Danchimviet - http://danchimviet.com
Trí thức và chính trị
http://danchimviet.com/articles/1191/1/Tri-thc-va-chinh-tr/Page1.html
Nguyễn Hữu Liêm

 
Tác Giả Nguyễn Hữu Liêm
Đăng/Published on 11.06.09
 
Bạn tin vào tự do ngôn luận? Hãy nói lên - đồng lúc tôn trọng ý kiến người khác và cho họ nói. Tin vào xã hội rộng mở? Hãy đấu tranh và vận động chính trị công khai. Tin vào sự thật? Hãy nói sự thật...

Nguyễn Hữu Liêm: Tuần này đánh dấu 20 năm ngày đất nước và dân tộc Ba Lan giã từ chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản. Tôi xin đăng lại luận đề ngắn mà tôi đã viết và đã đăng trên Đanchimviet.com khoảng năm năm trước, "Trí Thức và Cách Mạng: Bài học Ba Lan."

TỪ KHE HỞ CỦA NÚI ĐÁ 

Leszek Kolakowski, triết gia hàng đầu trong lịch sử cận đại Ba Lan, là người đã khai sáng nền tảng tranh đấu tri thức giữa bối cảnh khó khăn của chủ nghĩa cộng sản. Trong một luận đề ngắn viết vào đầu thập niên 1960 mang tựa đề, “The Priest and the Jester” (Mục Sư và Kẻ Đùa Chơi), Kolakowski nhấn mạnh đến sự ý thức về hiện hữu trong những tranh chấp căn bản giữa cá nhân và lịch sử. Mỗi chúng ta, Kolakowski muốn nhắc đến, đều có một khuôn khổ giá trị vượt ra khỏi cái thường nhật và tạm thời của chính trị. Cái nhìn của ông là một viễn kiến bi quan mà trong đó con người không thoát nổi những thảm họa từ bản chất của hiện hữu là khổ đau.
 
Leszek Kolakowski (1927)
Nguồn: loc.gov

Theo Kolakowski thì các triết gia của thế kỷ 20 chưa thoát khỏi võng lưới của những vấn nạn đã được đặt ra và đã từng xâu xé các thần học gia các thời đại trước. Những câu hỏi chưa được trả lời vẫn chừng đó: Có thể nào để những giá trị bất biến của con người được hiện thực hóa? Lịch sử có khả năng chuyển hóa về chân trời bình đẳng và công lý cho mọi người? Từ những câu hỏi này, ông quan niệm rằng những suy tư về lịch sử bắt nguồn từ sự thất vọng về hiện tại. Niềm hy vọng của triết sử là sự xác định và khả năng điều chỉnh những tinh hoa của con người về với thế giới thực hữu - tức là chúng ta có quyền hy vọng rằng những khao khát siêu hình có thể được chân thực hóa vào cuộc sống. Con người, Kolakowski viết tiếp, luôn bị trù đẩy vào những phạm trù mâu thuẫn vĩnh viễn giữa khuynh hướng giải thoát trong chân thiện mỹ tuyệt đối - hay là phải dấn thân vào cuộc đời và lịch sử. Có phải mỗi chúng ta, trong khoảng thời gian trăm năm cuộc sống chỉ là những mãnh vụn đơn độc, tự nó với giá trị hữu hạn, vô thuỷ, vô chung? Hay là mỗi cuộc đời là một gạch ngắn tiếp nối giữa vô cùng và hữu hạn mà tự trong mỗi chúng ta là hiện thân từ một chân lý trường cửu vượt qua khỏi thân xác và tri thức thường nghiệm?

Khi bị bao vây bởi giới hạn, và từ những thao thức không ngừng của đời sống tâm linh, con người nhìn ra cửa sổ của cuộc đời, tuyển chọn quá khứ, đăm nhìn vào hiện tại, hình dung ra tương lai, tưởng như rằng tất cả như có một sự chuyển động có trước, có sau – rồi gọi đó là lịch sử. Từ đó, ý thức về “sử định” (historical determinism) nẩy sinh. Kolakowski nhắc lại chủ thuyết căn bản của Council of Trent: Những tác động đồng thuận với ý chí bất biến của lịch sử nằm trong khuôn khổ quy định bắt nguồn từ bất biến tính đó. Con người, vì thế, có khả năng, với một ý thức đúng, nắm được đầu mối của sự chuyển động từ nguồn bất biến này trong lịch sử nhằm biến cải cuộc sống làm bàn đạp tiến đến chân trời cứu rỗi. Động cơ thần học nay trở nên biện minh chính trị. Từ đó, nhân loại bắt đầu thử nghiệm về triết học lịch sử. Và chúng ta có triết gia Georg F. Hegel.

Đối với Kolakowski thì cái mà Hegel tin tưởng là một chủ nghĩa nhất nguyên (monism) mà theo đó thì thế giới và lịch sử bắt nguồn từ một nguyên tắc đồng nhất, chuyển động theo ý chí của một tinh thần tuyệt đối. Hegel thừa hưởng gia tài thần học Cơ Đốc, gọi Thượng Đế qua một khái niệm mới: Geist (Tâm Thức). Lịch sử là sự trương mở của Tâm thức vào thời gian – mà mỗi bước đi là một bước thắng lợi cho năng lực lý tính. Thượng đế này là một tổng thể - the sum total of reality – mà tự trong chính nó mang năng động đối nghịch. Vì vậy, lịch sử là xa lộ tuyệt vọng, là tác phẩm của giảo hoạt trí năng. Trường đời là nơi tu luyện con người. Khổ đau là thử thách. Cá nhân được cứu rỗi khi nhúng tay vào thế gian ô trược, để vươn ra khỏi vũng bùn, để tìm ra chân lý qua sinh nghiệm bản thân. Từ đó, Tâm thức từ bỏ Thượng Đế nhằm để tìm ra Thượng Đế. Đây là cơ sự của hiện tượng tha hóa (alienation). Tha hóa là cần thiết để tâm thức từng trải với khổ đau, để thấm nhuần phủ định, để làm cho Thưọng Đế được tràn đầy và sung mãn hơn. Guồng máy để tiến hóa là một quá trình biện chứng qua lại, đối đãi, thanh lọc - the dialectical process. Kết quả từ biện chứng mâu thuẫn là tiến bộ mãi mãi (perpetual becoming). Chúng ta ý thức về đối tượng, và cái ý thức này biến thành một tương quan mới, một cấp độ hiện hữu mới, hợp đề. Hợp đề là kết quả của ý thức từ kinh nghiệm. Nó là Thượng Đế khám phá ra chính mình qua năng lực tự ý thức, hay là giác ngộ.

Theo Kolakowski thì Hegel là một mục sư cổ võ cho một tuyệt đối luận về lịch sử. Đó là một lịch sử có vóc dáng thần học – lịch sử là một chủ đề với những năng động có mục đích. Trong khi đó, phía còn lại của triết học là của những “những chàng đùa chơi” vốn mang hy vọng vào cứu cánh hiện hữu trong hiện tại với tri thức giới hạn của con người. Hai khuynh hướng triết học này biểu hiện cái mâu thuẫn căn bản trong đời sống tâm linh nhân loại - một sự xung đột tiềm tàng ở khắp mọi nơi của cuộc đời khi con người chìm đắm vào những xung đột trong đời sống thường nhật. Có phải gánh nặng hiện hữu của tôi đang được gánh vác cho một mục đích tối hậu và cao cả? Hay hiện hữu của tôi chỉ nằm giữa hai đầu sinh và tử, không đứng trên một nền tảng bất biến nào, và khi chết tôi sẽ không còn là gì cả?

Kolakowski tự cho mình là một jester vốn “đi giữa xã hội mà không tuỳ thuộc, coi nhẹ cuộc sống, đặt câu hỏi đối với tất cả những giá trị có vẽ hiển nhiên.” Cuộc đối chọi giữa mục sư và anh chàng đùa vui là mâu thuẫn của thiếu niên và già cả. Chàng thiếu niên, với tất cả những bồng bột, thiếu kiên nhẫn, đầy nhiệt tình muốn nhìn tất cả các khuôn mặt hiện hữu. Chàng muốn tìm một cơ năng để chuyển hóa tính ù lỳ của lịch sử. Cái ù lỳ của Kolakowski là sự hóa thạch (petrifaction) của ý thức hệ. Trong khe hở của núi đá, cây cỏ tuối trẻ mọc lên. Chàng “dâng hiến cuộc đời một ảnh tượng tích cực đánh dấu bởi những đối nghịch phải vượt qua.” Thử thách tối cần là sự trưởng thành, đơm hoa, nở trái trên sỏi đá ngặt nghèo.

Tuy nhiên, Kolakowski nhắc nhở rằng, thử thách tối hậu chính là sự không tránh khỏi từ ngay chính những năng lực này rồi cũng biến thành những tảng đá nặng, khó lay chuyển. Mục đích triết học, do đó, là sự duy trì dòng chảy tư duy mãi mãi trong những lớp đá nặng nề của cơ chế và văn hóa xã hội. Thế hệ trẻ phải nhận thức được khả năng vượt qua và chiến thắng được cái chủ nghĩa tuyệt đối thường trực đe dọa sự thăng tiến của xã hội. Tuổi trẻ xác định tính chất bất trường cửu của lịch sử. Tuổi trẻ là hiện thân của cái có thể là trong bối cảnh đối nghịch vĩnh viễn. Họ thấy được một thế giới mới mà trong đó cực đoan được dung hòa: từ ái nhưng không bỏ mặc, thông minh nhưng không tiêu cực, hy vọng mà không mù quáng; và quan trọng hơn cả: can đảm nhưng không cực đoan. 

MÀ CỎ CÂY ĐÂM CHỒI…

Cho đến năm 1946 thì Ba Lan có một cây khế ngọt đâm chồi giữa những tảng đá – chàng Adam Michnik chào đời ở Warsaw. Michnik là con của một cán bộ Cộng sản gộc, và chính Michnik cũng đã là một Marxist với tất cả những gì của cực đoan và nhiệt thành ở tuổi thiếu niên.  Nhưng khi thừa hưởng được cái gia tài trí thức sâu sắc của Kalokowski, Michnik đã biến hóa. Khi chàng ta tìm đến thư viện quốc gia Ba Lan để tìm đọc lịch sử, chàng khám phá ra cái khoảng cách khác biệt giữa thực tế và những gì được trình bày trong sách vở. Cái khoảng cách này trở nên trọng tâm suy tư cho anh. Michnik từ đó trở thành một trí thức hoạt động. Cái nguyên tắc bất bạo động kiểu Gandhi là chỉ tiêu đấu tranh cho anh. Dù bị bỏ tù bởi chế độ hơn ba năm, nhưng anh chưa lần tỏ ra giận giữ, hận thù. Chính anh đã từng nhảy vào giữa đám đông để cứu một công an khi đang bị nhân công trong phong trào Đoàn Kết đánh đập. Vào năm 1981, Michnik lại bị chế độ bỏ tù thêm ba năm nữa. Chính quyền cộng sản Ba Lan cho phép anh đi qua Tây phương để sống, nhưng anh từ chối. Anh muốn ở lại với Ba Lan. Năm 1979, Michnik nói với nhóm thợ thuyền cực đoan thuộc công đoàn Đoàn Kết rằng,
 
Adam Michnik tại Wrocław, tháng 3, 2006. Nguồn: wikipedia.org
Cho dù cái gì có xẩy ra ngày mai, tôi xin nói rằng nếu một thiên thần đòi hỏi anh hùng tính từ mọi người, nhưng nếu từ chối cái giá trị của hòa giải và chỉ nhìn thấy thế giới qua nhãn quan giản dị, chửi bới, lên án những người có ý kiến khác về thời đại, thì thiên thần đó, dù mong mỏi thiên đường, cũng chỉ đang đi về địa ngục. Cho dù cứu cánh nào đi nữa … người đó cũng chỉ gieo giống hận thù mà thôi.


Michnik đại diện cho tầng lớp tinh hoa của trí thức Ba Lan với truyền thống tiến bộ, chấp nhận khác biệt và rộng lượng với đối thủ. Người trí thức phải nuôi chí lớn thì mới không rơi vào hố hận thù và nhỏ nhen. Bị bạc đãi bởi chế độ nhưng Michnik không uất ức; được đồng đội ngưỡng mộ, nhưng không tự hào. Anh thấy được cái hố sâu tội lỗi chờ đón những kẻ chỉ thấy mình là đúng. Hãy lắng nghe Michnik,

Tôi tin rằng cái chế độ này đang đi vào ngõ cụt. Không ai còn tin những lời hứa hẹn hão huyền ở họ nữa. Họ có quyền lực để chém giết, bỏ tù, nhưng "gần như" không còn gì nữa hết. Tôi nói "gần như" vì họ vẫn còn cái khả năng truyền nhiễm qua chúng ta cái bản chất khinh bạc và hận thù của họ. Chúng ta phải mạnh để đối đầu với mối nguy truyền nhiễm đó – và đây chính là sự đấu tranh khó khăn nhất.

Nhà văn Tiệp Milan Kundera có lần nói rằng một cuốn tiểu thuyết hay không những chỉ xác nhận những gì chúng ta đã biết nhưng nó giúp ta khám phá ra những khuôn mặt mới của cuộc đời. Michnik không muốn nói theo giọng điệu của đám đông, dù họ có đúng, vì như thế chỉ như đổ thêm dầu vào lửa đã ngút ngàn. Anh nhắc nhở chúng ta, những người tranh đấu cho lý tưởng rằng, tự do có thể được bảo đảm bằng cơ chế chính trị, nhưng tự do tối hậu phải là kết quả của sự vượt thắng tinh thần.

Năm 1976, bốn năm trước khi Công đoàn Đoàn Kết ra đời, Michnik viết một tiểu luận mang tên, “A New Evolutionism” (Một Ý Thức Tiến Hóa Mới). Anh đã nhìn thấy hai thái cực của một mệnh đề chính trị khó khăn mà nhân dân Ba Lan phải đương đầu: một bên là sự vô vọng không tưởng của đấu tranh võ lực, một bên là cái nhiệt huyết tranh đấu đang vươn lên như vỡ bờ. Dân Ba Lan là một dân tộc rất lãng mạn và anh hùng, sẵn sàng chết cho niềm tin chính trị. Nhưng phải có một sinh lộ cho cách mạng - chứ không phải chỉ liều lĩnh, ngu dốt vì mù quáng hận thù. Michnik thấy từ trong kẻ nứt của núi đá chế độ cộng sản đang hé cho dân Ba Lan một khoảng trống cơ hội. Anh gọi những không gian chính trị nhỏ đó là “phạm vi của cơ hội hòa giải và tương nhượng.”

Trong những khoảng trống cơ hội hòa giải và tương nhượng nhau giữa chế độ và quần chúng đấu tranh, Michnik cổ võ một tinh thần dân chủ nội tại cho phong trào Đoàn Kết: Bạn tin vào tự do ngôn luận? Hãy nói lên - đồng lúc tôn trọng ý kiến người khác và cho họ nói. Tin vào xã hội rộng mở? Hãy đấu tranh và vận động chính trị công khai. Tin vào sự thật? Hãy nói sự thật. Tin vào một xã hội trong sạch, công bằng và nhân bản? Hãy chính mình sống công bằng, trong sạch và nhân bản. Cái cơ khổ của cuộc sống không thể đánh mất nhân phẩm con người; thù hận đối phương không làm cho họ mất đi khả năng công lý. Phải đấu tranh cho ngày mai bằng cách làm cho hôm nay tốt đẹp hơn. Đây là năng lực của một đạo đức chính trị mới trong khả thể tự do căn bản của con người trong ý thức thời đại mới.

Theo Jonathan Schell thì Michnik là một biện chứng gia: một cá nhân tin vào mãnh lực lịch sử sau lưng mỗi con người. Anh tin vào tiệm tiến của lịch sử.  Từng bước, từng bước một thì tương lai sẽ vững chắc hơn. Cái quan yếu là đừng đánh mất cơ hội tự do vì tự trong bản thân của kẻ đấu tranh đã đánh mất giá trị lý tưởng mà họ đang đấu tranh cho. Anh lên án cái tinh thần, “Biết đánh mà không biết thối; biết nổi giận nhưng không có khả năng kiên nhẫn.” Mục đích của anh là khơi sáng một nội dung anh hùng mới: tha thứ, nhượng bộ, hòa giải. Theo Schell thì lịch sử thường được dựng nên bằng những cáo trạng. Nhưng với Michnik thì ngược lại, chúng ta biết đến lịch sử nhằm để tha thứ. Anh tin vào cái mà Antoni Slonimski đặt tên là “sự khôn ngoan không giận dữ” (angerless wisdom): Sẵn sàng can đảm hành động cho niềm tin nhưng không hạ thấp nhân cách; sẵn sàng hy sinh nhưng cũng sẵn sàng tha thứ, cho bạn, cho đối phương; sẵn sàng chết nhưng không nhúng tay giết người. Tóm lại, anh nói lớn, “Bạn chiến thắng không phải vì đối phương thua, nhưng vì bạn còn trung thành với chính mình.”

Cũng như người Việt ở nước ngoài, Michnik cũng phải đương đầu với một tập thể người Ba Lan ở Tây Âu và Hoa Kỳ. Dân xa xứ thường bị ngập đầu trong cái ảo tưởng cách mạng toàn diện (maximalism). Người trong nước thì thụ động, cay đắng; kẻ bên ngoài thì ảo tưởng vô trách nhiệm. Cái cần thiết là dung hợp được giữa cái năng động cao của kẻ bên ngoài, vì họ không bị nguy hiểm, đối với sự thờ ơ thiếu can đảm của người trong nước. Đối với người bỏ nước ra đi, Michnik nhắn thế hệ trẻ rằng người xa xứ thường phải trải qua nhiều khổ nạn. Họ là kết quả của bao nhiêu là đau thương, thất vọng. Và cuối cùng họ là nạn nhân của chính họ. Anh viết trong một lá thư,

Chính quyền (Cộng Sản) muốn cho người trí thức đấu tranh di cư ra nước ngoài vì họ biết rằng chàng trí thức này, khi qua Tây Âu, chỉ ồn ào được một thời gian ngắn mà thôi. Thế giới sẽ lãng quên. Dân di cư cãi lộn với chính mình. Dân trong nước không nghe biết đến… Để rồi từ tù ngục họ đi đến số không vô nghĩa.

Michnik cũng nhắc lại một câu ngắn trong tạp chí Polityka, “There is no point in chasing after lost innocence” (Đừng phí công đi tìm lại cái ngây thơ đã mất). Cái ngây thơ cuồng nộ một cách tội nghiệp của đám đông quần chúng đều hướng về một quá khứ nào đó. Michnik nói, “Dân Ba Lan có còn khả năng cao hơn là chiến đấu, họ còn có khả năng suy luận.” Hãy nhìn chế độ độc tài như một lưỡi dao găm, anh nói. Dao có thể đâm, hay để doạ nạt. Nhưng bạn ơi hãy nhớ rằng, “Không ai có thể ngồi được trên mũi dao găm đâu.”

© 2009 Đàn Chim Việt Online