- Trang Chủ
- Điểm Nóng
- Chính trị Việt Nam
- Ba mươi năm lịch sử Việt Nam
Ba mươi năm lịch sử Việt Nam
- Tác Giả Trọng Đạt
- Đăng ngày 29.06.09
- Chính trị Việt Nam
Mặc dù thất bại về quân sự nhưng CS gây được tiếng vang ảnh hưởng rất lớn tới phong trào phản chiến Mỹ. Người dân Mỹ cho rằng không thể thắng được cuộc chiến tranh này, họ lại rầm rộ xuống đường đòi rút quân về nước. Cuộc Tổng công kích cho thấy CS tỏ ra rất lì lợm cố đấm ăn xôi khiến người Mỹ phải ghê tởm cuộc ciến tranh bẩn thỉu để tính chuyện rút quân bỏ Việt Nam.Tháng 3-1968 Johnson ngưng oanh tạc phần lớn lãnh thổ Bắc Việt kêu gọi đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh, Bắc Việt sợ hãi phải nhận lời, hoà đàm bắt đầu ngày 10-5-1968. Johnson không tái tranh cử 1969-73. Tháng 1-1969 Nixon đắc cử nhậm chức Tổng thống thực hiện VN hoá chiến tranh. Năm 1970 họ đã bắt đầu đi đêm với Trung Cộng, ngày 9-7-1971 Kissinger bí mật gặp Chu Ân Lai tại Bắc Kinh... họ đưa vấn đề VN ra để mắc cả mua bán với nhau. Tại trận Mậu Thân chúng ta đánh thắng một trận lớn nhưng chúng ta thua cuộc chiến.
Tình hình chính trị, xã hội của miền Nam Việt Nam không được ổn định cho lắm, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng thối nát, mua quan bán tước. Bất công xã hội thì thật là ghê tởm, tại Sài Gòn và các thành phối lớn thương gia làm giầu nhanh chóng xây nhà năm bảy từng đầy cả ra trong khi ngoài mặt trận binh sĩ chết như rạ. Mỹ đổ quân tham chiến tại Việt Nam đến nay đã được 4, 5 năm, người dân Mỹ nay quá chán ghét chiến tranh Việt Nam, họ biểu tình phản đối chính phủ khắp nơi vì thấy không giải quyết được cuộc chiến và ngày càng lầy. Số binh sĩ Mỹ tử thương ngày càng cao, năm 1965 có 1,300 người, năm 1966 tăng lên 5,000, năm 1967 tăng 9,000, năm 1968 lên tới 14 ngàn. Chi phí quân sự cũng leo thang dữ dội, năm 1964 mới có 400 triệu, năm 65 lên 600 triệu, năm 1966 vọt lên 6 tỷ, năm 1967 lên 20 tỷ, năm 1968 lên 26 tỷ, năm 1969 lên 29 tỷ. Lý do chính của phong trào phản chiến là số tử vong ngày một cao, do ở tâm lý anh nhà giầu sợ chết. Cuộc chiến giữa Mỹ và Bắc Việt không cân xứng về hoả lực và nhất là về mặt tinh thần, một bên là anh nhà giầu sợ chết, một đằng là thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi.
Từ 1965 cho tới cuối 1968 tổng số quân nhân Mỹ tử thương mới có 30 ngàn, chỉ bằng 1/10 số lính Nga, Đức chết trong trận Stalingrad năm1942 hay trận Bá Linh năm 1945, nhưng người Mỹ vô cùng quí trọng sinh mạng của họ, cho rằng chỉ có họ mới là đáng sống. Những người biểu tình đã cầm danh sách những người tử trận đọc cả tiếng đồng hồ trước đám đông. Riêng năm1968 theo bộ trưởng quốc phòng Laird, Cộng quân đã mất 290 ngàn tại miền Nam nghĩa là gấp 20 lần số tổn thất của Mỹ cùng năm1968. Đó thật là một điều mâu thuẫn, người Mỹ thích làm người hùng diệt gian trừ bạo như trong các phim ảnh miền Tây, thích làm trùm thế giới nhưng lại sợ chết!
Năm 1969 Nixon đắc cử lên nhậm chức Tổng thống tháng ngày 20-1, ông hứa sẽ giải quyết chiến tranh Việt Nam, hoà bình trong danh dự. Mỹ không rút tỉa được kinh nghiệm của Pháp trong cuộc chiến tranh 1947-54 trước đây nhưng họ lại đi vào vết xe đổ của bọn thực dân, quá tin tưởng vào hoả lực vũ bão của mình nên đã bị sa lầy. Tháng 4-1969 tướng Wesmoreland, cựu tư lệnh Mỹ tại Việt nam và đô đốc Sharps phúc trình về chiến tranh Việt Nam trong 4 năm qua, dài 347 trang cho biết quân đội Mỹ đã bị bó tay vì chính sách hạn chế chiến tranh củaTổng thống Mỹ Johnson, không cho đánh qua Miên, Lào. Đô đốc Sharp cựu tư lệnh Thái bình Dương đăng báo công kích cựu bộ trưởng quốc phòng Mc Namarra không cho oanh tạc phá hủy tiềm lực kinh tế Bắc Việt mà chỉ cho ngăn cản xâm nhập nên các cuộc oanh tạc hóa ra vô hiệu, Hoa Kỳ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội chiến thắng Cộng Sản. Các cựu tương lãnh chỉ trích chiến tranh hạn chế của chính phủ, Johnson không dám mở rộng sợ Trung Cộng nhảy vào có thể gây thế chiến.
Năm 1969 đánh dấu một khúc quành quan trọng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ rút quân thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh (Vietnamezation, Viet namizing the war). Mầm mống của sự bỏ rơi miền Nam bắt đầu, theo cựu Bộ trưởng quốc phòng Melvin R. Laird, Hoa kỳ chưa muốn bỏ Việt Nam nhưng muốn giao lại cho người Việt tự giải quyết với nhau. Lý do của sự rút quân như chúng ta đều đã biết vì phong trào phản chiến đã lên quá cao, cũng như người Pháp năm 1954, dân Mỹ đòi chính phủ sớm rút quân, lấy tù binh về nước. Nhưng theo ông Laird tiết lộ mới đây, năm1969 Nga -Tầu từ bạn thành thù, ngày càng công kích nhau dữ dội, hiểm hoạ Cộng Sản không còn đe dọa nặng nề như trước, thuyết Domino không còn đứng vững, có nghĩa là nếu mất Đông Dương thì Á châu vẫn còn tồn tại. . đó là những ý nghĩ manh nha cho sự bỏ rơi toàn cõi Đông Dương của Mỹ. Từ tháng 6-1969 Mỹ bắt đầu rút quân, tới cuối 1969 rút đợt đầu tiên 60 ngàn người, trong năm 1970 rút 141 ngàn người, năm 1971 rút 178 ngàn người. . đến 1972 rút 132 ngàn chỉ còn 24 ngàn quân, họ đổ quân vào ồ ạt rồi rút lui êm thắm. Mỹ thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh và ngấm ngầm tìm cách bắt tay với Trung Hoa đỏ và đã có ý định thực hiện kế hoạch "vắt chanh bỏ vỏ".
Cuối năm 1965 quân đội Việt Nam Cộng Hoà vào khoảng 560 ngàn, năm 1967 tăng lên 640 ngàn, năm 1968 lên tới hơn 820 ngàn, giữa năm 1969 tăng lên gần 900 ngàn, năm 1970 tăng 960 ngàn, năm 1971-1972 tăng lên một triệu, từ đó tới 1975 không thay đổi mấy. Chủ lực quân chiếm 40% quân số khoảng 400 ngàn , trong đó từ khoảng 150 ngàn tới 180 ngàn thuộc các Sư đoàn BB và Tổng trừ bị, còn lại thuộc các binh chủng yểm trợ như truyền tin công binh, hoặc không tác chiến hành chánh tài chánh, quân lương... Lính nhà nghề chỉ có 13 Sư đoàn và 17 liên đoàn Biệt động quân (có tài liệu nói 15 liên đoàn). Địa phuơng quân vào khoảng trên 330 ngàn người, nghĩa quân khoảng gần 200 ngàn. Ngày 18-3-1970 Quốc hội, Hội đồng Hoàng Gia Miên bỏ phiếu truất phế Sihanouk khi nhà vua đi Nga, rồi cử Lon Nol lên thay. Cuối tháng 4-1970 Đỗ Cao Trí hành quân sang Miên tấn công các căn cứ CS khiến địch phải tháo chạy vì bị đánh bất ngờ.
Chiến sự vẫn leo thang khiến dân chúng Mỹ lại biểu tình chống đối dữ dội, tháng 11 năm1969 có khoảng 300 ngàn người biểu tình phản chiến tại Hoa Thịnh Đốn, năm 1970 phản chiến bộc phát mạnh hơn vì Nixon giúp Việt Nam Cộng Hòa đánh sang Miên. Tại đại hoc Kent, Ohio ngày 4-5-1970 sinh viên biểu tình có sô sát bị lính bắn chết 4 người, 10 người bị thương y như đổ dầu vào lửa khiến tình hình càng gay cấn hơn. Cuối tháng 5-1970 trên 400 đại học Mỹ bãi khoá biểu tình chống chính phủ, ngày 18-5-1970 khoảng 100 ngàn người biểu tình trước toà Bạch Ốc, Nixon vẫn cứng rắn với nhóm phản chiến.
Đầu năm 1971 VNCH thừa thắng mở chiến dịch Hành quân Lam sơn 719 sang Lào do Sư đoàn 1, Sư đoàn nhẩy dù, Sư đoàn TQLC, Liên đoàn 1 Biệt động quân, Thiết kỵ... tổng cộng khoảng 17 ngàn người. Kế hoạch do Mỹ soạn thảo. Bộ Tư lệnh Quân khu 1 của Tướng Hoàng Xuân Lãm tập hợp ban bố lệnh hành quân 3-2-1971 nhưng đài BBC, VOA đã loan báo cuộc hành quân 6 tiếng đồng hồ trước đó. Năm ngày trước khi hành quân MACV vô tình để lộ tin nên Hà Nội biết trước. Cuộc hành quân thắng lợi lúc đầu, phá được nhiều cơ sở hậu cần CSBV, bắn cháy nhiều xe tăng T-54, đốt phá các kho tiếp liệu... nhưng sau đó Bắc Việt đưa các Sư đoàn có đại bác 130 ly, xe tăng, đông gấp bội tiến đánh, ta phải rút lui tổng cộng có khoảng 1,600 chết, khoảng 4,000 bị thương, 2,500 mất tích, Mỹ chết gần 200 người 1,940 bị thương, 100 máy bay bị hạ. Bắc Việt cũng bị thiệt hại nặng khoảng 500 xe vận tải, gần 100 xe tăng, bị tịch thu hay bắn cháy, khoảng 70 đại bác, 100 súng phòng không, 5000 vũ khí cá nhân bị tịch thu hay bị phá hủy, 12 ngàn cán binh bị tử thương. Quân đội VNCH thất bại vì hành quân vào một địa thế hiểm trở với 17 ngàn quân trong khi lực lượng địch có tới 60 ngàn. Nói chung hai bên đều thiệt hại nặng.
Hoà đàm Ba Lê khai mạc từ tháng 5-1968 đến nay vẫn chưa đạt được thỏa thuận nào, Bắc Việt lợi dụng ngưng oanh tạc, lợi dụng hoà đàm để chuyển quân vào Nam. Tháng 11-1969 tướng Wesmoreland ở Mỹ nói nếu cứ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, Mỹ đã mắc lừa Bắc Việt. Năm 1971 Nguyễn Văn Thiệu độc diễn tiếp tục làm Tổng thống VNCH nhiệm kỳ hai, chế độ Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng thối nát hơn hết từ ngày có chính phủ Quốc Gia Việt Nam 1949 cho đến nay.
Từ 21-2-1972 Nixon đi Tầu, điều mà người Mỹ mơ ước bao lâu nay đã thành sự thật, họ đã chiêu hồi được Trung Quốc, cái bắt tay giữa Mao và Nixon đã thay đổi cả một kỷ nguyên, họ mua bán với nhau trên xương máu của cả hai miền Nam Bắc. Từ 20 đến 29-5 Nixon đi Nga, cuộc chiến tranh VN đã được Quốc tế hoá. Tháng 5-1972 Nixon cho phong toả cảng Hải Phòng.
Tình hình chính trị, xã hội của miền Nam Việt Nam không được ổn định cho lắm, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng thối nát, mua quan bán tước. Bất công xã hội thì thật là ghê tởm, tại Sài Gòn và các thành phối lớn thương gia làm giầu nhanh chóng xây nhà năm bảy từng đầy cả ra trong khi ngoài mặt trận binh sĩ chết như rạ. Mỹ đổ quân tham chiến tại Việt Nam đến nay đã được 4, 5 năm, người dân Mỹ nay quá chán ghét chiến tranh Việt Nam, họ biểu tình phản đối chính phủ khắp nơi vì thấy không giải quyết được cuộc chiến và ngày càng lầy. Số binh sĩ Mỹ tử thương ngày càng cao, năm 1965 có 1,300 người, năm 1966 tăng lên 5,000, năm 1967 tăng 9,000, năm 1968 lên tới 14 ngàn. Chi phí quân sự cũng leo thang dữ dội, năm 1964 mới có 400 triệu, năm 65 lên 600 triệu, năm 1966 vọt lên 6 tỷ, năm 1967 lên 20 tỷ, năm 1968 lên 26 tỷ, năm 1969 lên 29 tỷ. Lý do chính của phong trào phản chiến là số tử vong ngày một cao, do ở tâm lý anh nhà giầu sợ chết. Cuộc chiến giữa Mỹ và Bắc Việt không cân xứng về hoả lực và nhất là về mặt tinh thần, một bên là anh nhà giầu sợ chết, một đằng là thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi.
![]() |
Từ 1965 cho tới cuối 1968 tổng số quân nhân Mỹ tử thương mới có 30 ngàn, chỉ bằng 1/10 số lính Nga, Đức chết trong trận Stalingrad năm1942 hay trận Bá Linh năm 1945, nhưng người Mỹ vô cùng quí trọng sinh mạng của họ, cho rằng chỉ có họ mới là đáng sống. Những người biểu tình đã cầm danh sách những người tử trận đọc cả tiếng đồng hồ trước đám đông. Riêng năm1968 theo bộ trưởng quốc phòng Laird, Cộng quân đã mất 290 ngàn tại miền Nam nghĩa là gấp 20 lần số tổn thất của Mỹ cùng năm1968. Đó thật là một điều mâu thuẫn, người Mỹ thích làm người hùng diệt gian trừ bạo như trong các phim ảnh miền Tây, thích làm trùm thế giới nhưng lại sợ chết!
Năm 1969 Nixon đắc cử lên nhậm chức Tổng thống tháng ngày 20-1, ông hứa sẽ giải quyết chiến tranh Việt Nam, hoà bình trong danh dự. Mỹ không rút tỉa được kinh nghiệm của Pháp trong cuộc chiến tranh 1947-54 trước đây nhưng họ lại đi vào vết xe đổ của bọn thực dân, quá tin tưởng vào hoả lực vũ bão của mình nên đã bị sa lầy. Tháng 4-1969 tướng Wesmoreland, cựu tư lệnh Mỹ tại Việt nam và đô đốc Sharps phúc trình về chiến tranh Việt Nam trong 4 năm qua, dài 347 trang cho biết quân đội Mỹ đã bị bó tay vì chính sách hạn chế chiến tranh củaTổng thống Mỹ Johnson, không cho đánh qua Miên, Lào. Đô đốc Sharp cựu tư lệnh Thái bình Dương đăng báo công kích cựu bộ trưởng quốc phòng Mc Namarra không cho oanh tạc phá hủy tiềm lực kinh tế Bắc Việt mà chỉ cho ngăn cản xâm nhập nên các cuộc oanh tạc hóa ra vô hiệu, Hoa Kỳ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội chiến thắng Cộng Sản. Các cựu tương lãnh chỉ trích chiến tranh hạn chế của chính phủ, Johnson không dám mở rộng sợ Trung Cộng nhảy vào có thể gây thế chiến.
Năm 1969 đánh dấu một khúc quành quan trọng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ rút quân thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh (Vietnamezation, Viet namizing the war). Mầm mống của sự bỏ rơi miền Nam bắt đầu, theo cựu Bộ trưởng quốc phòng Melvin R. Laird, Hoa kỳ chưa muốn bỏ Việt Nam nhưng muốn giao lại cho người Việt tự giải quyết với nhau. Lý do của sự rút quân như chúng ta đều đã biết vì phong trào phản chiến đã lên quá cao, cũng như người Pháp năm 1954, dân Mỹ đòi chính phủ sớm rút quân, lấy tù binh về nước. Nhưng theo ông Laird tiết lộ mới đây, năm1969 Nga -Tầu từ bạn thành thù, ngày càng công kích nhau dữ dội, hiểm hoạ Cộng Sản không còn đe dọa nặng nề như trước, thuyết Domino không còn đứng vững, có nghĩa là nếu mất Đông Dương thì Á châu vẫn còn tồn tại. . đó là những ý nghĩ manh nha cho sự bỏ rơi toàn cõi Đông Dương của Mỹ. Từ tháng 6-1969 Mỹ bắt đầu rút quân, tới cuối 1969 rút đợt đầu tiên 60 ngàn người, trong năm 1970 rút 141 ngàn người, năm 1971 rút 178 ngàn người. . đến 1972 rút 132 ngàn chỉ còn 24 ngàn quân, họ đổ quân vào ồ ạt rồi rút lui êm thắm. Mỹ thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh và ngấm ngầm tìm cách bắt tay với Trung Hoa đỏ và đã có ý định thực hiện kế hoạch "vắt chanh bỏ vỏ".
Cuối năm 1965 quân đội Việt Nam Cộng Hoà vào khoảng 560 ngàn, năm 1967 tăng lên 640 ngàn, năm 1968 lên tới hơn 820 ngàn, giữa năm 1969 tăng lên gần 900 ngàn, năm 1970 tăng 960 ngàn, năm 1971-1972 tăng lên một triệu, từ đó tới 1975 không thay đổi mấy. Chủ lực quân chiếm 40% quân số khoảng 400 ngàn , trong đó từ khoảng 150 ngàn tới 180 ngàn thuộc các Sư đoàn BB và Tổng trừ bị, còn lại thuộc các binh chủng yểm trợ như truyền tin công binh, hoặc không tác chiến hành chánh tài chánh, quân lương... Lính nhà nghề chỉ có 13 Sư đoàn và 17 liên đoàn Biệt động quân (có tài liệu nói 15 liên đoàn). Địa phuơng quân vào khoảng trên 330 ngàn người, nghĩa quân khoảng gần 200 ngàn. Ngày 18-3-1970 Quốc hội, Hội đồng Hoàng Gia Miên bỏ phiếu truất phế Sihanouk khi nhà vua đi Nga, rồi cử Lon Nol lên thay. Cuối tháng 4-1970 Đỗ Cao Trí hành quân sang Miên tấn công các căn cứ CS khiến địch phải tháo chạy vì bị đánh bất ngờ.
Chiến sự vẫn leo thang khiến dân chúng Mỹ lại biểu tình chống đối dữ dội, tháng 11 năm1969 có khoảng 300 ngàn người biểu tình phản chiến tại Hoa Thịnh Đốn, năm 1970 phản chiến bộc phát mạnh hơn vì Nixon giúp Việt Nam Cộng Hòa đánh sang Miên. Tại đại hoc Kent, Ohio ngày 4-5-1970 sinh viên biểu tình có sô sát bị lính bắn chết 4 người, 10 người bị thương y như đổ dầu vào lửa khiến tình hình càng gay cấn hơn. Cuối tháng 5-1970 trên 400 đại học Mỹ bãi khoá biểu tình chống chính phủ, ngày 18-5-1970 khoảng 100 ngàn người biểu tình trước toà Bạch Ốc, Nixon vẫn cứng rắn với nhóm phản chiến.
![]() |
Đầu năm 1971 VNCH thừa thắng mở chiến dịch Hành quân Lam sơn 719 sang Lào do Sư đoàn 1, Sư đoàn nhẩy dù, Sư đoàn TQLC, Liên đoàn 1 Biệt động quân, Thiết kỵ... tổng cộng khoảng 17 ngàn người. Kế hoạch do Mỹ soạn thảo. Bộ Tư lệnh Quân khu 1 của Tướng Hoàng Xuân Lãm tập hợp ban bố lệnh hành quân 3-2-1971 nhưng đài BBC, VOA đã loan báo cuộc hành quân 6 tiếng đồng hồ trước đó. Năm ngày trước khi hành quân MACV vô tình để lộ tin nên Hà Nội biết trước. Cuộc hành quân thắng lợi lúc đầu, phá được nhiều cơ sở hậu cần CSBV, bắn cháy nhiều xe tăng T-54, đốt phá các kho tiếp liệu... nhưng sau đó Bắc Việt đưa các Sư đoàn có đại bác 130 ly, xe tăng, đông gấp bội tiến đánh, ta phải rút lui tổng cộng có khoảng 1,600 chết, khoảng 4,000 bị thương, 2,500 mất tích, Mỹ chết gần 200 người 1,940 bị thương, 100 máy bay bị hạ. Bắc Việt cũng bị thiệt hại nặng khoảng 500 xe vận tải, gần 100 xe tăng, bị tịch thu hay bắn cháy, khoảng 70 đại bác, 100 súng phòng không, 5000 vũ khí cá nhân bị tịch thu hay bị phá hủy, 12 ngàn cán binh bị tử thương. Quân đội VNCH thất bại vì hành quân vào một địa thế hiểm trở với 17 ngàn quân trong khi lực lượng địch có tới 60 ngàn. Nói chung hai bên đều thiệt hại nặng.
Hoà đàm Ba Lê khai mạc từ tháng 5-1968 đến nay vẫn chưa đạt được thỏa thuận nào, Bắc Việt lợi dụng ngưng oanh tạc, lợi dụng hoà đàm để chuyển quân vào Nam. Tháng 11-1969 tướng Wesmoreland ở Mỹ nói nếu cứ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, Mỹ đã mắc lừa Bắc Việt. Năm 1971 Nguyễn Văn Thiệu độc diễn tiếp tục làm Tổng thống VNCH nhiệm kỳ hai, chế độ Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng thối nát hơn hết từ ngày có chính phủ Quốc Gia Việt Nam 1949 cho đến nay.
Từ 21-2-1972 Nixon đi Tầu, điều mà người Mỹ mơ ước bao lâu nay đã thành sự thật, họ đã chiêu hồi được Trung Quốc, cái bắt tay giữa Mao và Nixon đã thay đổi cả một kỷ nguyên, họ mua bán với nhau trên xương máu của cả hai miền Nam Bắc. Từ 20 đến 29-5 Nixon đi Nga, cuộc chiến tranh VN đã được Quốc tế hoá. Tháng 5-1972 Nixon cho phong toả cảng Hải Phòng.


