- Trang Chủ
- Phiếm Luận
- Sổ tay K'Tiến
- Đã đi hết biển
Đã đi hết biển
- Tác Giả Tưởng Năng Tiến
- Đăng ngày 04.07.08
- Sổ tay K'Tiến
I would be happy to die right here, rather than go back to Vietnam …
Ralanpee, Montagnard refugee in Cambodia
(BBC NEWS 2004/07/21)
... chúng ta đã đi hết biển ...
này anh em. bạn bè
chúng ta đã đi hết biển
qua các đại dương và châu lục
không về lại mái đình xưa
ngói lở. cột xiêu. xen tàn, muà hạ chết
Nguyễn Xuân Thiệp
Tôi sinh trưởng ở miền sơn cước. Nơi đây không có biển rộng, sông dài, khơng có những cánh đồng lúa vàng ngút mắt, cũng khơng có phố thị tấp nập và ồn ào – như ở miền xuôi. Sống đâu quen đó. Tôi quen với những buổi sáng rừng hớn hở, tưng bừng tiếng con vượn hú và những đêm trăng rừng tĩnh lặng, hoang vu.
Khi hết chiến tranh, tôi đã cứ ngỡ là suốt phần đời còn lại của mình sẽ chỉ quanh quẩn dưới chân ngọn Lang Biang (hay còn gọi gọi là núi Bà, theo tiếng của người Kinh) ở cao nguyên Lâm Viên. Có quá lắm thì chắc cũng chỉ đi xa năm bẩy xà gạc, một hai ngày đường, đến tận núi Voi, ghé thăm một cô bạn gái hay mấy người anh em bà con – uống với họ một hai ché ruợu cần, cho đến lúc say, lăn quay ra ngủ – rồi sáng sớm lại lững thững trở về thôn bản của mình.
Vậy mà rồi bỗng có lúc tôi hớt ha hớ hải, bỏ đất, bỏ núi, bỏ rừng, bỏ hồ, bỏ suối, bỏ của … chạy lấy người, trôi dạt xuống tận đồng bằng, cùng cả triệu kẻ khác, đâm xầm ra biển, lưu lạc, tứ tán khắp bốn phương trời.
Tôi đến Thái Lan, tả tơi, ủ dột, bèo nhèo và eo xèo như một cái xà rông ngấm nước.
Lần đầu ra thủ đô Bangkok, Tôi bị choáng ngợp và thấy mình lạc lõng tội nghiệp trước cảnh phồn tạp nơi xứ lạ. Lúc ấy, sao không dưng mà chợt bùi ngùi và nhớ thương quê hương quá đỗi.
Bắt chiếc dân miền xuôi, tôi cũng tập viết những câu ngăn ngắn – có vần có vận với nhau mà người Kinh thường gọi là thơ, hay là vè gì đó – như sau:
Chiều về trên xứ lạ
Cười nụ cười Anglais
Buồn qua hơi thuốc Thái
Thèm một phin cà phê
Chiều về trên xứ lạ
Excuse me
I’m sorry nói mãi
Thương một câu chửi thề
Chiều về trên xứ lạ
Xe ngược xuôi trăm đường
Trăm ngàn khuôn mặt lạ
Mong một người đồng hương
Chiều về trên xứ lạ
Ngỡ ngàng Chinatown.
Ðây ruợu nồng thịt béo
Mà bạn bè nơi nao
Dừng chân nơi quán lạ
Thèm cơm chiều hương quê
Mẹ cha xin đừng đợi
Chiều nay con không về
(Chị ơi thôi đừng đợi
Chiều nay em chưa về)
Chiều về trên xứ lạ
Núi xa, đèo xưa ơi
Ði khơng lời giã biệt
Mà nhớ thương suốt đời
…
Đã đi hết biển
Nguồn: CD “50 năm di cư, 30 năm di tản”, Cơ sở Truyền Thông Communicaions
Vì không có thân nhân ở Hoa Kỳ, từ Thái Lan, tôi được đưa sang một trại tị nạn chuyển tiếp để chờ một hội thiện nguyện bảo trợ cho vào Mỹ. Thế là tôi bắt đầu cuộc đời ly hương của mình bằng những ngày mưa đầu mùa ở Galang, một hòn đảo nhỏ bé, thuộc Nam Dương.
Những chiều mưa đầu mùa bao giờ cũng buồn. Và những chiều mưa đầu mùa (đầu tiên) nơi đất lạ thì buồn đến não lòng! Tôi cứ ngồi bó gối trong một góc, nhìn những giọt nước trong veo, nương nương chạy theo mái láng mà nhớ nhà muốn khóc.
Có hôm tạnh ráo, đi lang thang quanh đảo mãi cho đến lúc gần xẫm tối, tôi lạc đến một khu đất trống. Nơi đây, có chừng vài chục nấm mồ của người tị nạn. Giữa một buổi chiều vắng lặng và cô quạnh, trên hải đảo hoang vu, cách quê nhà cả một đại dương xanh thẫm, trước những nấm đất “xè xè” – mọc đầy cỏ dại, vương vãi mấy chân nhang đã bạc phếch mầu – tôi bỗng cảm được hết sự lạnh lẽo, thê lương, và ảm đạm của chuyện “vùi thây nơi quê người đất khách.” Tôi cũng chợt hiểu được tại sao, trên những ban thờ – thường thấy đặt trong nhà của những người dân ở đồng bằng – lúc nào cũng có thắp một ngọn đèn dầu hột vịt tí teo, cùng với khói hương ấm áp.
Hoàn cảnh không cho phép người dân sơn cước thờ cúng người thân theo cách đó. Hầu như tất cả những sắc dân thiểu số ở Việt Nam đều có lệ bỏ mả, hay còn gọi là bãi mả – theo như cách nói có âm hưởng Hán Việt, của nguời Kinh.
Dân Roglai (sống rải rác trên miền núi ở các tỉnh Khánh Hồ, Ninh Thuận, Bình Thuận, và Lâm Ðồng) làm lễ bỏ mả vào mùa gặt thứ nhất. Nguời Rhadé (ở vùng Darlac, Quảng Ðức hay Tuyên Ðức) thì làm lễ bãi mả vào mùa gặt năm sau. Gặt hái vưà xong, ai cũng rảnh rang và có của ăn của để nên lễ lạc thường rất đình đám. Thế nào cũng mời thầy cúng tế, ngả trâu bò, đãi đằng làng xóm, ăn uống, chiêng trống, nhẩy nhót thâu đêm. Rồi mọi người ra mộ khóc lóc một lần cuối trước khi (vĩnh viễn) tạ từ.
Tập tục này, tôi trộm nghĩ, có nguồn gốc từ đời sống du canh. Do sự di chuyển không ngừng để tìm đất đai canh tác mới nên cơ hội trở lại nơi chốn cũ thăm viếng mộ nguời đã khuất rất mỏng manh; vì vậy, người ta cần làm lễ bỏ mả để được yên tâm khi phải rời bỏ mồ mả ông bà trước khi di chuyển.
Tôi tiếc là mình đã không có được sự yên tâm như thế. Khi hốt hoảng bỏ chạy khỏi quê hương, tôi đã không kịp tạ mả người thân – theo như phong tục của người miền núi. Tôi cũng không có dịp chôn cất, thờ phượng song thân với khói hương ấm áp hàng ngày – như những kẻ ở miền xuôi. Trong suốt quãng đời lưu lạc của mình, Tôi cứ ân hận mãi về sự thiếu sót này.
Và có lẽ vì thế, nên tôi đã suy nghĩ khá lâu, sau khi đọc Nếu Ði Hết Biển của Trần Văn Thủy. Cuốn sách gồm mười chương, nội dung chính – theo như lời tác giả – “chỉ ghi chép lại đôi điều tôi nghĩ, tôi thấy, tôi trải qua cùng việc trò chuyện với một số trí thức nhà văn hải ngoại”. Chương mở đầu là “Mấy Lời Rào Ðón”. Chương kế tiếp, cũng có tiểu tựa là “Nếu Ði Hết Biển”, được mở đầu bằng những câu ca dao:
Trần Văn Thủy (1940 - )
Nguồn: dienanh.net
Con cò lặn lội bờ sông
Cò ơi sao nỡ quên công mẹ già
Hỏi rằng ai đẻ cò ra
Mà cò lại bỏ mẹ già không nuôi
Nhớ khi đi ngược về xuôi
Mẹ đi bắt tép mẹ nuôi được cò
Cò ơi cò bạc như vôi.
Công cha nghĩa mẹ cò còn nhớ không?
À á à ơi …
Sau đó, Trần Văn Thủy mượn lời đoạn kết của bộ phim “Có Một Làng Quê” (do chính ông làm đạo diễn) để tiếp tục câu chuyện – như sau:
“... Thuở tôi còn nhỏ, gia đình tôi tản cư về quê. Người chăm lo, nuôi dậy anh em chúng tôi là một bà vú nuôi nhà quê mà chúng tôi vẫn trìu mến gọi là thím, thím Nhuận.”
“Mỗi buổi tối, sau những công việc vườn tược, xay luá, giã gạo, khi gà đã lên chuồng, thím mắc võng ra hiên nằm kể chuyện cho chúng tôi. Khi ấy tôi chưa hề biết rằng bà không biết chữ, mà chỉ thấy bà thuộc lòng những chuyện thơ dài suốt đêm này qua đêm khác.”
“Thế rồi một đêm, dưới vòm trời bí ẩn đầy những vì sao lấp lánh, trong trí tưởng tượng ấu trĩ của tôi bỗng nẩy ra một dấu hỏi to tướng về sự hữu hạn và vô hạn. Tôibắt đầu lục vấn thím tôi:
– Ði hết làng ta thì đến làng nào hả thím?
– Làng ta gọi là làng An Phú. Ði hết làng ta thì đến làng An Lễ.
– Ði hết làng An Lễ thì đến làng nào
– Ði hết làng An Lễ thì đến làng An Phong.
– Rồi đi đến đâu nữa?
– Hết làng An Phong thì đến làng An Nhân, An Ðạo.
– Ði hết làng An Ðạo thì đến đâu
– Ði hết làng An Ðạo thì đến biển.
“Bà tự tin giảng cho tôi, tôi vơ cùng khâm phục sự hiểu biết rộng lớn của bà. Bỗng tôi nhỏm dậy hỏi thím:
– Thế đi hết biển thì đến đâu hả thím?
Trong đêm tối, thím tôi im lặng. Từ ngày có trí khôn chưa bao giờ tôi thấy thím tôi buồn đến thế. Thím buồn bã trả lời:
– Ði hết biển đến đâu thì thím không biết.
Tôi dần lớn khơn và thím tôi âm thầm qua đời khi tôi ở nước ngoài. Bà không có con, phần mộ của bà thực là ảm đạm. Một lần thắp hương bên mộ thím, Tôixót xa thì thầm với thím rằng:
– Thím ơi! Cháu thương thím, vì cho đến lúc chết thím cũng không biết đi hết biển là đến đâu.
Bây giờ cháu biết rồi thím ạ. Nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình thím ạ. Cháu sẽ dành dụm để xây cho thím một ngôi mộ đàng hoàng….”
Ralanpee, Montagnard refugee in Cambodia
(BBC NEWS 2004/07/21)
... chúng ta đã đi hết biển ...
này anh em. bạn bè
chúng ta đã đi hết biển
qua các đại dương và châu lục
không về lại mái đình xưa
ngói lở. cột xiêu. xen tàn, muà hạ chết
Nguyễn Xuân Thiệp
Tôi sinh trưởng ở miền sơn cước. Nơi đây không có biển rộng, sông dài, khơng có những cánh đồng lúa vàng ngút mắt, cũng khơng có phố thị tấp nập và ồn ào – như ở miền xuôi. Sống đâu quen đó. Tôi quen với những buổi sáng rừng hớn hở, tưng bừng tiếng con vượn hú và những đêm trăng rừng tĩnh lặng, hoang vu.
Khi hết chiến tranh, tôi đã cứ ngỡ là suốt phần đời còn lại của mình sẽ chỉ quanh quẩn dưới chân ngọn Lang Biang (hay còn gọi gọi là núi Bà, theo tiếng của người Kinh) ở cao nguyên Lâm Viên. Có quá lắm thì chắc cũng chỉ đi xa năm bẩy xà gạc, một hai ngày đường, đến tận núi Voi, ghé thăm một cô bạn gái hay mấy người anh em bà con – uống với họ một hai ché ruợu cần, cho đến lúc say, lăn quay ra ngủ – rồi sáng sớm lại lững thững trở về thôn bản của mình.
Vậy mà rồi bỗng có lúc tôi hớt ha hớ hải, bỏ đất, bỏ núi, bỏ rừng, bỏ hồ, bỏ suối, bỏ của … chạy lấy người, trôi dạt xuống tận đồng bằng, cùng cả triệu kẻ khác, đâm xầm ra biển, lưu lạc, tứ tán khắp bốn phương trời.
Tôi đến Thái Lan, tả tơi, ủ dột, bèo nhèo và eo xèo như một cái xà rông ngấm nước.
Lần đầu ra thủ đô Bangkok, Tôi bị choáng ngợp và thấy mình lạc lõng tội nghiệp trước cảnh phồn tạp nơi xứ lạ. Lúc ấy, sao không dưng mà chợt bùi ngùi và nhớ thương quê hương quá đỗi.
Bắt chiếc dân miền xuôi, tôi cũng tập viết những câu ngăn ngắn – có vần có vận với nhau mà người Kinh thường gọi là thơ, hay là vè gì đó – như sau:
Chiều về trên xứ lạ
Cười nụ cười Anglais
Buồn qua hơi thuốc Thái
Thèm một phin cà phê
Chiều về trên xứ lạ
Excuse me
I’m sorry nói mãi
Thương một câu chửi thề
Chiều về trên xứ lạ
Xe ngược xuôi trăm đường
Trăm ngàn khuôn mặt lạ
Mong một người đồng hương
Chiều về trên xứ lạ
Ngỡ ngàng Chinatown.
Ðây ruợu nồng thịt béo
Mà bạn bè nơi nao
Dừng chân nơi quán lạ
Thèm cơm chiều hương quê
Mẹ cha xin đừng đợi
Chiều nay con không về
(Chị ơi thôi đừng đợi
Chiều nay em chưa về)
Chiều về trên xứ lạ
Núi xa, đèo xưa ơi
Ði khơng lời giã biệt
Mà nhớ thương suốt đời
…
Đã đi hết biển
Nguồn: CD “50 năm di cư, 30 năm di tản”, Cơ sở Truyền Thông Communicaions
Vì không có thân nhân ở Hoa Kỳ, từ Thái Lan, tôi được đưa sang một trại tị nạn chuyển tiếp để chờ một hội thiện nguyện bảo trợ cho vào Mỹ. Thế là tôi bắt đầu cuộc đời ly hương của mình bằng những ngày mưa đầu mùa ở Galang, một hòn đảo nhỏ bé, thuộc Nam Dương.
Những chiều mưa đầu mùa bao giờ cũng buồn. Và những chiều mưa đầu mùa (đầu tiên) nơi đất lạ thì buồn đến não lòng! Tôi cứ ngồi bó gối trong một góc, nhìn những giọt nước trong veo, nương nương chạy theo mái láng mà nhớ nhà muốn khóc.
Có hôm tạnh ráo, đi lang thang quanh đảo mãi cho đến lúc gần xẫm tối, tôi lạc đến một khu đất trống. Nơi đây, có chừng vài chục nấm mồ của người tị nạn. Giữa một buổi chiều vắng lặng và cô quạnh, trên hải đảo hoang vu, cách quê nhà cả một đại dương xanh thẫm, trước những nấm đất “xè xè” – mọc đầy cỏ dại, vương vãi mấy chân nhang đã bạc phếch mầu – tôi bỗng cảm được hết sự lạnh lẽo, thê lương, và ảm đạm của chuyện “vùi thây nơi quê người đất khách.” Tôi cũng chợt hiểu được tại sao, trên những ban thờ – thường thấy đặt trong nhà của những người dân ở đồng bằng – lúc nào cũng có thắp một ngọn đèn dầu hột vịt tí teo, cùng với khói hương ấm áp.
Hoàn cảnh không cho phép người dân sơn cước thờ cúng người thân theo cách đó. Hầu như tất cả những sắc dân thiểu số ở Việt Nam đều có lệ bỏ mả, hay còn gọi là bãi mả – theo như cách nói có âm hưởng Hán Việt, của nguời Kinh.
Dân Roglai (sống rải rác trên miền núi ở các tỉnh Khánh Hồ, Ninh Thuận, Bình Thuận, và Lâm Ðồng) làm lễ bỏ mả vào mùa gặt thứ nhất. Nguời Rhadé (ở vùng Darlac, Quảng Ðức hay Tuyên Ðức) thì làm lễ bãi mả vào mùa gặt năm sau. Gặt hái vưà xong, ai cũng rảnh rang và có của ăn của để nên lễ lạc thường rất đình đám. Thế nào cũng mời thầy cúng tế, ngả trâu bò, đãi đằng làng xóm, ăn uống, chiêng trống, nhẩy nhót thâu đêm. Rồi mọi người ra mộ khóc lóc một lần cuối trước khi (vĩnh viễn) tạ từ.
Tập tục này, tôi trộm nghĩ, có nguồn gốc từ đời sống du canh. Do sự di chuyển không ngừng để tìm đất đai canh tác mới nên cơ hội trở lại nơi chốn cũ thăm viếng mộ nguời đã khuất rất mỏng manh; vì vậy, người ta cần làm lễ bỏ mả để được yên tâm khi phải rời bỏ mồ mả ông bà trước khi di chuyển.
Tôi tiếc là mình đã không có được sự yên tâm như thế. Khi hốt hoảng bỏ chạy khỏi quê hương, tôi đã không kịp tạ mả người thân – theo như phong tục của người miền núi. Tôi cũng không có dịp chôn cất, thờ phượng song thân với khói hương ấm áp hàng ngày – như những kẻ ở miền xuôi. Trong suốt quãng đời lưu lạc của mình, Tôi cứ ân hận mãi về sự thiếu sót này.
Và có lẽ vì thế, nên tôi đã suy nghĩ khá lâu, sau khi đọc Nếu Ði Hết Biển của Trần Văn Thủy. Cuốn sách gồm mười chương, nội dung chính – theo như lời tác giả – “chỉ ghi chép lại đôi điều tôi nghĩ, tôi thấy, tôi trải qua cùng việc trò chuyện với một số trí thức nhà văn hải ngoại”. Chương mở đầu là “Mấy Lời Rào Ðón”. Chương kế tiếp, cũng có tiểu tựa là “Nếu Ði Hết Biển”, được mở đầu bằng những câu ca dao:
Trần Văn Thủy (1940 - )
Nguồn: dienanh.net
Con cò lặn lội bờ sông
Cò ơi sao nỡ quên công mẹ già
Hỏi rằng ai đẻ cò ra
Mà cò lại bỏ mẹ già không nuôi
Nhớ khi đi ngược về xuôi
Mẹ đi bắt tép mẹ nuôi được cò
Cò ơi cò bạc như vôi.
Công cha nghĩa mẹ cò còn nhớ không?
À á à ơi …
Sau đó, Trần Văn Thủy mượn lời đoạn kết của bộ phim “Có Một Làng Quê” (do chính ông làm đạo diễn) để tiếp tục câu chuyện – như sau:
“... Thuở tôi còn nhỏ, gia đình tôi tản cư về quê. Người chăm lo, nuôi dậy anh em chúng tôi là một bà vú nuôi nhà quê mà chúng tôi vẫn trìu mến gọi là thím, thím Nhuận.”
“Mỗi buổi tối, sau những công việc vườn tược, xay luá, giã gạo, khi gà đã lên chuồng, thím mắc võng ra hiên nằm kể chuyện cho chúng tôi. Khi ấy tôi chưa hề biết rằng bà không biết chữ, mà chỉ thấy bà thuộc lòng những chuyện thơ dài suốt đêm này qua đêm khác.”
“Thế rồi một đêm, dưới vòm trời bí ẩn đầy những vì sao lấp lánh, trong trí tưởng tượng ấu trĩ của tôi bỗng nẩy ra một dấu hỏi to tướng về sự hữu hạn và vô hạn. Tôibắt đầu lục vấn thím tôi:
– Ði hết làng ta thì đến làng nào hả thím?
– Làng ta gọi là làng An Phú. Ði hết làng ta thì đến làng An Lễ.
– Ði hết làng An Lễ thì đến làng nào
– Ði hết làng An Lễ thì đến làng An Phong.
– Rồi đi đến đâu nữa?
– Hết làng An Phong thì đến làng An Nhân, An Ðạo.
– Ði hết làng An Ðạo thì đến đâu
– Ði hết làng An Ðạo thì đến biển.
“Bà tự tin giảng cho tôi, tôi vơ cùng khâm phục sự hiểu biết rộng lớn của bà. Bỗng tôi nhỏm dậy hỏi thím:
– Thế đi hết biển thì đến đâu hả thím?
Trong đêm tối, thím tôi im lặng. Từ ngày có trí khôn chưa bao giờ tôi thấy thím tôi buồn đến thế. Thím buồn bã trả lời:
– Ði hết biển đến đâu thì thím không biết.
Tôi dần lớn khơn và thím tôi âm thầm qua đời khi tôi ở nước ngoài. Bà không có con, phần mộ của bà thực là ảm đạm. Một lần thắp hương bên mộ thím, Tôixót xa thì thầm với thím rằng:
– Thím ơi! Cháu thương thím, vì cho đến lúc chết thím cũng không biết đi hết biển là đến đâu.
Bây giờ cháu biết rồi thím ạ. Nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình thím ạ. Cháu sẽ dành dụm để xây cho thím một ngôi mộ đàng hoàng….”

