Danchimviet - http://danchimviet.com
Góp ý Bô-xit II: Vấn Đề Giải Quyết Thảm Kịch Công Nghiệp
http://danchimviet.com/articles/1197/1/Gop-y-Bo-xit-II-Vn--Gii-Quyt-Thm-Kch-Cong-Nghip-/Page1.html
Nguyễn Xuân Phước

 
Tác Giả Nguyễn Xuân Phước
Đăng/Published on 12.06.09
 
...trong một chế độ có hệ thống toà án không độc lập, công tác xét xử bị đảng cầm quyền chi phối, như trường hợp Việt Nam, thì nhân quyền và dân quyền không được bảo vệ và công lý không được thi hành.

Những Vấn Đề Pháp Lý Của thời Đại Toàn Cầu hoá
Để bảo vệ cho nạn nhân khi thảm kịch công nghiệp  xảy ra, ngoài những vấn đề có tính cách kỹ thuật và quản lý không nằm trong khả năng của người viết, một số vấn đề pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của  nạn nhân sẽ đưọc đề cập ở đây:  đó là luật về bồi thường thiệt hai nhân mạng và tài sản,  quyền có luật sư đại diện để khiếu kiện. 

Vấn đề đòi bồi thiệt hại dựa trên sự tin tưởng vào một hệ thống toà án chí công vô tư được tổ chức hoàn chỉnh với những quan toà và nhân sự đầy đủ kinh nghiệm để để cứu xét dơn khiếu kiện phức tạp của nạn nhân tai nạn ở một qui mô lớn và có tính quốc tế, xuyên quốc gia.

I. Luật bồi thường Tai Nạn có nhiều nạn nhân (mass tort)

Những năm 1980 là thời đại của những vụ kiện đòi bồi thường thương tích cá nhân do tai nạn gây thương tích cho hàng loạt nạn nhân. Hàng trăm ngàn người đã kiện những công ty hoặc các các tập đoàn kinh doanh vì  những  mất mát do chấn thương hay bệnh mà họ quy trách nhiệm cho các tập đoàn kinh tế lớn. 

Sự xuất hiện những vụ kiện tai nạn có nhiều nạn nhân là một nhân thức trung thực của luật pháp của các nước tiến bộ về trách nhiệm dân sự của những tập đoàn công nghệ làm giàu trên ngưòi dân đối với những thảm kịch do họ gây ra trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Các tập đoàn kinh doanh và các hãng bảo hiểm đã thanh toán hàng tỷ đô la  bồi thường.  Luật sư của hãng  bảo hiểm, của bị cáo, và  của nguòi đứng kiện đã nhận được hàng tỷ nhiều hơn nữa. Những vụ kiện lớn nầy làm cho hãng bảo hiểm quan tâm, và làm cho tiền bảo hiểm gia tăng cho các dự án đầu tư quốc tế có nhiều rủi ro gây tai nạn làm thiệt hại hàng loạt nạn nhân. 

Sự thể nầy khiến cho các tập đoàn công nghệ có dự án đầu tư lớn đều có kế hoạch đối phó với những rủi ro công nghệ, hoặc sơ suất sản phẩm có thể gây thương tích, chết chóc cho nhiều ngưòi tiêu dùng hay những nạn nhân có liên quan.  Hơn thế nữa, các nhà đầu tư phải quan tâm đến khoản chi phí bất ngờ có dự cầu trong trưòng họp nầy.

II. Quyền Có Luật Sư cho nạn nhân

Quyền có luật sư đại diện của nạn nhân có mục đích giúp cho nạn nhân được đền bù thoả đáng những thiệt hại về thương tích cũng như tử vong.  Người luật sư trong trường hợp nầy có một nhiệm vụ duy nhất là bảo vệ cho thân chủ.  Luật sư phải là người không bị những mâu thuẩn về quyền lợi với những phe nhóm liên quan đến việc khai thác bô-xít có thể chi phối vai trò bảo vệ thân chủ của mình, cũng như không bị  Đảng Cộng Sản Việt Nam hay đảng Cộng Sản Trung Quốc, can thiệp.  Do đó, ngưòi luật sư phải có sự trung thành tuyệt đối với thân chủ.  

Trong khi đó, vì nhà nước và Đảng Cộng Sản Việt Nam có những quyền lợi gắn bó với đảng Cộng Sản Trung Quốc và chủ đầu tư nên việc đảng Cộng Sản và nhà nước giành quyền đại diện cho nạn nhân là việc không nên làm.  Nếu đảng Cộng Sản và nhà nước Việt nam làm đại diện cho nạn nhân như trường họp Ấn Độ thì sự đại diện đó có mâu thuẩn về quyền lợi.  Trong trưòng hợp đó đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không trung thành với quyền lợi của nạn nhân vì phải bảo vệ quyền lợi của mình trong dự án đầu tư. 

III. Vai Trò của  Toà Án

Toà án là nền tảng để bảo đảm công lý cho xã hội, đặc biệt là cho nạn nhân của những trường hợp có thảm kịch công nghiệp  xảy ra.  Vì toà án là xuất phát điểm của công lý cho xã hội cho nên chúng ta cần đi sâu vào việc phân tích hệ thống toà án hiện nay của Việt Nam

a) Nguyên tắc về toà án độc lập

Những nguyên tắc về tính độc lập của toà án được LHQ quy định như sau:

1. Nguyên tắc độc lập của toà án phải được nhà nước bảo đảm và phải được trân trọng ghi rõ ràng trong hiến pháp hay luật pháp của quốc gia. Bổn phận của các định chế nhà nước và các định chế khác là phải tôn trọng và theo dõi sự độc lập của hệ thống toà án.

2. Toà án phải xét xử các vụ án một cách không thiên vị, dựa vào sự kiện và theo luật pháp, không bị ràng buộc bởi cấm đoán nào, những ảnh hưởng bất chính nào, những dụ dỗ nào, những áp lực nào, những đe doạ hay can thiệp nào, trực tiếp hay gián tiếp, từ bất cứ góc cạnh nào, hay vì bất cứ lý do gì.
(Basic Principles on the Independence of the Judiciary
Adopted by the Seventh United Nations Congress on the Prevention of Crime
and the Treatment of Offenders held at Milan from 26 August to 6 September
1985 and endorsed by General Assembly resolutions 40/32 of 29 November
1985 and 40/146 of 13 December 1985 )

Nguyên tắc độc lập toà án của Liên Hiệp Quốc đưa ra trên đây đòi hỏi sự thực hiện chế độ phân quyền trong việc tổ chức guồng máy quốc gia. Đó là sự độc lập của ngành toà án đối với các ngành hành pháp và lập pháp. Lời nhắn nhủ của Liên Hiệp Quốc là toà án của một quốc gia  không nên để một phe nhóm nào hoặc cá nhân nào khống chế.

Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhận định rằng một hệ thống toà án độc lập là điều kiện tiên khởi và thiết yếu để bảo vệ nhân quyền và bảo đảm không có sự kỳ thị trong việc thi hành công lý. (an independent judiciary is an "essential prerequisite for the protection of human rights and for ensuring that there is no discrimination in the administration of justice".) - (Resolution 1994/41 of the United Nations Human Rights Commission. See (1994) 20 Commonwealth Law Bulletin 957. )

b) Tính chất không độc lập của toà án Việt Nam

Hiến pháp Việt Nam hiện hành quy định rằng:

Ðiều 4:
Ðảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Bỏ đi tất cả những mệnh đề phụ của điều 4, mệnh đề chính của điều khoản nầy xác định ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Quyền lực của đất nước đều qui về một mối và do đó, bất cứ hiện tượng xã hội, kể cả luật pháp và toà án, đều bị sự chi phối của ĐCSVN.

Việc tập trung quyền hành vào một đảng chính trị, và việc đảng cầm quyền chi phối mọi sinh hoạt quốc gia là một vi phạm nguyên tắc độc lập toà án do Liên Hiệp quốc đưa ra.

Do sự chi phối của đảng Cộng Sản Việt Nam, nhân sự của ngành toà án hiện nay được chỉ định bởi đảng và những quyết định của toà án được đảng quyết định dù quyết định đó có đáp ứng với nhu cầu công lý của ngưòi dân hay không. Nói một cách khác, trong một chế độ có hệ thống toà án không độc lập, công tác xét xử bị đảng cầm quyền chi phối, như trường hợp Việt Nam, thì nhân quyền và dân quyền không được bảo vệ và công lý không được thi hành.

Do đó, hạn chế lớn của toà án hiện nay  là do sự giằng co giữa đòi hỏi độc lập của toà án, và ước mơ lãnh đạo của đảng.  Chánh án toà án nhân dân tối cao là ông Nguyễn Văn Hiện tuyên bố: “Chúng ta phải thực hiện tốt nguyên tắc hiến định về độc lập tư pháp, không có cá nhân, tổ chức nào được làm thay cơ quan tư pháp, vấn đề này phải được cần bàn nhiều.”  Nhưng sau đó, với vai trò Phó trưởng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương ông tuyên bố với báo Pháp Luật TPHCM như sau: “Ta vẫn khẳng định là tư pháp phải độc lập, cấp ủy không làm thay; song cũng khẳng định sự lãnh đạo của Đảng. Hiện nay, cơ quan tư pháp vừa chịu chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của trên, vừa chịu trách nhiệm và dưới sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương.” 

Giáo sư Tạ văn Tài góp ý hụych toẹt rằng: Cần phải huấn luyện nhân viên và bỏ những người mất tư cách. Điểm thứ hai là Đảng đừng có ra lệnh cho chánh án xử như thế nào.”  Vì dự án Bô-xít Tây Nguyên thể hiện ý chí của đảng CSVN, và vì hệ thống toà án bị đảng CS lãnh đạo, nên khi có một thảm kịch công nghiệp xảy ra công lý khó tới được tay nạn nhân.

Nếu phía đầu tư không bồi thường thoả đáng cho nạn nhân thì gánh nặng tài chánh, thương tật của nạn nhân và môi trường do dự án gây ra phải do toàn thể nhân dân Việt Nam  gánh vác. Đây là một sự đối xử hoàn toàn bất công cho nhân dân Việt Nam.

c) Khả Năng của Toà Án Giải Quyết Khiếu Kiện có tính cách Qui Mô

Cho đến nay hệ thống toà án Việt Nam đang đưọc cải tiến đế ra khỏi cơ chế “quá độ” để trở lại một hệ thống toà án bình thường như tất cả hệ thống toà án của các nước bình thường trên thế giới.  Tuy nhiên cho đến nay chưa có dấu hiệu gì cho thấy toà án Việt nam có khả năng đáp ứng với những vấn đề pháp lý phức tạp, có tính cách chuyên môn khi thảm hoạ kỷ nghệ xảy ra.

Ngày 22 tháng 9 năm 2008, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết xác nhận lại tình trạng yếu kém của toà án Việt Nam như sau “công tác cải cách tư pháp hiện nay đang đi chậm hơn so với một số lĩnh vực khác vì một trong những nguyên nhân là đội ngũ cán bộ thiếu về số lượng, trình độ chưa đáp ứng được nhiệm vụ.”

Nhận định của cựu bộ trưởng tư pháp Nguyễn Đình Lộc hay Chánh án toà án tối cao Nguyễn Văn Hiện nói chung là không thể cải tổ đưọc ngành tư pháp (toà án) nếu không sửa đối hiến pháp. Hay nói cách khác hiến pháp hiện nay là trở ngại cho việc thi hành công lý.

Trước những bế tắc đó, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, người giữ chức Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp, có chuyến thăm Nhật và nhận được lời hứa sẽ có giúp đỡ để cải tổ luật pháp của Việt Nam. Mục đích chuyến đi từ 28-6 đến 4-7, 2007, nhằm tìm hiểu những kinh nghiệm tư pháp của Nhật Bản để thực hiện chiến lược cải cách tư pháp. 

Theo bản tin Ngươì Việt thì Thứ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ thúc giục CSVN cải tổ hệ thống tư pháp để bảo đảm công bằng và nêu vấn đề đàn áp nhân quyền tại Việt Nam trong các cuộc họp với những viên chức cao cấp của chính quyền CSVN.

Năm 2008 Bộ Tư pháp tổ chức diễn đàn đối tác pháp luật “Những định hướng mới cho quan hệ đối tác trong lĩnh vực cải cách pháp luật và tư pháp”. Diễn đàn này nằm trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ thực thi chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010” do Chính phủ Việt Nam, UNDP, Thụỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy và Ireland thực hiện.

Nói chung Việt Nam tìm mọi cách để thực hiện cải tổ ngành toà án (tư pháp).  Các nưóc trên thế giới cũng hết sức hổ trợ nổ lực nầy, nhưng việc cải cách trong mấy năm qua hoàn toàn bế tắc. 

Một hệ thống toà án mà công tác cải cách còn chậm vì đội ngũ cán bộ có trình độ chưa đáp ứng đưọc nhiệm vụ, với một hiến pháp làm trở ngại việc thi hành công lý thì làm sao có thể thụ lý đưọc một vụ khiếu kiện có tính cách qui mô lớn xuyên quốc gia?

III. Kết Luận

Tóm lại, vấn đề bồi thường cho nạn nhân Bô-xít  Tây Nguyên khi có thảm kịch công nghệ chỉ là một minh chứng để thấy rằng hệ thống thống toà án hiện nay của Việt Nam chưa đưọc chuẩn bị để xét xử tranh chấp quyền lợi của nạn nhân của một dự án công nghiệp có tầm cở lớn như Bô-xít Tây Nguyên nói riêng và giải quyết những bất công xã hội một cách vô tư nói chung.

Để khắc phục tình trạng bất lực của hệ thống toà án, Việt Nam cần có sự thay đổi căn bản trong cách tổ chức nhà nước. Quan điểm chung của những chuyên gia thượng thặng trong ngành tư pháp như ông Nguyễn Văn Hiện, Nguyễn Đình Lộc, GS Nguyễn Đăng Dung là toà án cần phải có sự độc lập tuyệt đối.  Để có thể có đưọc độc lập toà án, hiến pháp không nên cho phép một tổ chức tư nhân nào khống chế hiến pháp và luật pháp.  Điều nầy đòi hỏi Việt Nam cần phải thay đổi hiến pháp có nghĩa Việt Nam cần thực hiện tiêu chuẩn độc lập toà án do Liên hiệp Quốc đề xuất. Tức là nhà nước phải được tổ chức theo hệ thống phân quyền rõ rệt giữa hành pháp, lập pháp và toà án. Với một hiến pháp văn minh như thế, vai trò của các tổ chức tư nhân như đảng Cộng Sản Việt Nam phải trở về với vị trí của mình trong xã hội như những tổ chức khác, đồng thời  điều 4 hiến pháp cũng phải trả  lại cho lịch sử để quyền làm chủ và lãnh đạo đất nước được giao phó cho nhân dân thông qua một tiến trình dân chủ.

Chỉ có  một hệ thống toà án độc lập, chí công vô tư thì sự bồi thường cho nạn nhân của một thảm kịch công nghệ  mới công bằng và thoả đáng.   

LS Nguyễn Xuân Phước
Tiến sĩ Luật Khoa
Dallas, Texas
5-26-2006