Để bảo vệ cho nạn nhân khi thảm kịch công nghiệp xảy ra, ngoài những vấn đề có tính cách kỹ thuật và quản lý không nằm trong khả năng của người viết, một số vấn đề pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nạn nhân sẽ đưọc đề cập ở đây: đó là luật về bồi thường thiệt hai nhân mạng và tài sản, quyền có luật sư đại diện để khiếu kiện. Vấn đề đòi bồi thiệt hại dựa trên sự tin tưởng vào một hệ thống toà án chí công vô tư được tổ chức hoàn chỉnh với những quan toà và nhân sự đầy đủ kinh nghiệm để để cứu xét dơn khiếu kiện phức tạp của nạn nhân tai nạn ở một qui mô lớn và có tính quốc tế, xuyên quốc gia.I. Luật bồi thường Tai Nạn có nhiều nạn nhân (mass tort)Những năm 1980 là thời đại của những vụ kiện đòi bồi thường thương tích cá nhân do tai nạn gây thương tích cho hàng loạt nạn nhân. Hàng trăm ngàn người đã kiện những công ty hoặc các các tập đoàn kinh doanh vì những mất mát do chấn thương hay bệnh mà họ quy trách nhiệm cho các tập đoàn kinh tế lớn. Sự xuất hiện những vụ kiện tai nạn có nhiều nạn nhân là một nhân thức trung thực của luật pháp của các nước tiến bộ về trách nhiệm dân sự của những tập đoàn công nghệ làm giàu trên ngưòi dân đối với những thảm kịch do họ gây ra trong bối cảnh toàn cầu hoá.Các tập đoàn kinh doanh và các hãng bảo hiểm đã thanh toán hàng tỷ đô la bồi thường. Luật sư của hãng bảo hiểm, của bị cáo, và của nguòi đứng kiện đã nhận được hàng tỷ nhiều hơn nữa. Những vụ kiện lớn nầy làm cho hãng bảo hiểm quan tâm, và làm cho tiền bảo hiểm gia tăng cho các dự án đầu tư quốc tế có nhiều rủi ro gây tai nạn làm thiệt hại hàng loạt nạn nhân. Sự thể nầy khiến cho các tập đoàn công nghệ có dự án đầu tư lớn đều có kế hoạch đối phó với những rủi ro công nghệ, hoặc sơ suất sản phẩm có thể gây thương tích, chết chóc cho nhiều ngưòi tiêu dùng hay những nạn nhân có liên quan. Hơn thế nữa, các nhà đầu tư phải quan tâm đến khoản chi phí bất ngờ có dự cầu trong trưòng họp nầy.II. Quyền Có Luật Sư cho nạn nhânQuyền có luật sư đại diện của nạn nhân có mục đích giúp cho nạn nhân được đền bù thoả đáng những thiệt hại về thương tích cũng như tử vong. Người luật sư trong trường hợp nầy có một nhiệm vụ duy nhất là bảo vệ cho thân chủ. Luật sư phải là người không bị những mâu thuẩn về quyền lợi với những phe nhóm liên quan đến việc khai thác bô-xít có thể chi phối vai trò bảo vệ thân chủ của mình, cũng như không bị Đảng Cộng Sản Việt Nam hay đảng Cộng Sản Trung Quốc, can thiệp. Do đó, ngưòi luật sư phải có sự trung thành tuyệt đối với thân chủ. Trong khi đó, vì nhà nước và Đảng Cộng Sản Việt Nam có những quyền lợi gắn bó với đảng Cộng Sản Trung Quốc và chủ đầu tư nên việc đảng Cộng Sản và nhà nước giành quyền đại diện cho nạn nhân là việc không nên làm. Nếu đảng Cộng Sản và nhà nước Việt nam làm đại diện cho nạn nhân như trường họp Ấn Độ thì sự đại diện đó có mâu thuẩn về quyền lợi. Trong trưòng hợp đó đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không trung thành với quyền lợi của nạn nhân vì phải bảo vệ quyền lợi của mình trong dự án đầu tư. III. Vai Trò của Toà ÁnToà án là nền tảng để bảo đảm công lý cho xã hội, đặc biệt là cho nạn nhân của những trường hợp có thảm kịch công nghiệp xảy ra. Vì toà án là xuất phát điểm của công lý cho xã hội cho nên chúng ta cần đi sâu vào việc phân tích hệ thống toà án hiện nay của Việt Nama) Nguyên tắc về toà án độc lậpNhững nguyên tắc về tính độc lập của toà án được LHQ quy định như sau:1. Nguyên tắc độc lập của toà án phải được nhà nước bảo đảm và phải được trân trọng ghi rõ ràng trong hiến pháp hay luật pháp của quốc gia. Bổn phận của các định chế nhà nước và các định chế khác là phải tôn trọng và theo dõi sự độc lập của hệ thống toà án.2. Toà án phải xét xử các vụ án một cách không thiên vị, dựa vào sự kiện và theo luật pháp, không bị ràng buộc bởi cấm đoán nào, những ảnh hưởng bất chính nào, những dụ dỗ nào, những áp lực nào, những đe doạ hay can thiệp nào, trực tiếp hay gián tiếp, từ bất cứ góc cạnh nào, hay vì bất cứ lý do gì.(Basic Principles on the Independence of the Judiciary
Adopted by the Seventh United Nations Congress on the Prevention of Crime
and the Treatment of Offenders held at Milan from 26 August to 6 September
1985 and endorsed by General Assembly resolutions 40/32 of 29 November
1985 and 40/146 of 13 December 1985 )
Nguyên tắc độc lập toà án của Liên Hiệp Quốc đưa ra trên đây đòi hỏi sự thực hiện chế độ phân quyền trong việc tổ chức guồng máy quốc gia. Đó là sự độc lập của ngành toà án đối với các ngành hành pháp và lập pháp. Lời nhắn nhủ của Liên Hiệp Quốc là toà án của một quốc gia không nên để một phe nhóm nào hoặc cá nhân nào khống chế. Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhận định rằng một hệ thống toà án độc lập là điều kiện tiên khởi và thiết yếu để bảo vệ nhân quyền và bảo đảm không có sự kỳ thị trong việc thi hành công lý. (an independent judiciary is an "essential prerequisite for the protection of human rights and for ensuring that there is no discrimination in the administration of justice".) - (Resolution 1994/41 of the United Nations Human Rights Commission. See (1994) 20 Commonwealth Law Bulletin 957. )b) Tính chất không độc lập của toà án Việt NamHiến pháp Việt Nam hiện hành quy định rằng:Ðiều 4:Ðảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.