Ngoài ra thập niên 50 các vị giám khảo không lẽ lại không biết tác giả Lỗ Ma Ni Constantin Virgil Gheorghiu là ai, không nghe nói tới cuốn Giờ Thứ Hai Mươi Lăm (La Vingtcinquième Huere), một cuốn sách bán chạy nhất Âu châu sau thế chiến Thứ Hai? năm 1950 đã bán được trên 600 ngàn cuốn trong vài tuần lễ, một tác phẩm diễn tả thân phận bi đát nhất của con người mà không gì có thể diễn tả hơn thế được. Truyện ngắn truyện dài của ông đều đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới và đã được cả thế giới ngưỡng mộ. Việc bỏ tác giả Gheorghiu sang một bên của các ông hàn thật khó có thể coi là sự đánh giá công bằng.
Trên văn đàn thế giới đâu có thiếu gì những tác giả, tác phẩm nổi tiếng xứng đáng như Erich Maria Remarque (1898-1970), ngưới Ðức gốc Do thái với hai tác phẩm nổi tiếng đã được quay thành phim Mặt Trận Miền Tây Yên Tĩnh (À l’ouest rien de nouveau) (1929) và Một Thời Ðể Yêu, Một Thời để Chết (1954). Gunther Konsalik (1921-1999), người Ðức với hai tác phẩm nổi tiếng cũng đã được quay thành phim Tiểu Ðoàn Trừng Giới và Y Sĩ Thành Stalingrad (1956), ông đã có 130 tác phẩm, dịch ra 36 thứ tiếng, phát hành tổng cộng 72 triệu cuốn trên thế giới. Tác giả Lâm Ngữ Ðường nổi tiếng được Tây phương hâm mộ, cuốn tiểu thuyết lớn Moment in Peking viết 1939 dài hơn một nghìn trang mà theo cụ Vi Huyền Ðắc đã được các nhà phê bình Âu Mỹ coi như tương đương với Chiến Tranh và Hoà Bình của văn hào Tolstoi, ông cũng trước tác nhiều sách về triết lý nhân sinh giá trị. Ngoài ra chúng ta cũng có thể kể Margaret Michell với Cuốn Theo Chiều Gió viết 1936, truyện này quá nổi tiếng khỏi cần bàn thêm.
Chúng tôi xin so sánh một số khác biệt giữa giải thưởng điện ảnh quốc tế và giải văn chương quốc tế mà cụ thể ở đây là giải Nobel của hai môn nghệ thuật anh em. Trên thế giới có nhiều nước tổ chức Ðại hội điện ảnh quốc tế hàng năm để phát giải cho những phim hay của các nước tham dự mục đích khuyến khích phát huy nghệ thuật thứ bảy. Số đại hội nay khá nhiều nhưng trên thực tế chỉ có ba đại hội có uy tín là Ðại hội điện ảnh Venices Ý, thành lập từ 1932, Ðại hội điện ảnh Cannes thành lập 1946, Ðại hội Bá Linh thành lập 1951. Ðại hội Venices phát giải Sư tử vàng (Lion d’or), Sư tử bạc... Ðại hội Cannes phát giải Nhành dương liễu vàng (Palme d’or), Nhành dương liễu bạc… Ðại hội Bá Linh cấp giải Gấu vàng (Ours d’or), Gấu bạc…
Ðiểm khác biệt giữa giải văn chương Nobel và giải điện ảnh quốc tế là các đại hội tại Venices, Cannes, Bá Linh hàng năm mời các nước gửi phim tham dự, ban giám khảo được thành lập với thành phần nhân sự quốc tế, họ có mời những nhà làm phim, tài tử nổi tiếng của các nước vào làm việc trong Hội đồng giám khảo để chấm giải thí dụ như năm 2001 cô đào Củng Lợi (Trung Quốc) được mời làm chánh chủ khảo tại Ðại hội Bá Linh và năm 2002 chánh chủ khảo tại Venices, năm nay 2009 các nữ tài tử Thư Kỳ (Hồng Kông) và Chương tử Di (Trung Quốc) có được mời tham dự Hội đồng giám khảo tại Ðại hội Cannes.
Vì sự tổ chức và tham dự các đại hội điện ảnh có tính quốc tế, công khai nên tương đối việc phát giải còn có chút công bằng, thập niên 50, 60 thời kỳ vàng son (Golden age) của điện ảnh Nhật, họ đã đoạt được khá nhiều giải thưởng tại các đại hội nhất là Venices và thập niên 90 Trung Quốc cũng đã đoạt trên mười giải thưởng quốc tế giá trị tại Cannes, Venices, Bá Linh… với các đạo diễn, tài tử nổi danh như Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca, Củng Lợi…
Tuy nhiên cũng chưa hẳn là công bằng hoàn toàn vì trong số những phim Nhật đã đoạt giải hạng nhì (Sư tử bạc) tại Venices sau này vào những năm 1962, 1972… hoặc 92, 2002 người ta thăm dò các nhà đạo diễn, phê bình quốc tế (Sight And Sound 2002 critics and directors Poll for the best film of all times) và đã công nhận những phim Nhật như Rashomon (1951), Bẩy Người Hiệp Sĩ (1954), Tokyo Story (Ikiru, 1953), Ugetsu 1953... được xếp trong số top ten, mười phim hay nhất mọi thời đại (có nghĩa là hay nhất thế giới của mọi thời đại) như vậy trước đây đáng lý ra những phim ấy phải được giải nhất (Sư tử vàng)
Về giải Nobel văn chương quốc tế tại Thụy Ðiển thì các nước trên thế giới rất khó có cơ hội được cấp giải so với giải thưởng điện ảnh quốc tế như đã nói ở trên. Trước hết các nước không được mời gửi tác phẩm tham dự mà các ông Hàn lâm viện sẽ tìm đọc những cuốn sách có tiếng để lượng giá, lại nữa các ông Hàn chỉ đọc được tiếng Tây, tiếng Anh, tiếng Mỹ, các ông ấy không đọc được sách tiếng Tầu, tiếng Miên, tiếng Lèo, tiếng Trung Ðông Ả rập, Chà Zà, Ma Rốc… Bởi vậy dù cuốn sách bằng tiếng Ả Rập, tiếng Tầu có hay tới mấy cũng không có cơ hội lọt vào vòng sơ kết, bán kết… mà cho dù những tác phẩm ấy có được dịch ra tiếng Anh tiếng Pháp cũng khó mà đoạt giải bởi vì ban giám khảo toàn là người Thụy Ðiển, người Tây phương nên dĩ nhiên tâm tình của họ sẽ gần với nền văn hoá Tây phương hơn là những nền văn hoá khác như Tầu, Ấn, Trung Ðông Ả rập…
Nếu nhìn vào danh sách 107 giải thưởng văn chương Nobel từ 1901 tới nay chúng ta sẽ thấy đại đa số những tác giả được trao giải là người Âu Mỹ như Pháp, Thụy Ðiển, Ðan Mạch, Na Uy, Anh, Tây Ban Nha, Mỹ (11 giải), Ba Lan, Ý, Ðức, Hy Lạp, Thụy Sĩ, Ái Nhĩ Lan, Phần Lan, Ðan Mạch, Nam Tư, Hung Gia Lợi… họ cũng cấp phát lai rai một số ít giải cho Ấn Ðộ (một giải), Nhật hai giải, Châu Phi hai giải (Ai Cập 1988, Nigeria 1986), Châu Mỹ La Tinh vài giải, Trung Ðông Ả Rập không thấy được giải nào.
Trung Hoa, Pháp, Nga là ba nước được xem là có nền văn chương giàu nhất thế giới. Từ 1901 đến nay Pháp được mười ba giải Nobel văn chương, Nga được bốn giải (kể cả Ivan Morris, Pháp gốc Nga, 1959), Trung Hoa được một giải (Cao Hành Kiện, Pháp gốc Tầu, năm 2000). Nước Trung Hoa đã có một nền văn hoá lâu đời, về văn chương nghệ thuật họ đã có những áng thơ, phú tuyệt diệu, những cuốn tiểu thuyết dài bất hủ từ cách đây trên dưới một ngàn năm, không lẽ tại Trung Quốc, Ðài Loan, Hồng Kông, Tân Gia Ba… lại không có được vài nhân tài đủ khả năng lãnh giải thưởng Nobel văn chương?
Như vậy nếu nói là giải thưởng Văn chương Nobel để dành cho Tây phương thì đúng nghĩa hơn là giải thưởng quốc tế vì nếu đã gọi là giải thưởng quốc tế, thí dụ như giải thưởng điện ảnh quốc tế như đã nói ở trên, phải có tính bao trùm cả năm châu, vượt khỏi biên giới của một nền văn hoá hoặc của một khu vực địa lý.
Ðến năm 1964 giải Nobel văn chương trở thành một chuyện "xì căng đan" ít ai ngờ tới, trước khi được thông báo chính thức được phát giải, ông Jean Paul Sartre, nhà văn, triết gia lừng danh của Pháp đã nghe đồn ông sẽ được phát giải Nobel văn chương. Ngày 14-10 J. P. Sartre bèn gửi thư xin cám ơn không nhận giải, nhưng bức thư lại không được mở ra nên ngày 22-10 người ta bầu xong, một hội viên tuyên bố giải Nobel văn chương năm nay được trao cho nhà văn J. P. Sartre, tác phẩm của ông với tinh thần tự do và sự tìm kiếm chân lý mà ông thể hiện đã ảnh hưởng lớn lao tới thời đại của chúng ta. Khi ấy J. P. Sartre bèn viết thư từ chối nhận giải, ông nêu hai lý do cá nhân và chủ quan, năm 1945 người ta đã trao tặng Bắc Ðẩu bội tinh ông đã không nhận, mặc dù ông nhiều thiện cảm với xã hội chủ nghĩa nhưng nếu Liên Xô tặng giải thưởng Lénine ông cũng sẽ không nhận.
Ðược người ta hỏi lý do từ chối nhận giải Nobel văn chương, Sartre nói vì ông còn sống, một nghệ sĩ, một nhà văn còn sống không đáng được phát giải trong khi người ấy đang cố gắng phấn đấu sáng tác. Ông nêu thí dụ một nhà văn có thể được giải sau đó lại thụt lùi trong khi một nhà văn khác không được giải có thể tiến bộ hơn, vậy ai xứng đáng hơn? Người lên tới đỉnh rồi tụt dốc và người đang phấn đấu để lên tới đỉnh.
(Imaginez: un écrivain pourrait recevoir ce prix et se laisser aller à la déchéance, tandis qu'un autre pourrait devenir encore meilleur. Lequel des deux méritait son prix? Celui qui était au sommet et qui a redescendu la pente ou celui qui fut consacré avant d'atteindre le sommet? J'aurais pu être l'un des deux, et jamais personne n'aurait pu prédire ce que je ferias).
Dù lý do từ chối thế nào nó cũng chẳng khác gì một gáo nước lạnh dội vào mặt ban giám khảo, sự thực đối với Jean Paul Sartre, người đã có địa vị văn chương, triết học lớn, danh tiếng lẫy lừng thì giải văn chương Nobel chẳng tô điểm gì thêm cho sự nghiệp của ông là mấy.
Năm sau 1965 Ban giám khảo phát giải cho Sholokhov người Nga với hai tác phẩm bất hủ Vỡ Ðất Hoang và Sông Don Thanh Bình, họ đã lựa được giải thưởng xứng đáng. Sholokhov là tác giả Nga duy nhất được nhà nước Liên Xô cho phép đi lãnh giải Nobel văn chương trong số ba người được giải, tác phẩm của ông đã được cả hai phía đông tây ca ngợi, giữ được truyền thống vĩ đại của văn chương Nga. Sông Don Thanh Bình (Quiet Flows The Don), một thiên anh hùng ca diễn tả cuộc nổi dậy kiêu hùng của dân tộc Cô Dắc vùng sông Don dành quyền tự chủ chống lại chính quyền Bolshevik, đã xuất bản được ba chục triệu cuốn, được dịch ra hơn ba mươi thứ tiếng trên thế giới, cũng có người cho là một Chiến Tranh Và Hoà Bình thứ hai của Nga.
Từ khoảng bốn chục năm hay một nửa thế kỷ về trước khi mà khoa học kỹ thuật chưa tiến bộ nhiều như thời hiện đại, văn chương còn là một nghệ thuật được nhiều người hâm mộ. Nay ca nhạc, điện ảnh ngày càng được số đông quần chúng tham gia thưởng thức, các siêu sao âm nhạc, tài tử điện ảnh, nhà đạo diễn nổi danh… đã được ca ngợi nồng nhiệt khắp nơi, người ta tổ chức những buổi trình diễn ca nhạc lớn, qui mô, đông đảo tại những hí viện nguy nga tráng lệ. Ðại hội điện ảnh tại các nước Âu, Á cũng đã được tổ chức vô cùng long trọng, được nhiều khán giả khắp nơi trên thế giới quan tâm theo dõi trên truyền hình, báo chí.
Trước sự cạnh tranh và lớn mạnh của các ngành nghệ thuật khác, văn chương ngày càng thu hẹp phạm vi sinh hoạt, số người đọc ngày một giảm, đời sống ngày càng văn minh sung túc đã soi mòn nguồn cảm hứng của người sáng tác. Các giải thưởng văn chương có mục đích để khuyến khích người nghệ sĩ phát huy tài năng sáng kiến nhưng cũng khó hy vọng cứu vãn được tình trạng ngày một suy tàn này.
© 2009 Đàn Chim việt Online