Giờ đây trên đất Mỹ, tiếp xúc với cộng đồng người Việt, tôi không khỏi băn khoăn về cái điều tâm huyết tôi nói bên mộ thím tôi:"… Nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình…" Tôi không biết trong lịch sử thịnh suy của đất nước tôi có thời điểm nào, hoàn cảnh nào dẫn đến sự ly tán lòng người sâu thẳm, dẫn đến việc hàng triệu người chạy ra biển ly hương bất cần mạng sống đến thế không. Nhưng tôi biết rất rõ không ít người Việt xa xứ ‘qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi’ mà cuối cùng không thể ‘trở về quê mình, làng mình’ được. Ở đây, người ta đi hết biển thì chỉ tới nước Mỹ… ” (Trần Văn Thủy. Nếu Ði Hết Biển. Thời Văn, Hoa Kỳ 2003, 21–24).
Con số những người “người Việt xa xứ qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi mà cuối cùng không thể trở về quê mình, làng mình được” quả là không ít. Tuy thế, không nhất thiết họ đều “bạc như vôi” vì đã “nỡ quên công cha nghĩa mẹ” – như ông Thủy đã muợn những câu ca dao “trách cò” để trách khéo họ đâu. Cũng không phải những kẻ đã đi hết biển (và đi … luôn) đều là những người “có khuynh hướng cực đoan trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại … chủ trương không du lịch về Việt Nam, không gửi tiền về trợ giúp thân nhân cũng như các công tác từ thiện” (sđd trang 72) – như ơng Trần Văn Thủy đã nghĩ đâu.
Ông Thủy “có mặt trên đất Mỹ dài dài… đi nhiều nơi, gặp nhiều người, tới trên hai chục trường đại học và thành phố thuyết trình hội thảo … bay trên ba chục chuyến bay trên nội địa nước Mỹ” (sđd, trang 19) nhưng tiếc là ông Thủy đã khơng ghé tiểu bang North Carolina, ở miền Ðông – Hoa Kỳ.
Nơi đây, chỉ trong vòng hai tháng (từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2002) đã có hàng ngàn người tị nạn – bỏ chạy khỏi Việt Nam, sang lánh nạn ở Cao Miên, sau biến động xẩy ra tại Tây Nguyên hồi tháng 02 năm 2001 – đã được chính phủ Mỹ chấp thuận cho định cư.
Trong thời gian ông Trần Văn Thủy ở Mỹ và đi Ðông, đi Tây để “trò chuyện với một số trí thức nhà văn hải ngoại” thì ở thành phố Durham – thuộc tiểu bang North Carolina – cũng có một một buổi trò chuyện thân mật giữa mấy cư dân nơi đây này với bốn người dân miền núi Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm tròn một năm, sau ngày họ đến Hoa Kỳ.
Nhóm người cùng ở với nhau trong một chung cư: ông Y’Bloi 36 tuổi, ông Y’Dronh 34 tuổi, ông Y’Juuh 31 tuổi và ông Y’Mut Adrong 48 tuổi. Bằng cái thứ tiếng Anh của người mới học, và học ở tuổi 50, Y’Mut Adrong lấy ra một tấm hình chụp vợ và hai con, và nói: “Buồn lắm. Ðói lắm. Ở Việt Nam, đàn ông làm việc, đàn bà ở nhà. Không có đàn ông – trẻ con không có cái ăn – Các con tôi, phải chịu đói.” (Y’Mut Adrong takes out a snapshot of his wife and two children in Vietnam… “very sad,” he says. “Very hungry. In Vietnam, man work, woman stay home. So no man – children no eat. My children hungry” (A year later, Montagnards adapting to new lives. Đã đăng ở http://www.herald–sun.com/durham/4–377604.html).
Y’Mut Adrong: “Buồn lắm. Ðói lắm. Ở Việt Nam, đàn ông làm việc, đàn bà ở nhà. Không có đàn ông – trẻ con không có cái ăn – Các con tôi, phải chịu đói.”
Nguồn: topas-adventure-vietnam.com
Ông Y’Bloi có bốn đứa con, ông Y’Dronh có sáu đứa, và ông Y’Juuh thì có hai đứa. Tổng cộng, ba nguời đàn ông tị nạn độc thân (tại chỗ) đã để lại 3 bà vợ và 12 đứa bé – bơ vơ và đói rét giữa núi rừng Tây Nguyên – để đến Hoa Kỳ … ngồi học tiếng Anh, cho nó đỡ buồn!
Nỗi buồn ly hương của họ (e) hơi … khó đỡ.
Cả bốn nhân vật này đều đã (hoàn toàn) đi hết biển và tôi tin rằng họ đều rất thiết tha mong muốn trở về rừng núi cũ, bản làng xưa. Ðói no gì cũng chịu, miễn là mỗi chiều họ lại được ngồi bên bếp lửa – cạnh vợ con, anh em, chòm xóm – phì phà tẩu thuốc, bùi ngùi kể chuyện đường xa.
Nhưng về thì chắc chết, chết chắc!
Theo nguồn tin của AP đánh đi ngày 27 tháng 9 năm 2001 thì trước đó một hôm, nhà đương cuộc Việt Nam đã lập hai phiên toà xử kín (closed trial) tại Ðắc Lắc và Gia Lai để “xử lén” 14 người dân sơn cước từ 6 đến 15 năm tù – về những tội danh như sau: “xúi dục nổi loạn”, “làm mất an ninh công cộng” và “chống chính phủ”…
Tôi viết những dòng chữ này cũng vào một ngày cuối tháng 9 năm 2004. Từ đó đến nay, đã bốn năm qua, có thêm bao nhiêu phiên toà khác, có thêm bao nhiêu người dân miền núi khác đã bị bắt giam, với những bản án vô cùng khắc nghiệt, chỉ vì những “tội danh” (hàm hồ) tương tự?
Phiên toà cuối cùng, được công luận biết đến, vào ngày 11 và 12 tháng 8 năm 2004, tại Ðắc Lắc, đã kết án 9 nguời dân Tây Nguyên khác từ 5 đến 12 năm tù vì can tội “gây mất trật tự an ninh và phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc” – như VOA đã như tường thuật, vào ngày hôm sau. Và theo ghi nhận của AFP thì số người này đều bị bắt hơm 10 tháng 4 năm 2004 “trong lúc tham gia cuộc biểu tình để phản đối tình trạng đàn áp tôn giáo và tịch thu đất đai bừa bãi.”
Ông Trần Văn Thủy có lẽ không biết [và lỡ có biết (chắc) cũng khơng bận tâm gì lắm] đến những chuyện lặt vặt (rất) không tử tế như thế, ở cao nguyên. Còn qúi ông Y’Bloi, ông Y’Dronh, ông Y’Juuh và ông Y’Mut Adrong … thì rất quan tâm và vô cùng sợ hãi cách hành xử ác độc và man rợ (đến thế) của những người đang cầm quyền ở VN. Vì thế, sau khi đã đi hết biển, nếu những người dân miền núi đều không (dám) trở về thì tôi mong có sự thông cảm của ông Trần Văn Thủy cho hoàn cảnh đặc biệt (khó khăn) của họ.
Tôi cũng mong ước có được sự bao dung của ông Trần Văn Thủy cho một số những người tị nạn khác nũa – những kẻ mà ông Trần Văn Thủy không có dịp, hoặc không tiện tiếp xúc, trong thời gian công du ở hải ngoại. Họ vốn có gốc gác ở đồng bằng, cũng đang lưu lạc ở một góc trời nào đó, và cũng đang ở trong những hoàn cảnh khó khăn như thế – hay hơn thế.
Xin đan cử một vài trường hợp tiêu biểu …
Theo báo cáo của chính quyền địa phương xã Bình Thạnh Ðơng – huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, giáp giới Cao Miên – tính đến ngày 27 tháng 3 năm 2003, đã có hai trăm mười (210) phụ nữ và trẻ em bỗng dưng “biến mất”!
Họ “biến” đi đâu?
Ðến đêm 23 tháng 1 năm 2004, sau khi xem phóng sự điều tra Dateline (của đài NBC) thì mọi người lờ mờ đoán rằng – rất có thể – một số những đứa bé thơ ở xã Bình Thạnh Ðông đã “biến” sang nước láng giềng. Khán giả của chương trình này thấy cảnh sát Cambodia đã đột phá vào những ổ mại dâm trá hình ở Phnom Penh và giải thoát được những bé gái – khoảng từ năm đến mười tuổi – đang bị ép buộc phải bán dâm. Nhiều hình ảnh và tên họ (Liên, Tuyết, Xuân, Yến) được ghi nhận, chứng tỏ có một số trẻ con Việt Nam đã sinh sống và “làm việc” ở đây.
Ðến tháng 4 năm 2004, sau khi hội “Taipei Women’s Rescue Foundation” đệ đơn kiện Web site e–Bay vì đã đăng quảng cáo bán đấu giá phụ nữ Việt Nam ở Ðài Bắc (khiến cả thế giới bàng hoàng) thì người ta lại lờ mờ đoán thêm rằng trong số phụ nữ bất hạnh này (chắc) có lẫn vài cô gái nhẹ dạ, ở tỉnh An Giang, đã … đi hết biển!
Những chuyện thảm thương tủi nhục cỡ đó, thực ra, hoàn toàn không có gì mới mẻ. Từ khoảng đầu thập niên 1990 – ở miền Nam California, Hoa Kỳ, nơi ông Trần Văn Thủy lui tới nhiều lần và ở lại nhiều ngày – đã có một nhóm người Việt thực hiện một “project” nhỏ, lấy tên là “Xin Ðừng Quên Tôi (Forget – Me – Not)”.
Nhóm chủ trương tin là “...có nhiều bằng chứng cho thấy rằng một số thiếu nữ Việt nam bị bắt cóc trước đây hiện đang sinh sống đâu đó tại Thái Lan, Singapore và tại các vùng biên giới Mã Lai.” Do đó, họ đưa lên internet một lời nhắn giản dị (nguyên văn) như sau:
“... nếu có tin tức liên quan đến các cô gái bị hải tặc bắt cóc xin liên lạc với Vietnam & The World Foundation, P.O.box 4108, Hungtington Beach, CA 92605 – 4018, USA.
Những cô gái kém may mắn như thế, và những nàng Kiều modern của nước nhà thời mở cửa (đang được rao bán và chuyền tay khắp Năm Châu) cũng như những đứa bé thơ Việt Nam hiện sống trong những nhà thổ ở Nam Vang, sau khi “xa xứ qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi mà cuối cùng không thể trở về quê mình, làng mình được” chỉ vì bị “kẹt”, thế thôi. Họ không tìm được lối về, chứ có phải vì chủ trương chống cộng cực đoan hay quá khích gì đâu.
Nếu ông Trần Văn Thủy cũng đi hết biển (bằng đường biển), cũng sống lê lết hết từ trại tị nạn này sang trại tị nạn khác (và sống từ năm này sang năm khác), cũng phải “tiếp xúc” với dùi cui hay ma trắc của cảnh sát Thái Lan, Mã Lai, Hồng Kông … thì cách nhìn của ông về chuyến Exodus (hãi hùng) của dân tộc Việt – không chừng – cũng khác.
Thay vì quanh co, dàn dựng để đặt “những câu hỏi sắp xếp cạnh nhau, đầy kịch tính” (sđd, trang 46) – rất có thể – ông Thủy sẽ có những câu giản dị, chân thành và rốt ráo hơn – đại lược như:
– Tại sao liên tiếp trong ba thập niên qua, hàng triệu triệu người dân Việt (bất kể tuổi tác, giới tính, sắc tộc, tôn giáo, địa phương) đều đã phải tìm mọi cách để … đi ra biển?
– Ngoài bờ biển phía Ðông ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những dân tộc thiểu số tự ngàn xưa. Họ chính là chủ nhân đích thực của đất nước này. Chính họ tạo thành tuyến đầu và vòng đai an ninh cho toàn lãnh thổ. Cũng chính họ, với cuộc sống đơn giản hài hoà với thiên nhiên, đã giữ cho môi trường sinh thái được quân bằng và tạo một “vòng đai xanh” cho tổ quốc. Tại sao lại tìm mọi cách đẩy họ đến mức diệt vong, dồn họ vào tử lộ đến nỗi phải bỏ núi để… đi hết biển như thế?
– Ai đã khiến cho những phụ nữ miền xuôi bị rao bán như những món hàng?
– Ai đã giam đời những đứa bé thơ ở chốn lầu xanh, nơi quê người đất khách?
Thì cũng phải nói cho ra lẽ như thế, chứ tôi khơng dám đòi hỏi ông Trần Văn Thủy nêu ra những câu hỏi “phiền phức“ và “nguy hiểm” (chết người) cỡ đó – trong cuốn Nếu Ði Hết Biển. [Ðây lẽ ra là cơng việc của những người soạn thảo N.Q. 36 nhưng (tiếc thay) họ cũng đã không đủ can đảm và thành thật để nhìn thẳng vào vấn đề như vậy]. Tôi chỉ mong ông Trần Văn Thủy “vào những khoảnh khắc tĩnh lặng, những đêm trắng thâu canh” sẽ tự hỏi thầm như thế để “giải toả cho chính mình” thôi (sđd, trang 20). Ðược thế, hy vọng, ơng Thủy sẽ cảm thông hơn (hoặc đỡ khó chịu hơn) khi nhắc đến ‘‘những người ham chống cộng một cách cực đoan” (sđd, trang 47) ở khắp năm châu.