19/6 Tưởng nhớ cậu và ngoại
- Tác Giả Huỳnh Ngọc Tuấn
- Đăng ngày 16.06.09
- Bút Ký
Gia đình của ngoại tôi là một gia đình khá “đặc biệt”. Ông ngoại tôi mất sớm, lúc chỉ mới 40 tuổi, để lại một người vợ trẻ và năm đứa con dại.
Mẹ tôi là con gái đầu và duy nhất. Sau mẹ là bốn người em trai. Ông ngoại mất được một thời gian thì bà ngoại bị bệnh và mù cả hai mắt. Mẹ tôi tần tảo buôn bán nuôi bốn người em trai. Một năm sau, cậu Ba của tôi đi quân dịch. Vì là một ngư dân trẻ, thành thạo việc đi biển nên cậu ba tôi vào hải quân. Từ đó cậu lênh đênh trên biển cả một đời.
Từ ngày cậu Ba vào hải quân, mẹ tôi cùng đỡ vất vả hơn. Tiền lương ít ỏi cậu gởi về cho ngoại ăn trầu, cho mẹ tôi nuôi ba người em còn lại.
Một năm sau, cậu Năm cũng vào quân đội (người con thứ tư của ngoại tôi, bị chết khi còn trong bụng mẹ nên không biết là trai hay gái).
Cậu Năm đi học lái xe, rồi đóng quân ở Đà Nẵng. Nhiều lần cậu về thăm nhà, có khi trên đường chở hàng cho quân đội cậu “tranh thủ” tạt về thăm, quẳng xuống cho mẹ tôi mấy bao gạo. Tiền lương của người lính quân xa cũng khá, cho nên mẹ cũng may được một ít quần áo đẹp để mặc…,rồi mẹ đi lấy chồng.
Rồi bốn năm sau nữa (theo lời mẹ tôi kể), cậu Sáu cũng đi quân dịch, đó là thời Đệ Nhất Cộng hoà. Bà ngoại mù loà bây giờ sống với cậu Út. Cậu Út đi biển để kiếm cá tươi cho ngoại ăn và cũng để “viện trợ” cho gia đình tôi.
Năm 1963, lúc đó tôi bốn tuổi, ngày giỗ ông ngoại cả ba cậu đều về (gia đình tôi lúc này vẫn còn sống ở quê ngoại, chưa chuyển lên Tam Kỳ). Ai cũng mặc đồ quân nhân trông oai phong lẫm liệt. Các cậu chưa ai có vợ nên rất quý anh em tôi, nhất là tôi, các cậu dành nhau bồng bế hôn hít.
Tôi nhớ mang máng, khi khách khứa đã đi về hết, chỉ còn có cha mẹ tôi, bà ngoại, các cậu và anh em chúng tôi, trên một khoảng sân hẹp của ngôi nhà tranh ấm cúng, trước sân nhà là cây bầng cao (anh em tôi vẫn thường nhặt ăn trái bần chín thơm phức rơi đầy khoảng sân rộng). Ba cậu trải chiếu ngồi trên sân, buổi chiều mùa thu hiu hắt buồn, vừa uống bia vừ nói chuyện, họ cười nói rất to. Họ kể về đời lính, về những trận đánh, về những chiến tích có thật và cả tưởng tượng của họ…Tôi còn nhỏ quá, không nhớ gì nhiều, chỉ còn nhớ một đoạn cậu Ba nói:
- Chừ mình đang ăn uống đây bọn Việt cộng xông vào thì tính răng?
Cậu Sáu móc trái lựu đạn màu xanh (người ta vẫn gọi nó là lựu đạn mãng cầu vì trên thân nó có những rãnh hằn sâu như trái mãng cầu (người quê tôi vẫn gọi trái na là trái mãng cầu). Cậu chuyền qua chuyền lại trên tay rồi vừa nói vừa cười:
-Tôi cho chúng nó ăn trái mãng cầu này.
Còn cậu Năm thì kéo chiếc áo ngắn mặc lót ở trong lên để lộ ra cái báng súng lục màu thép đen.
- Tôi có cái “giò heo” đây.
Rồi họ cười ầm ĩ. Cậu út hiền lành ít nói chỉ cười buồn buồn... Lúc này tôi còn bé, không biết được tâm sự của cậu Út.
Sau này tôi nghe mẹ kẻ cậu buồn vì mình chưa đủ tuổi để vào quân đội, đơn giản là chỉ muốn được “oai” như các anh.
Các cậu tôi chỉ là những ngư dân chất phác, họ coi chiến tranh chỉ là cơ hội cho tuổi trẻ tung hoành.Họ vào lính là để thoả chí “tang bồng” thế thôi. Họ chống Cộng vì đó là trách nhiệm công dân, tôi không biết các cậu tôi hiểu gì về cộng sản, nhưng khi nói về Việt cộng họ tỏ ra khinh bỉ và căm ghét.
Hai năm sau nữa thì cậu Út cũng vào quân đội, khi đó cậu chỉ mới mười bảy tuổi. Vì thiếu tuổi nên cậu dùng giấy khai sinh của cậu Sáu. Thời đó, Việt Nam cộng hoà quản lý con người rất lỏng lẻo, họ không truy xét xem cậu Út có man khai không?! Mấy năm sau cậu Út hy sinh với cái tên Mai Đức Dũng tức là tên của cậu Sáu tôi.
Tôi nhớ có lần cũng là ngày giỗ của ông ngoại, các cậu về thăm gia đình chúng tôi (lúc đó đã chuyển lên sống ở quận lị Tam Kỳ). Sau khi đã ngà ngà say, họ lại cãi nhau rất to tiếng.(lúc đó vào khoảng năm 1967, tôi được tám tuổi). Lý do cãi nhau là vì ai cũng cho binh chủng của mình là nhất. Mỗi người họ đều tự hào, đều ca ngợi về binh chủng mà họ đang phục vụ. (Sau này tôi từng chứng kiến những trận đánh nhau rất to tại Thị xã Tam kỳ giữa những người lính với nhau, cũng xuất phát từ lòng tự hào binh chủng). Họ cãi nhau to tiếng đến nỗi cha tôi phải can thiệp còn mẹ tôi thì mắng họ, đến lúc đó họ mới thôi. Không được cãi nhau nữa, họ lăn ra ngủ như chết.
Mẹ tôi là con gái đầu và duy nhất. Sau mẹ là bốn người em trai. Ông ngoại mất được một thời gian thì bà ngoại bị bệnh và mù cả hai mắt. Mẹ tôi tần tảo buôn bán nuôi bốn người em trai. Một năm sau, cậu Ba của tôi đi quân dịch. Vì là một ngư dân trẻ, thành thạo việc đi biển nên cậu ba tôi vào hải quân. Từ đó cậu lênh đênh trên biển cả một đời.
Từ ngày cậu Ba vào hải quân, mẹ tôi cùng đỡ vất vả hơn. Tiền lương ít ỏi cậu gởi về cho ngoại ăn trầu, cho mẹ tôi nuôi ba người em còn lại.
Một năm sau, cậu Năm cũng vào quân đội (người con thứ tư của ngoại tôi, bị chết khi còn trong bụng mẹ nên không biết là trai hay gái).
Cậu Năm đi học lái xe, rồi đóng quân ở Đà Nẵng. Nhiều lần cậu về thăm nhà, có khi trên đường chở hàng cho quân đội cậu “tranh thủ” tạt về thăm, quẳng xuống cho mẹ tôi mấy bao gạo. Tiền lương của người lính quân xa cũng khá, cho nên mẹ cũng may được một ít quần áo đẹp để mặc…,rồi mẹ đi lấy chồng.
Rồi bốn năm sau nữa (theo lời mẹ tôi kể), cậu Sáu cũng đi quân dịch, đó là thời Đệ Nhất Cộng hoà. Bà ngoại mù loà bây giờ sống với cậu Út. Cậu Út đi biển để kiếm cá tươi cho ngoại ăn và cũng để “viện trợ” cho gia đình tôi.
Năm 1963, lúc đó tôi bốn tuổi, ngày giỗ ông ngoại cả ba cậu đều về (gia đình tôi lúc này vẫn còn sống ở quê ngoại, chưa chuyển lên Tam Kỳ). Ai cũng mặc đồ quân nhân trông oai phong lẫm liệt. Các cậu chưa ai có vợ nên rất quý anh em tôi, nhất là tôi, các cậu dành nhau bồng bế hôn hít.
Tôi nhớ mang máng, khi khách khứa đã đi về hết, chỉ còn có cha mẹ tôi, bà ngoại, các cậu và anh em chúng tôi, trên một khoảng sân hẹp của ngôi nhà tranh ấm cúng, trước sân nhà là cây bầng cao (anh em tôi vẫn thường nhặt ăn trái bần chín thơm phức rơi đầy khoảng sân rộng). Ba cậu trải chiếu ngồi trên sân, buổi chiều mùa thu hiu hắt buồn, vừa uống bia vừ nói chuyện, họ cười nói rất to. Họ kể về đời lính, về những trận đánh, về những chiến tích có thật và cả tưởng tượng của họ…Tôi còn nhỏ quá, không nhớ gì nhiều, chỉ còn nhớ một đoạn cậu Ba nói:
- Chừ mình đang ăn uống đây bọn Việt cộng xông vào thì tính răng?
Cậu Sáu móc trái lựu đạn màu xanh (người ta vẫn gọi nó là lựu đạn mãng cầu vì trên thân nó có những rãnh hằn sâu như trái mãng cầu (người quê tôi vẫn gọi trái na là trái mãng cầu). Cậu chuyền qua chuyền lại trên tay rồi vừa nói vừa cười:
-Tôi cho chúng nó ăn trái mãng cầu này.
Còn cậu Năm thì kéo chiếc áo ngắn mặc lót ở trong lên để lộ ra cái báng súng lục màu thép đen.
- Tôi có cái “giò heo” đây.
Rồi họ cười ầm ĩ. Cậu út hiền lành ít nói chỉ cười buồn buồn... Lúc này tôi còn bé, không biết được tâm sự của cậu Út.
Sau này tôi nghe mẹ kẻ cậu buồn vì mình chưa đủ tuổi để vào quân đội, đơn giản là chỉ muốn được “oai” như các anh.
Các cậu tôi chỉ là những ngư dân chất phác, họ coi chiến tranh chỉ là cơ hội cho tuổi trẻ tung hoành.Họ vào lính là để thoả chí “tang bồng” thế thôi. Họ chống Cộng vì đó là trách nhiệm công dân, tôi không biết các cậu tôi hiểu gì về cộng sản, nhưng khi nói về Việt cộng họ tỏ ra khinh bỉ và căm ghét.
Hai năm sau nữa thì cậu Út cũng vào quân đội, khi đó cậu chỉ mới mười bảy tuổi. Vì thiếu tuổi nên cậu dùng giấy khai sinh của cậu Sáu. Thời đó, Việt Nam cộng hoà quản lý con người rất lỏng lẻo, họ không truy xét xem cậu Út có man khai không?! Mấy năm sau cậu Út hy sinh với cái tên Mai Đức Dũng tức là tên của cậu Sáu tôi.
Tôi nhớ có lần cũng là ngày giỗ của ông ngoại, các cậu về thăm gia đình chúng tôi (lúc đó đã chuyển lên sống ở quận lị Tam Kỳ). Sau khi đã ngà ngà say, họ lại cãi nhau rất to tiếng.(lúc đó vào khoảng năm 1967, tôi được tám tuổi). Lý do cãi nhau là vì ai cũng cho binh chủng của mình là nhất. Mỗi người họ đều tự hào, đều ca ngợi về binh chủng mà họ đang phục vụ. (Sau này tôi từng chứng kiến những trận đánh nhau rất to tại Thị xã Tam kỳ giữa những người lính với nhau, cũng xuất phát từ lòng tự hào binh chủng). Họ cãi nhau to tiếng đến nỗi cha tôi phải can thiệp còn mẹ tôi thì mắng họ, đến lúc đó họ mới thôi. Không được cãi nhau nữa, họ lăn ra ngủ như chết.
Rỉ Tai
4 Responses to "19/6 Tưởng nhớ cậu và ngoại" 
|
said this on 16 Jun 2009 3:01:09 AM EST
Rất vui mừng được đọc bài viết mới cùa tác giả Huỳnh ngọc Tuấn. Sau những gì xảy ra với tác giả mà DCV đưa tin, không ít người đã lo lắng cho anh.
|
|
said this on 16 Jun 2009 6:06:25 AM EST
Cám ơn ông bạn bài đọc rất hay và gợi nhớ
Chúc ông luôn an nhiên tự tại |
|
said this on 21 Jun 2009 1:09:16 AM EST
Cho đến hôm nay tôi mơí hiểu rõ ngaỳ 19/6, ngaỳ Quân lực ,caí ngaỳ đó, tôi cũng khỏang tuôỉ cuả bạn, cũng lờ mờ về nhận thức cuả ngươì lính, cũng có biết bao nhiêu những ngươì thân thiết, ngươì đã năm ba lần văng cao trên thiết giáp mà vẫn kiên trì cống hiến cho đến giờ phút 4/75 , ngươì đã là những "thiên thần mũ dỏ" tuôỉ thanh niên vạm vỡ rôì về bằng hòm kẽm caì then, mà đến bây giờ ,tôi vẫn ngờ trong hòm kẽm đó có khi chỉ là gỗ đá. có ngươì chết trận Tay Ninh , và tôi đã có dịp theo ngươì nhà vaò một toà nhà lớn rộng ở Saì gòn ,nơi đó toàn một maù đen cuả những mệnh phụ giai nhân , tất cả trong trang nghiêm , thinh lặng,
Đó là Quê hương Việt Nam tôi ngay từ khi mơí lớn, Tôi nhớ laị caí ngaỳ theo đàn anh đi xem đoàn ca, võ trong khu xóm, mỗi làn đó bọn thanh niên thường hay gây quậy để xả khí anh hùng, dần dần gây cả vơí lính , có lần tôi hoỉ đàn anh : - sao giám đụng vơí lính ? - nó cơỉ aó lính ra ,cũng nhu mình thôi chứ . ngaỳ qua ngaỳ, tôi theo đàn anh, đi thúc giục đồng baò đem bàn thờ Phật ra đường tranh đấu. lúc đó đàn anh mình đã được nhà trường Bồ Đề để mắt nâng đỡ, cho Quy Y, trao trọng trách, làm bọn đàn em cũng thơm lây . rồi ngaỳ 1/11/63 đến hoành tráng,oai nghiêm. Phật Giaó trở lai thành Quốc giáo, không đối thủ tương tự sức mạnh nước Mỹ sau khi CS xụp đổ . rất may các LM Công Giaó kịp lượng sức mình , nên cuộc thánh chiến như Irac không saỷ ra ,Ngươì Việt Nam chúng ta vinh hạnh trao lá cờ đầu ấy về tay các dân tôc ban. Trung Đông cuả chúng ta . Chúc họ vào nước trơì trọn goí .và có đủ 7 trinh nữ hoan lạc thoả thuê như đã được "belt out "trong goí kich cầu . Cũng bắt đâù từ đây chúng ta có ngaỳ Quân lực 19/6,Kỷ niệm ngaỳ quân đoị đúng lên làm Cách Mạng, tiếp quản chính quyền từ tay Nhân Dân .ngaỳ mà các vị sĩ quan cao cấp quỵ luỵ mãnh lực các vị Thiền Sư ,ngaỳ mà các vị sĩ quan cao cấp muốn duy trì điạ vị, và cuôc.sống đã săn sàng hy sinh moị giá dể đoỉ lấy tiền. cho dù sau bao ngàn năm Đúc Phật đã cấm sát sanh, diệt dục để có chung cuộc Giaỉ Thoát . Kỷ niệm ngaỳ Quân Lực 19/6. chúng ta những ngươì Viêt Nam lưu vọng vẫn còn tiếc huì huị, nếu không thì giờ naỳ chúng ta còn giầu sụ ,bằng triệu triệu lần maý caí tên du thủ,du thực CS bầy giờ . Kỷ niệm ngaỳ Quân Lực, nhớ đến tháng tư đen cho tổ quốc cuả tôi. Kỷ niệm ngaỳ Quân Lực, nhớ đến cọng dây sắt Trơì Phật đã giáng xuống dân tộc tôi, cho nhửng con ngươì còn đang cứng lòng, cho những THAM-SÂN -SI |


Author/Admin)