 3 Dù tại Khánh Dương, ngày 15-4 hai sư đoàn Bắc Việt tấn công phi trường Phan Rang, Tướng tư lệnh mặt trận Nguyễn Vĩnh Nghi, Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân coi như mất tích. Cộng quân chiếm Ninh thuận ngày 16-4, Phan Thiết thất thủ ngày 18-4, Quân Khu 2 hoàn toàn bị Cộng Sản kiểm soát.

Di tản chiến thuật trên đường quốc lộ số 7 là một cuộc thảm bại lớn nhất trong lịch sử chiến tranh miền Nam nước Việt từ trước đến nay, cuộc lui binh đi đúng vào vết xe đổ của trận Cao Băùc Lạng 1950. Tổn thất quá nặng, trong số khoảng 60 ngàn chủ lực quân chỉ có một phần ba tới được Tuy Hoà. Năm Liên đoàn Biệt động quân 7,000 người chỉ còn 900, khoảng 100 xe tăng chỉ còn 13 cái M-113, theo ông Cao Văn Viên, tổng tham mưư trưởng  ít nhất 75% lực lượng chiến đấu của Quân đoàn 2 bị tiêu diệt. Số quân dân tử thương trên đường hành lang máu có thể lên tới hằng chục ngàn, trong số 200 ngàn dân Cao nguyên chạy loạn chỉ có khoảng 45 ngàn tới được Tuy Hoà, tổng số vũ khí quân trang quân dụng trị giá 253 triệu đã lọt vào tay CS, thiệt hại tinh thần còn to tát hơn nữa. Sự thất bại của cuộc di tản này cũng kéo theo sự sụp đổ của Quân khu 1 và rồi của cả miền Nam.

Từ xưa đến nay hầu hết những cuộc tháo lui đều bị địch chận đánh tơi bời tan nát, có lẽ chỉ có quân Nga hồi thế chiến Thứ Hai là ngoại lệ. Giữa năm 1941 Hitler tung 70% lực lượng của y gồm 170 sư đoàn bộ binh và cơ giới tấn công Nga, bị đánh bất ngờ, quân Nga chạy như vịt, 1500 máy bay ở phi trường bị phá hủy trong ba ngày đầu, khoảng 200 Sư đoàn bị đánh tan trong 6 tháng. Chủ lực quân coi như bị tiêu diệt, một triệu ba trăm ngàn quân bị bắt làm tù binh... nhưng nhờ địa thế quá rộng quân Đức không thể đuổi kịp được lại nhờ mùa đông quá khắc  nghiệt, quân Đức bị lạnh chết như rạ. Người Nga tự làm được vũ khí đạn dược nên hai, ba năm sau họ lật lại được thế cờ.

Tình hình Quân khu 1 gồm 5 tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi cũng bước vào giai đoạn bi thảm, tại đây CSBV đưa vào khoảng 8 Sư đoàn, lực lượng VNCH tại đây gồm 3 Sư đoàn BB, 2 Sư đoàn Tổng trừ bị và 4 Liên đoàn BĐ0Q. Ngày 13-3 Tướng Trưởng về dinh Độc Lập họp Hội Đồng An Ninh QG gồm các TT Thiệu, các ông Tướng  Khiêm, Viên, Quang. TT Thiệu nói về kế hoạch tái phối trí lực lượng, rút bỏ miền rừng núi, Cao nguyên về giữ đồng bằng mầu mỡ. Ngày 14-3 Tướng Trưởng về QK-1 họp bàn kế hoạch tái phối trí, Sư đoàn Dù rút về Sài Gòn, Biệt động quân  thay Thuỷ quân lục chiến tại Quảng Trị, ngày 17-3 TQLC rời Quảng Trị về Đà Nẵng thay Lữ đoàn Dù, dân chúng sợ hãi di tản ồ ạt trên Quốc lộ 1.

Ngày 19-3 Tướng Trưởng được triệu về Sài Gòn lần thứ hai, ông trình bầy kế hoạch rút các lực lượng Quân đoàn về Đà Nẵng. Ngày 19-3 Quảng Trị di tản, Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh vào QK-1. Sáng 20-3 Tướng Trưởng bay ra Huế họp tham mưu bàn kế hoạch phòng thủ, Tổng thống ra lệnh phải tử thủ Huế. Chiều hôm ấy Tướng Trưởng về Huế nhận được lệnh chỉ giữ Đà Nẵng thôi. Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh từ Quảng Trị đánh xuống, từ Quảng Ngãi đánh lên, một Trung đoàn của Sư đoàn 1 tại Huế thất thủ, Tướng Trưởng ra lệnh thu gọn phòng tuyến Huế, BV  pháo kích Huế gây náo động, địch chiếm 2 quận thuộc tỉnh Quảng Tín, trước áp lực dồn dập Tướng Trưởng ra lệnh di tản 2 quận Sơn Tràn, Trà Bồng Quảng Ngãi và những tiền đồn xa để co cụm lại. Lực lượng phòng thủ của VNCH ngày một yếu  trước áp lực địch, ngày 24-3 Tam Kỳ, Quảng Tín thất thủ, Cộng quân tấn công Quảng Ngãi dữ dội, dân ùn ùn chạy về Đà Nẵng, chỉ trong một ngày tình hình Quân khu 1 rối loạn đến mức không còn kiểm soát được nũa. Tin thần binh sĩ xuống, ai nấy chán nản thất vọng. TT Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng dùng các Sư đoàn 1, 2, 3 để phòng thủ Đà Nẵng, Sư đoàn TQLC đóng vai trừ bị. Tối 25-3 Sư đoàn 1 và các đơn vị quanh Huế rút về Đà Nẵng, tại cửa Tư Hiền và các địa điểm tập trung quân , hỗn loạn diễn ra, Sư đoàn 1 tan rã tại đây, chỉ còn một phần ba về tới Đà Nẵng và rã ngũ. Trong khi ấy hằng trăm xe tăng, đại bác kéo về của Thuận An, hỗn loạn diễn ra dữ dội, VC pháo kích vào địa điểm tập trung gây thiệt hại nặng .

Chiều 25-3 chưa đầy một tuần Quân khu 1 chỉ còn Đà Nẵng, các đơn vị Sư đoàn 2, tiểu khu Quảng tín, Quảng Ngãi... xuống tầu hải quân ra cù lao Ré. Ngày 26-3 hai tầu dương vận hạm đến của Thuận An để chở TQLC và chấm dứt vận chuyển 28-3, còn một số bị bỏ lại, địch pháo theo gây thiệt hại nặng, xe cộ vứt ngỗn ngang... Tại Chu lai Sư đoàn 2 chen nhau lên tầu về Bình Tuy cũng chỉ còn một nửa quân số. Ngày 27-3 dân chạy vào Đà Năõng gây náo loạn, Thừa Thiên đổ xuống, Quảng Nam Quảng Tín chạy ngược lên, Đà Nẵng dân số 300 ngàn nay phải chứa trên một triệu, người ta nằm đầy gầm cầu, tha ma nghĩa địa, trộm cướp nổi lên. Bốn Sư đoàn Bắc Việt có xe tăng đại bác sắp tấn công, địch pháo kích chính xác vào Đà Nẵng khiến nhiều người tỵ nạn chết. Ngày 28-3 Tướng Trưởng diện thoại cho TT Thiệu xin lệnh, ông Thiệu nói tùy cơ lo liệu. Ngày 30-3 Đà Nẵng thất thủ khoảng 50 ngàn người bị bắt làm tù binh, Quân khu 1 chỉ còn lại 16 ngàn lính di tản vào Nam, quân dụng, súng đạn... coi như mất hết hoặc bị phá hủy. Quân khu 1 mất dễ dàng trong vòng 10 ngày (19-30) gần như không có trận chiến nào dai dẳng nguyên do rút Sư đoàn Dù quá nhanh khiến dân hốt hoảng, tuyên bố tử thủ Huế sau lại bỏ Huế khiến dân chúng hoang mang, những tin đồn cắt đất khiến dân mất tinh thần. Cuộc di tản QK-1 nhất là tại Huế được mô tả là tồi tệ  hơn tại QK-2, cấp lớn được đưa về Đà Nẵng bỏ lại cấp nhỏ sinh ra bất mãn hỗn loạn, thượng bất chính hạ tắc loạn.

Quân khu 1 và 2 mất nhanh một phần lớn vì ông  Thiệu quyết định bỏ hai vùng này như đã họp bàn hôm 11-3 tại dinh Độc lập. Sau này ông Cao văn Viên cho rằng kế hoạch bỏ Vùng 1 và 2 về giữ Vùng 3 và 4 là một kế hoạch đúng nhưng thực hiện quá trễ, đúng lý ra phải thực hiện từ 6 tháng trước. Kế hoạch này có thể đúng về mặt quân sự nhưng về phương diện lương tâm đạo đức thì không thể chấp nhận được vì nó bất nhân, bỏ đồng bào ruột thịt của mình lại để chạy tháo thân.  Thực hiện kế hoạch lui binh rút bỏ Quân khu 1 và 2 tướng Thiệu đã dọn cỗ sẵn cho CSBV xơi, họ  tịch  thu được nhiều xe cộ, vũ khí, đạn dược... khiến cho đạo quân xâm lược tăng lên gấp bội, thật là giáo vào tay giặc. Nhiều người cho đây là trò nước bạc tháo cáy của  TT Thiệu để hòng lôi kéo Mỹ trở lại nhưng không có hiệu quả gì.

Kế hoạch rút bỏ 2 quân khu đưa tới hỗn loạn dữ dội  đã khiến cho hằng chục ngàn người thiệt mạng. Tướng Thiệu phải chịu trách nhiệm về những cái chết oan uổng của hằng mấy vạn người. Cuộc tháo lui được coi là tồi tệ về mặt trách nhiệm, cấp chỉ huy tháo chạy bỏ lại cấp dưới gây ra làn sóng bất mãn đưa tới hỗn loạn. Có điều mâu thuẫn là thượng cấp bi quan chủ trương rút lui, nhưng tinh thần chiến đấu của sĩ quan, binh lính vẫn còn cao. Trên đường chạy loạn dân quân oán ghét ông Thiệu ngút trời xanh, chạy đến Phan Rang vì quá phẫn uất họ lấy xe máy cày, xe thiết giáp ủi sạch mồ mả trong nghĩa trang gia đình ông Thiệu .

Một điều mâu thuẫn nữa là nếu biết trước sẽ thua vì hết đạn, hết nhiên liệu thì sao không thương thuyết hay hoà giải lại cho rút quân đại qui mô làm chết bao nhiêu người một cách vô ích. Cuộc triệt thoái coi như thất bại, vũ khí đạn dược coi như mất hết, các đơn vị tinh nhuệ bị tan rã, có đơn vị chỉ còn một phần ba hay tệ hơn thế. Sau khi mất Quân khu 1 và 2, Quân khu 3 và 4 coi như không thể đứng vững được.

Thời cơ đã tới, Bắc Việt vội đưa thêm các Sư đoàn tổng trừ bị vào Quân khu 3 tăng cường , tổng cộng lực lượng lên tới 20 Sư đoàn bộ binh chưa kể khoảng trên hai mươi trung đoàn xe tăng, pháo binh, phòng không. Ông Thiệu xin viện trợ khẩn cấp, người Mỹ chỉ viện trợ tượng trưng mấy khẩu đại bác, họ cử người sang để tìm cách thu hồi máy bay, tầu thủy. Chiến tranh Việt Nam đã coi như xong, ngày 18-4 Uỷ ban Quốc phòng Thượng Viện Mỹ chỉ cấp ngân khoản di tản chứ không cho quân viện. Ngày 2-4 Thủ tướng Khiêm từ chức, chủ tịch hạ viện ông Nguyễn bá Cẩn lên thay. Ngày 9-4  ba Sư đoàn Bắc Việt tấn công Xuân Lộc, Sư đoàn 18 anh dũng chiến đấu đẩy lui địch, ngày15-4 bắc Việt gửi thêm một Sư  đoàn đánh Xuân Lộc, Tướng Toàn cho ném bom Daisy Cutter khiến mấy trung đoàn Bắùc Việt tử thương. Sư đoàn 18 thiệt hại 30% quân số phải rút lui ngày 20-4, Địa phương quân nghĩa quân thiệt hại nặng, BV chết 5,000 người, 37 xe tăng bị bắn cháy.