Nguyễn Hữu Liêm: Tuần này đánh dấu 20 năm ngày đất nước và dân tộc Ba Lan giã từ chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản. Tôi xin đăng lại luận đề ngắn mà tôi đã viết và đã đăng trên Đanchimviet.com khoảng năm năm trước, "Trí Thức và Cách Mạng: Bài học Ba Lan."

TỪ KHE HỞ CỦA NÚI ĐÁ 

Leszek Kolakowski, triết gia hàng đầu trong lịch sử cận đại Ba Lan, là người đã khai sáng nền tảng tranh đấu tri thức giữa bối cảnh khó khăn của chủ nghĩa cộng sản. Trong một luận đề ngắn viết vào đầu thập niên 1960 mang tựa đề, “The Priest and the Jester” (Mục Sư và Kẻ Đùa Chơi), Kolakowski nhấn mạnh đến sự ý thức về hiện hữu trong những tranh chấp căn bản giữa cá nhân và lịch sử. Mỗi chúng ta, Kolakowski muốn nhắc đến, đều có một khuôn khổ giá trị vượt ra khỏi cái thường nhật và tạm thời của chính trị. Cái nhìn của ông là một viễn kiến bi quan mà trong đó con người không thoát nổi những thảm họa từ bản chất của hiện hữu là khổ đau.
 
Leszek Kolakowski (1927)
Nguồn: loc.gov

Theo Kolakowski thì các triết gia của thế kỷ 20 chưa thoát khỏi võng lưới của những vấn nạn đã được đặt ra và đã từng xâu xé các thần học gia các thời đại trước. Những câu hỏi chưa được trả lời vẫn chừng đó: Có thể nào để những giá trị bất biến của con người được hiện thực hóa? Lịch sử có khả năng chuyển hóa về chân trời bình đẳng và công lý cho mọi người? Từ những câu hỏi này, ông quan niệm rằng những suy tư về lịch sử bắt nguồn từ sự thất vọng về hiện tại. Niềm hy vọng của triết sử là sự xác định và khả năng điều chỉnh những tinh hoa của con người về với thế giới thực hữu - tức là chúng ta có quyền hy vọng rằng những khao khát siêu hình có thể được chân thực hóa vào cuộc sống. Con người, Kolakowski viết tiếp, luôn bị trù đẩy vào những phạm trù mâu thuẫn vĩnh viễn giữa khuynh hướng giải thoát trong chân thiện mỹ tuyệt đối - hay là phải dấn thân vào cuộc đời và lịch sử. Có phải mỗi chúng ta, trong khoảng thời gian trăm năm cuộc sống chỉ là những mãnh vụn đơn độc, tự nó với giá trị hữu hạn, vô thuỷ, vô chung? Hay là mỗi cuộc đời là một gạch ngắn tiếp nối giữa vô cùng và hữu hạn mà tự trong mỗi chúng ta là hiện thân từ một chân lý trường cửu vượt qua khỏi thân xác và tri thức thường nghiệm?

Khi bị bao vây bởi giới hạn, và từ những thao thức không ngừng của đời sống tâm linh, con người nhìn ra cửa sổ của cuộc đời, tuyển chọn quá khứ, đăm nhìn vào hiện tại, hình dung ra tương lai, tưởng như rằng tất cả như có một sự chuyển động có trước, có sau – rồi gọi đó là lịch sử. Từ đó, ý thức về “sử định” (historical determinism) nẩy sinh. Kolakowski nhắc lại chủ thuyết căn bản của Council of Trent: Những tác động đồng thuận với ý chí bất biến của lịch sử nằm trong khuôn khổ quy định bắt nguồn từ bất biến tính đó. Con người, vì thế, có khả năng, với một ý thức đúng, nắm được đầu mối của sự chuyển động từ nguồn bất biến này trong lịch sử nhằm biến cải cuộc sống làm bàn đạp tiến đến chân trời cứu rỗi. Động cơ thần học nay trở nên biện minh chính trị. Từ đó, nhân loại bắt đầu thử nghiệm về triết học lịch sử. Và chúng ta có triết gia Georg F. Hegel.

Đối với Kolakowski thì cái mà Hegel tin tưởng là một chủ nghĩa nhất nguyên (monism) mà theo đó thì thế giới và lịch sử bắt nguồn từ một nguyên tắc đồng nhất, chuyển động theo ý chí của một tinh thần tuyệt đối. Hegel thừa hưởng gia tài thần học Cơ Đốc, gọi Thượng Đế qua một khái niệm mới: Geist (Tâm Thức). Lịch sử là sự trương mở của Tâm thức vào thời gian – mà mỗi bước đi là một bước thắng lợi cho năng lực lý tính. Thượng đế này là một tổng thể - the sum total of reality – mà tự trong chính nó mang năng động đối nghịch. Vì vậy, lịch sử là xa lộ tuyệt vọng, là tác phẩm của giảo hoạt trí năng. Trường đời là nơi tu luyện con người. Khổ đau là thử thách. Cá nhân được cứu rỗi khi nhúng tay vào thế gian ô trược, để vươn ra khỏi vũng bùn, để tìm ra chân lý qua sinh nghiệm bản thân. Từ đó, Tâm thức từ bỏ Thượng Đế nhằm để tìm ra Thượng Đế. Đây là cơ sự của hiện tượng tha hóa (alienation). Tha hóa là cần thiết để tâm thức từng trải với khổ đau, để thấm nhuần phủ định, để làm cho Thưọng Đế được tràn đầy và sung mãn hơn. Guồng máy để tiến hóa là một quá trình biện chứng qua lại, đối đãi, thanh lọc - the dialectical process. Kết quả từ biện chứng mâu thuẫn là tiến bộ mãi mãi (perpetual becoming). Chúng ta ý thức về đối tượng, và cái ý thức này biến thành một tương quan mới, một cấp độ hiện hữu mới, hợp đề. Hợp đề là kết quả của ý thức từ kinh nghiệm. Nó là Thượng Đế khám phá ra chính mình qua năng lực tự ý thức, hay là giác ngộ.

Theo Kolakowski thì Hegel là một mục sư cổ võ cho một tuyệt đối luận về lịch sử. Đó là một lịch sử có vóc dáng thần học – lịch sử là một chủ đề với những năng động có mục đích. Trong khi đó, phía còn lại của triết học là của những “những chàng đùa chơi” vốn mang hy vọng vào cứu cánh hiện hữu trong hiện tại với tri thức giới hạn của con người. Hai khuynh hướng triết học này biểu hiện cái mâu thuẫn căn bản trong đời sống tâm linh nhân loại - một sự xung đột tiềm tàng ở khắp mọi nơi của cuộc đời khi con người chìm đắm vào những xung đột trong đời sống thường nhật. Có phải gánh nặng hiện hữu của tôi đang được gánh vác cho một mục đích tối hậu và cao cả? Hay hiện hữu của tôi chỉ nằm giữa hai đầu sinh và tử, không đứng trên một nền tảng bất biến nào, và khi chết tôi sẽ không còn là gì cả?

Kolakowski tự cho mình là một jester vốn “đi giữa xã hội mà không tuỳ thuộc, coi nhẹ cuộc sống, đặt câu hỏi đối với tất cả những giá trị có vẽ hiển nhiên.” Cuộc đối chọi giữa mục sư và anh chàng đùa vui là mâu thuẫn của thiếu niên và già cả. Chàng thiếu niên, với tất cả những bồng bột, thiếu kiên nhẫn, đầy nhiệt tình muốn nhìn tất cả các khuôn mặt hiện hữu. Chàng muốn tìm một cơ năng để chuyển hóa tính ù lỳ của lịch sử. Cái ù lỳ của Kolakowski là sự hóa thạch (petrifaction) của ý thức hệ. Trong khe hở của núi đá, cây cỏ tuối trẻ mọc lên. Chàng “dâng hiến cuộc đời một ảnh tượng tích cực đánh dấu bởi những đối nghịch phải vượt qua.” Thử thách tối cần là sự trưởng thành, đơm hoa, nở trái trên sỏi đá ngặt nghèo.

Tuy nhiên, Kolakowski nhắc nhở rằng, thử thách tối hậu chính là sự không tránh khỏi từ ngay chính những năng lực này rồi cũng biến thành những tảng đá nặng, khó lay chuyển. Mục đích triết học, do đó, là sự duy trì dòng chảy tư duy mãi mãi trong những lớp đá nặng nề của cơ chế và văn hóa xã hội. Thế hệ trẻ phải nhận thức được khả năng vượt qua và chiến thắng được cái chủ nghĩa tuyệt đối thường trực đe dọa sự thăng tiến của xã hội. Tuổi trẻ xác định tính chất bất trường cửu của lịch sử. Tuổi trẻ là hiện thân của cái có thể là trong bối cảnh đối nghịch vĩnh viễn. Họ thấy được một thế giới mới mà trong đó cực đoan được dung hòa: từ ái nhưng không bỏ mặc, thông minh nhưng không tiêu cực, hy vọng mà không mù quáng; và quan trọng hơn cả: can đảm nhưng không cực đoan.