Sau trận Cao Bắc Lạng Pháp hoảng quá cử tướng năm sao De Lattre de Tassigny đến Đông Dương cuối 1950, tăng thêm 18 ngàn quân xa, 2,300 thiết giáp, 230 tầu chiến giang đĩnh, hơn 500 ngàn súng cá nhân, 1,500 súng cối, 750 đại bác. De Lattre cho xây khoảng 1000 lô cốt đốn bót kiên cố đương đầu với Việt Minh đang thừa thắng. Trận chiến ngày càng leo thang, tính đến cuối năm 1950 đã có 15 ngàn lính Pháp tử trận. Việt Minh bắt đầu đánh lớn, ngày 13-1-1951 họ đánh đồn Bao Chúc gần Vĩnh Yên , chiếm được nhiều cao điển quanh Vĩnh Yên, Hà Nội bị đe doạ, trận chiến diễn ra dữ dội. Trận này Võ Nguyên Giáp cũng đánh biển người thí quân dữ dội, không có cứu thương, Giáp huy động hai sư đoàn 308, 312 xung phong hết lớp này đến lớp khác, đại liên bắn không xuể, hai bên bây giờ trộn trấu. Việt Minh đánh chia cắt 6 ngàn quân Pháp, 24 tiểu đoàn Việt Minh giáp mặt 3 liên đoàn Pháp. De Lattre quyết định táo bạo tàn nhẫn không ai ngờ, Salan cũng không ngờ, ông ta cho tập trung khoảng 100 máy bay ném xuống mặt trận 300 quả bom săng lửa (napalm) thí quân cả hai bên, lửa đỏ rực cả góc trời thiêu đốt cả hai đạo quân đang xáp lá cà. Việt Minh mất khoảng 6,000 người, 500 bị bắt làm tù binh. Võ nguyên Giáp và cố vấn Tầu sợ xanh mặt, không ai ngờ De Lattre chơi bạo đến thế.

Giáp bổ sung quân số, trang bị lại rồi dùng Đại đoàn 308, 312, 316 tấn công Mạo Khê, đe doạ Hải Phòng, mặc dù đánh biển người nhưng cũng không chiếm được mục tiêu. Kế đó là trận bờ sông Đáy kéo dài trên phòng tuyến 80 cây số, gần một tháng, Sư đoàn 308 đánh Ninh Bình, 304 đánh Phủ Lý, 320 đánh Phát Diệm, Việt Minh để lại 350 xác chết, trận Yên cư Hạ trên mấy ngọn đồi thuộc Nam Bắc Việt vào đầu tháng 6-1951 Việt Minh cũng đánh biển người nhưng không hạ được đồn. Toàn bộ chiến dịch bờ sông Đáy Việt Minh tổn thất khoảng 10 ngàn người, Pháp mất 2,500 người. De Lattre đánh bại Võ nguyên Giáp mấy trận liên tiếp cứu vãn sự sụp đổ của miền Bắc trước những trận thí quân điên cuồng của địch. Cách đây 4 năm Pháp cho khoảng 1000 lính nhẩy dù xuống Bắc cạn trúng Tổng hành dinh Hồ chí Minh bắt hụt toàn bộ cấp lãnh đạo CSVN, nay tháng 6-1951 Pháp nhẩy dù đột kích chợ Cháy và lại bắt hụt Hồ Chí Minh lần nữa.

Pháp thắng lợi về quân sự nhưng thất bại về chính triï, quân Pháp quá tàn bạo, trong các cuộc hành quân vào làng, chúng cướp bóc, hãm hiếp đốt nhà, bắn giết tàn bạo lương dân vô tội. Hành động khát máu của lính Tây đã vô tình đẩy người dân về phía đối phương. Ngay cả báo chí tại Ba Lê hồi ấy cũng đã phơi bầy cho dân chúng thấy tội ác của bọn thực dân. Năm 1952 De Lattre chết vì bệnh ung thư, Salan lên thay hành quân càn quét Hòa Bình, Việt Minh đánh thí quân tàn bạo, Pháp phải rút khỏi Hoà Bình, Việt Minh chết khoảng 5,000 người.

Mặc dù những trận biển người không đạt thắng lợi về quân sự nhưng người Pháp đã phải run sợ trước một kẻ thù cố đấm ăn xôi, đánh thí mạng cùi. Người Pháp ngày càng ghê sợ chán ghét chiến tranh Đông Dương. Chiến sự ngày càng leo thang ác liệt, năm 1953 quân Đông Dương đã tăng khoảng 440 ngàn  người trong số đó lính Pháp và Bắc Phi khoảng 125 ngàn  còn lại là người bản xứ. Việt Minh nay có 125 ngàn chính qui, 75 ngàn địa phương quân và 150 ngàn du kích. Quân đội Quốc Gia Việt Nam cuối 1953 có khoảng 150 ngàn chủ lực và 50 ngàn phụ lực quân, trang bị còn yếu kém chưa đủ sức chống Việt Minh.

Người Pháp đang tìm cách rút chân ra khỏi bãi lầy, tướng Salan mất tinh thần dự định rút quân xuống dưới vĩ tuyến 16 bỏ miền Bắc nay đã bị Việt Minh làm cho ung thối, dân Pháp đa số chán ghét chiến tranh Đông Dương vì tốn kém tiền bạc, thiệt hại nhiều nhân mạng, họ muốn rút lui càng sớm càng tốt. Tháng 5-1953 Navarre được cử sang làm tư lệnh quân viễn chinh, mỗi tư lệnh có một kế hoạch khác nhau. Navarre bi quan vì năm 1950 viện trợ quân sự Mỹ cho Pháp mới có 17% , nay  đã lên tới 40%, năm sau 1954 lên tới 74%, mọi chi phí quân sự nay đa số do Mỹ đài thọ, Pháp biết rằng dù có thắng trận cũng mất Đông Dương vì hiện đã mất chủ quyền. Tổng số quân Đông Dương nay là 444 ngàn, Pháp và Bắc phi khoảng 125 ngàn , lính bản xứ và Quân Đội Quốc Gia là 320 ngàn, không quân có 550 máy bay đủ các loại, 390 tầu chiến, nhưng chủ lực quân vẫn thua Việt Minh vì phải trải quân giữ đất. Giữa năm 1953 chủ Lực quân Pháp khoảng 170 ngàn nhưng đã bị VM cầm chân 100 ngàn tại vùng trung châu nên thiếu quân di động. Mặc dù Việt Minh trang bị yếu kém không tối tân bằng pháp, không có máy bay, xe tăng, đại bác, tầu bè… hoả lực thua kém Pháp, chính tài liệu của CS cũng đã công nhận như thế nhưng vì không phải trải quân giữ đất, VM lưu động, lựa chọn chiến trường đánh tiêu hao địch nên họ vẫn có ưu thế hơn. Người Pháp chuẩn bị Việt Nam hoá chiến tranh.

Mới đầu Navarre cho hành quân nhẩy dù tấn công các căn cứ tiếp liệu hậu cần của Việt Minh, lực lượng tham gia khoảng 15 ngàn người. Họ đã phá được nhiều cơ sở, kho lương thực, quân dụng.. nếu cứ tiếp tục thì đã gây  nhiều khó khăn cho Việt Minh nhưng ông lại muốn đối phương phải thò mặt đánh một trận lớn vì tin tưởng ở hoả lực pháo binh, không quân của Pháp.

Navarre trình kế hoạch lên bộ Quốc phòng, sau khi được chấp thuận ông bèn cho trấn đóng Điện Biên Phủ cách Hà Nội 300 cây số để ngăn chận Việt Minh qua ngả Lào và ngăn chận đường tiếp tế từ Trung Hoa, Việt Minh buộc phải lâm trận nếu không sẽ tuyệt đường sinh lộ. Võ Nguyện Giáp người chỉ huy trận đánh đưa vào đó bốn Sư đoàn, tổng cộng trên 50 ngàn người, chưa kể du kích địa phương,  về pháo binh VM có 24 khẩu 105 ly, 15 khẩu sơn pháo 75 ly, 16 súng cối 120 ly, 36 súng cối 82 ly, tổng cộng vào khoảng gần 100 khẩu, ngoài ra họ được viện trợ 64 khẩu pháo phòng không 37 ly tối tân của Nga.

Trung Cộng xử dụng 600 xe vận tải chở tiếp tế cho mặt trận,  theo tài liệu CS, Việt Minh đã huy động được hai trăm nghìn người dân công chuyên chở, gồng gánh thực phẩm, súng đạn cho chiến dịch. Từ 16-1 đến 25-1 VM huy động hàng mấy nghìn người kéo 24 khẩu đại bác 105 ly qua những dốc núi cao ngất  tới tận mặt trận chuẩn bị tấn công. Võ nguyên Giáp thấy lực lượng Pháp rất mạnh rồi lại cho kéo pháo ra chờ tiếp liệu đầy đủ mới cho đánh. Một điều Pháp không thể ngờ được là VM có thể kéo được đại bác qua những dẫy núi cao ngất như thế.

Lực Lượng Pháp khoảng 15 ngàn người đa số là lính nhảy dù, trong đó 4,500 là lực lượng không tác chiến. Ngoài người Âu có người Châu Phi, người Việt, Thái, Nùng….  Pháp xây nhiều pháo đài kiên cố xong phạm phải lỗi lầm trầm trọng là khai quang lòng chảo khiến nơi đây trở thành miếng mồi ngon cho pháo binh VM trên đồi bắn xuống. Trận chiến bắt đầu từ 13-3-1954, Việt Minh ra sức đánh để lấy ưu thế tại bàn Hội nghị Genève khai mạc từ 26-4-1954. Trận đánh kết thúc 7-5 , Việt Minh bị thiệt hại khoảng từ 15 tới 20 ngàn người, có tài liệu nói 10 ngàn người gấp 4  lần Pháp để đổi lấy chiến thắng. Pháp có hơn 4,000 tử thương, trong đó một nửa là người Âu và một nửa là Việt, Châu Phi, Nùng Thái... khoảng 8 ngàn bị bắt làm tù binh nhưng chỉ có một phần ba sống sót sau khi trao trả. Trong suốt cuộc chiến 1947-54 Việt Minh chỉ thắng được hai trận lớn là Cao Bắc Lạng 1950 và Điện Biên Phủ 1954, trong những năm 1951, 52, 53 dù đã đẩy bao thanh niên vào họng súng đại liên của địch mà họ vẫn không chiếm được mục tiêu. Những trận đánh biển người ấy đã đạt thắng lợi chính trị tâm lý, nó khiến cho đối phương phải run sợ tinh thần liều mạng cố đấm ăn xôi của họ.

Người Pháp nay quá ghê sợ cuộc chiến tranh Đông Dương, quốc hội lật đổ chính phủ Laniel, Mandes Frances lên thay 14-5 để sớm chấm dứt chiến tranh, ký hiệp ước rút quân ra khỏi Đông Dương. Trong suốt cuộc chiến tranh 1947-54, tổng cộng 19 chính phủ Pháp bị lật đổ vì không giải quyết được chiến tranh, ngày 20-7-1954 Pháp sợ quá vội ký hiệp định để rút quân.  Hội nghị Genève kết thúc, Việt Minh và Pháp ký kết  Hiệp Định ngày 20-7 chia đôi đất nước,  quân Pháp vàChính phủ Quốc Gia rút vào Nam lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời để chờ tổng tuyển cử thống nhất hai miền. Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam và Mỹ không ký vào bất cứ văn kiện nào của Hiệp định.