- Trang Chủ
- Văn Hóa - Nghệ Thuật
- Bàn thêm về giải Nobel Văn Chương
Bàn thêm về giải Nobel Văn Chương
- Tác Giả Trọng Đạt
- Đăng ngày 16.06.09
- Văn Hóa - Nghệ Thuật
Trên trang báo điện tử Evăn tháng tư năm 2009 vừa qua có đăng một bài ngắn của Marie Arana, một nhà văn, nhà xuất bản, nhà báo Mỹ gốc Péru. Dưới đây là ý kiến của Marie Arana, bà cho rằng giải Nobel văn chương nay không còn uy tín giá trị.
"Tại sao chúng ta nên hủy bỏ giải Nobel Văn học?
Marie Arana
Giải thưởng này đã có lịch sử hơn một thế kỷ. Nhưng những gì xảy ra năm ngoái cuối cùng đã cho thấy: đã đến lúc cần phải vứt bỏ giải Nobel dành cho văn học.
Tháng 10/2008, Horace Engdahl, Thư ký thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển tuyên bố, người Mỹ quá "biệt lập" và "thiển cận" để có thể tham gia vào cuộc đối thoại lớn của nền văn học thế giới. Và "thái độ thờ ơ của họ đã ngăn trở sự phát triển của văn học nước này".
Hàng năm qua, người ta vẫn rỉ tai nhau rằng, Thụy Điển chỉ coi Mỹ như một nền văn học tỉnh lẻ rộng lớn hoang vu. Nhưng với tuyên bố này, quan điểm hẹp hòi của Viện Hàn lâm đã lộ rõ rành rành. Những thành kiến từ lâu chi phối sự cân nhắc, tính toán của Ủy ban Nobel nay được công khai rõ mồn một như một vết thương bị mưng mủ.
Tất nhiên, tôi không đề nghị hủy bỏ giải thưởng chỉ vì một thành viên Viện Hàn lâm coi nền văn học Mỹ là "ngu dốt và trì trệ". Tôi làm như vậy bởi vì, từ khi Alfred Nobel, nhà khoa học đã phát minh ra thuốc nổ, sáng lập giải thưởng danh tiếng này, thì Nobel văn học đã thể hiện khuynh hướng tôn vinh những tài năng văn học vừa phải. Từ giải thưởng đầu tiên cho đến người mới nhất - từ tên tuổi "có thể quên được" Sully Prudhomme (1901) cho tới cây bút chập choạng J.M.G. Le Clézio (2008) - sự chọn lựa luôn tỏ ra thiếu đầu óc phê bình nhưng lại thừa mứa sự sốt sắng về mặt chính trị.
Làm sao những vị giám khảo tự xưng là am hiểu văn chương lại có thể lờ đi những tên tuổi như Tolstoy, James Joyce, Proust, Kafka, Nabokov và Henry James? Nếu mục đích của họ là tôn vinh những người có "đóng góp lớn cho lợi ích của loài người" thì tại sao họ lại tán tụng nhà văn khiêu dâm như Elfriede Jelinek hoặc ca ngợi sản phẩm không xứng đáng của những cây bút từng là thành viên Viện Hàn lâm như Eyvind Johnson và Harry Martinson?
Thông thường, Viện Hàn lâm đề cao những nhà văn cánh tả như Sinclair Lewis, Gunter Grass, Jose Saramago, Pablo Neruda hoặc Jean-Paul Sartre. Những nhà văn Mỹ từng giành giật được giải thưởng này là một nhóm khá phức tạp như: tác giả chống tư bản John Steinbeck, nhà văn hạng xoàng Pearl S. Buck.
Sau Thế chiến II, Viện Hàn lâm cũng chọn được một số gương mặt xứng đáng như Herman Hesse, Andre Gide, T.S. Eliot và William Faulkner. Nhưng còn Joseph Conrad, Graham Greene và Jorge Luis Borges thì sao? Hay là những E.M. Forster, Mikhail Bulgakov và Willa Cather? Theo tính toán của tôi, chỉ có chừng 15 trong số 105 người được trao giải là xứng đáng? Vậy, khó có thể coi đây là một giải thưởng biết ghi nhận tài năng."
(Thanh Huyền dịch )
Theo Marie Arana giải Nobel văn chương quốc tế do Hàn lâm viện Thụy điển phát hằng năm từ năm 1901 đến nay chỉ cấp cho những tác giả, tác phẩm vào loại trung bình, vừa phải. Bà cũng cho biết trong số 105 người được trao giải (chưa kể vài người không lãnh giải) chỉ có khoảng 15 người là xứng đáng. Chúng tôi xin bàn thêm về ý kiến trên đây của Marie Arana về giải Nobel Văn chương.
Trên thực tế chúng ta thấy chỉ có khoảng trên mười tác giả văn chương Nobel là được nghe nói tới, được biết tới như Tagore (Ấn Ðộ, lãnh giải 1913), Anatole France (Pháp, 1921), Pear S. Buck (Mỹ, 1938), Herman Hesse (Ðức, 1946), André Gide (Pháp, 1947), William Faulkner (Mỹ, 1949), Hemingway (Mỹ, 1954), Albert Camus (Pháp, 1957), Boris Pasternak (Nga, 1958), Ivo Andrich (Nam Tư, 1961), John Steinbeck (Mỹ, 1962), J.P. Sartre (Pháp, 1964), Sholokhov (Nga , 1965), Solzhenitsyn (Nga, 1970)… Như vậy có vào khoảng 93 tác giả được giải Nobel không hoặc ít được nghe nói tới.
Việc cấp phát giải thưởng văn chương cũng như điện ảnh nói chung chỉ là tương đối, khó mà hoàn toàn công bằng. Chúng tôi thí dụ năm 1958 tại Ðại hội điện ảnh Bruxelles Bỉ quốc, người ta tổ chức để lựa những phim hay nhất thế giới. Sau khi công bố những phim được giải thì một làn sóng ý kiến trên báo chí, truyền thanh cho biết Ban giám khảo đã lựa chọn sai. Người thì nói đáng lý ra những phim này, người nói phim kia phải được giải nhất, cuối cùng không ai đồng ý với ai. Về giải văn chương cũng vậy, thí dụ đối với giải Nobel mỗi năm được xuất bản, ý kiến của độc giả cũng khác nhau, có người cho là xứng đáng, có người chê dở…
Sự thực đánh giá một tác phẩm nghệ thuật về văn chương, âm nhạc, điện ảnh hay hoặc dở chỉ là tương đối, sự đánh giá tùy thuộc vào trình độ văn hoá, trình độ thưởng thức của từng người, ngoài ra sở thích cũng giữ một vị trí quan trọng. Hồi thập niên 60 ông Phạm Công Thiện cho rằng cuốn Cầu Sông Drina (Il Est Un Pont Sur Le Drina) của nhà văn Nam Tư Ivo Andrich là giải Nobel xứng đáng nhất trong vòng mười năm qua, nhưng cũng độc giả (trình độ đại học) chê truyện này không hay. Ngoài ra người Á đông thích xem phim Tầu hơn phim Tây, thích đọc truyện của Kim Dung hay truyện cổ như Thủy Hử, Tam Quốc…hơn là truyện Tây và ngược lại người Tây phương không thích xem phim và truyện Tầu vì nó không hợp với tâm tình của họ, ngay như người Mỹ cũng thuộc văn minh Tây phương nhưng họ chỉ xem phim Mỹ, truyện Mỹ và thờ ơ với phim ảnh, văn chương Âu châu.
Mặc dù nói là tương đối nhưng sự tương đối cũng chỉ có một giới hạn nào, một cuốn phim hay được nhiều người, nhiều bình luận đánh giá cao như phim Rashomon của Nhật, quay 1951 hoặc một cuốn truyện được nhiều người khen ngợi như Giờ Thứ Hai Mươi Lăm của nhà văn Lỗ ma Ni C.V. Gheorghiu xuất bản 1950 thì phải là những phim, tác phẩm hay không thể là dở được. Trở lại chuyện giải văn chương Nobel, Marie Arana nói các vị giám khảo chấm giải đã lờ đi những nhà văn tên tuổi thí dụ như Tolstoi, Proust, Kafska.. .
Ðúng vậy, các ông Hàn, các vị giám khảo là những người uyên bác chắc phải biết Léon Tolstoi là ai, ngay từ hồi hoàn thành hai tác phẩm vĩ đại Chiến Tranh và Hoà Bình năm 1869, Anna Karénine năm 1877 ông đã trở thành tác giả lớn nổi tiếng tại Âu châu, năm 1899 ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết dài thứ ba Résurrection đã được độc giả Anh, Pháp, Mỹ, Ðức.. đón nhận nồng nhiệt, riêng tại Ðức 1900 đã có tới 12 bản dịch khác nhau, tại Pháp có tới 15 ấn bản chính thức cũng như in lậu. Năm 1901 bắt đầu có giải Nobel, cho tới năm 1910 Tolstoi mới qua đời, trong suốt thời gian này chẳng lẽ các vị giám khảo không biết Tolstoi là ai? Những cuốn tiểu thuyết lớn của ông không những là tác phẩm văn chương hay mà sau này còn được coi như những công trình văn hoá của nhân loại.
"Tại sao chúng ta nên hủy bỏ giải Nobel Văn học?
Marie Arana
Giải thưởng này đã có lịch sử hơn một thế kỷ. Nhưng những gì xảy ra năm ngoái cuối cùng đã cho thấy: đã đến lúc cần phải vứt bỏ giải Nobel dành cho văn học.
Tháng 10/2008, Horace Engdahl, Thư ký thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển tuyên bố, người Mỹ quá "biệt lập" và "thiển cận" để có thể tham gia vào cuộc đối thoại lớn của nền văn học thế giới. Và "thái độ thờ ơ của họ đã ngăn trở sự phát triển của văn học nước này".
Hàng năm qua, người ta vẫn rỉ tai nhau rằng, Thụy Điển chỉ coi Mỹ như một nền văn học tỉnh lẻ rộng lớn hoang vu. Nhưng với tuyên bố này, quan điểm hẹp hòi của Viện Hàn lâm đã lộ rõ rành rành. Những thành kiến từ lâu chi phối sự cân nhắc, tính toán của Ủy ban Nobel nay được công khai rõ mồn một như một vết thương bị mưng mủ.
Tất nhiên, tôi không đề nghị hủy bỏ giải thưởng chỉ vì một thành viên Viện Hàn lâm coi nền văn học Mỹ là "ngu dốt và trì trệ". Tôi làm như vậy bởi vì, từ khi Alfred Nobel, nhà khoa học đã phát minh ra thuốc nổ, sáng lập giải thưởng danh tiếng này, thì Nobel văn học đã thể hiện khuynh hướng tôn vinh những tài năng văn học vừa phải. Từ giải thưởng đầu tiên cho đến người mới nhất - từ tên tuổi "có thể quên được" Sully Prudhomme (1901) cho tới cây bút chập choạng J.M.G. Le Clézio (2008) - sự chọn lựa luôn tỏ ra thiếu đầu óc phê bình nhưng lại thừa mứa sự sốt sắng về mặt chính trị.
Làm sao những vị giám khảo tự xưng là am hiểu văn chương lại có thể lờ đi những tên tuổi như Tolstoy, James Joyce, Proust, Kafka, Nabokov và Henry James? Nếu mục đích của họ là tôn vinh những người có "đóng góp lớn cho lợi ích của loài người" thì tại sao họ lại tán tụng nhà văn khiêu dâm như Elfriede Jelinek hoặc ca ngợi sản phẩm không xứng đáng của những cây bút từng là thành viên Viện Hàn lâm như Eyvind Johnson và Harry Martinson?
Thông thường, Viện Hàn lâm đề cao những nhà văn cánh tả như Sinclair Lewis, Gunter Grass, Jose Saramago, Pablo Neruda hoặc Jean-Paul Sartre. Những nhà văn Mỹ từng giành giật được giải thưởng này là một nhóm khá phức tạp như: tác giả chống tư bản John Steinbeck, nhà văn hạng xoàng Pearl S. Buck.
Sau Thế chiến II, Viện Hàn lâm cũng chọn được một số gương mặt xứng đáng như Herman Hesse, Andre Gide, T.S. Eliot và William Faulkner. Nhưng còn Joseph Conrad, Graham Greene và Jorge Luis Borges thì sao? Hay là những E.M. Forster, Mikhail Bulgakov và Willa Cather? Theo tính toán của tôi, chỉ có chừng 15 trong số 105 người được trao giải là xứng đáng? Vậy, khó có thể coi đây là một giải thưởng biết ghi nhận tài năng."
(Thanh Huyền dịch )
Theo Marie Arana giải Nobel văn chương quốc tế do Hàn lâm viện Thụy điển phát hằng năm từ năm 1901 đến nay chỉ cấp cho những tác giả, tác phẩm vào loại trung bình, vừa phải. Bà cũng cho biết trong số 105 người được trao giải (chưa kể vài người không lãnh giải) chỉ có khoảng 15 người là xứng đáng. Chúng tôi xin bàn thêm về ý kiến trên đây của Marie Arana về giải Nobel Văn chương.
Trên thực tế chúng ta thấy chỉ có khoảng trên mười tác giả văn chương Nobel là được nghe nói tới, được biết tới như Tagore (Ấn Ðộ, lãnh giải 1913), Anatole France (Pháp, 1921), Pear S. Buck (Mỹ, 1938), Herman Hesse (Ðức, 1946), André Gide (Pháp, 1947), William Faulkner (Mỹ, 1949), Hemingway (Mỹ, 1954), Albert Camus (Pháp, 1957), Boris Pasternak (Nga, 1958), Ivo Andrich (Nam Tư, 1961), John Steinbeck (Mỹ, 1962), J.P. Sartre (Pháp, 1964), Sholokhov (Nga , 1965), Solzhenitsyn (Nga, 1970)… Như vậy có vào khoảng 93 tác giả được giải Nobel không hoặc ít được nghe nói tới.
Việc cấp phát giải thưởng văn chương cũng như điện ảnh nói chung chỉ là tương đối, khó mà hoàn toàn công bằng. Chúng tôi thí dụ năm 1958 tại Ðại hội điện ảnh Bruxelles Bỉ quốc, người ta tổ chức để lựa những phim hay nhất thế giới. Sau khi công bố những phim được giải thì một làn sóng ý kiến trên báo chí, truyền thanh cho biết Ban giám khảo đã lựa chọn sai. Người thì nói đáng lý ra những phim này, người nói phim kia phải được giải nhất, cuối cùng không ai đồng ý với ai. Về giải văn chương cũng vậy, thí dụ đối với giải Nobel mỗi năm được xuất bản, ý kiến của độc giả cũng khác nhau, có người cho là xứng đáng, có người chê dở…
Sự thực đánh giá một tác phẩm nghệ thuật về văn chương, âm nhạc, điện ảnh hay hoặc dở chỉ là tương đối, sự đánh giá tùy thuộc vào trình độ văn hoá, trình độ thưởng thức của từng người, ngoài ra sở thích cũng giữ một vị trí quan trọng. Hồi thập niên 60 ông Phạm Công Thiện cho rằng cuốn Cầu Sông Drina (Il Est Un Pont Sur Le Drina) của nhà văn Nam Tư Ivo Andrich là giải Nobel xứng đáng nhất trong vòng mười năm qua, nhưng cũng độc giả (trình độ đại học) chê truyện này không hay. Ngoài ra người Á đông thích xem phim Tầu hơn phim Tây, thích đọc truyện của Kim Dung hay truyện cổ như Thủy Hử, Tam Quốc…hơn là truyện Tây và ngược lại người Tây phương không thích xem phim và truyện Tầu vì nó không hợp với tâm tình của họ, ngay như người Mỹ cũng thuộc văn minh Tây phương nhưng họ chỉ xem phim Mỹ, truyện Mỹ và thờ ơ với phim ảnh, văn chương Âu châu.
Mặc dù nói là tương đối nhưng sự tương đối cũng chỉ có một giới hạn nào, một cuốn phim hay được nhiều người, nhiều bình luận đánh giá cao như phim Rashomon của Nhật, quay 1951 hoặc một cuốn truyện được nhiều người khen ngợi như Giờ Thứ Hai Mươi Lăm của nhà văn Lỗ ma Ni C.V. Gheorghiu xuất bản 1950 thì phải là những phim, tác phẩm hay không thể là dở được. Trở lại chuyện giải văn chương Nobel, Marie Arana nói các vị giám khảo chấm giải đã lờ đi những nhà văn tên tuổi thí dụ như Tolstoi, Proust, Kafska.. .
Ðúng vậy, các ông Hàn, các vị giám khảo là những người uyên bác chắc phải biết Léon Tolstoi là ai, ngay từ hồi hoàn thành hai tác phẩm vĩ đại Chiến Tranh và Hoà Bình năm 1869, Anna Karénine năm 1877 ông đã trở thành tác giả lớn nổi tiếng tại Âu châu, năm 1899 ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết dài thứ ba Résurrection đã được độc giả Anh, Pháp, Mỹ, Ðức.. đón nhận nồng nhiệt, riêng tại Ðức 1900 đã có tới 12 bản dịch khác nhau, tại Pháp có tới 15 ấn bản chính thức cũng như in lậu. Năm 1901 bắt đầu có giải Nobel, cho tới năm 1910 Tolstoi mới qua đời, trong suốt thời gian này chẳng lẽ các vị giám khảo không biết Tolstoi là ai? Những cuốn tiểu thuyết lớn của ông không những là tác phẩm văn chương hay mà sau này còn được coi như những công trình văn hoá của nhân loại.

