Danchimviet - http://danchimviet.com
Chất Độc Màu Da Cam – Ignorance is a curse
http://danchimviet.com/articles/117/1/Cht-c-Mau-Da-Cam--Ignorance-is-a-curse/TrangPage1.html
Huỳnh Kim Khánh

 

 
Tác Giả: Huỳnh Kim Khánh
Đăng lên/Published on 04.07.08
 
Theo dự toán tài chính được đề ra, dự án này sẽ nhận được một triệu USD mỗi năm trong vòng ba năm, tuy nhiên trước đó, viện NIEHS sẽ cung cấp $300000 USD cho một cuộc nghiên cứu sơ khởi để xác nhận là có thể đo được mức độ dioxin trong người các phụ nữ Việt Nam. Mặc dù cuộc nghiên cứu sơ khởi này cần được thực hiện vì lý do khoa học, điều này không được giải thích rõ ràng cho các viên chức Việt Nam, và họ xem đó như là một sự khinh rẻ từ phía Mỹ.

Curse: The cause of great harm, evil, or misfortune; that which brings evil or severe affliction; torment. “The common curse of mankind, folly and ignorance.” --Shakespeare.

Mùa Xuân năm 2002, Viện Nghiên Cứu Sức Khỏe và Môi Sinh Quốc Gia Mỹ (US National Institute of Environmental Health Sciences, NIEHS) tổ chức một hội nghị khoa học về ảnh hưởng sức khỏe và môi sinh của Agent Orange/Dioxin (Chất Độc Màu Da Cam) tại Hà Nội. Sau lần gặp gỡ giữa hai chính phủ Mỹ và Việt Nam tại Hà Nội vào tháng 7 năm 2001, hội nghị này là một trong hai đề án đã được hai phía đồng ý. Hội nghị kéo dài 4 ngày, với sự tham dự của các chuyên gia nghiên cứu về chất độc, môi sinh, và dịch tễ từ 13 nước khác nhau. Sau hội nghị, Mỹ và Việt Nam đã ký một bản thông cáo chính thức hình thành một chương trình hợp tác nghiên cứu về tác hại của thuốc khai quang Agent Orange/dioxin đối với sức khỏe và môi sinh. Theo thông cáo báo chí ngày 10/03/2002, tiến sĩ Anne Sassaman, giám đốc phân bộ hợp tác nghiên cứu của Viện US-NIEHS, và tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, giám đốc Cơ Quan Môi Sinh Quốc Gia Việt Nam, đã cùng ký một văn bản tóm tắt cơ cấu của chương trình hợp tác nghiên cứu. Một ủy ban cố vấn Mỹ-Việt sẽ được thiết lập để điều hợp các chuyến viếng thăm, hội thảo và trao đổi của các chuyên gia nghiên cứu cùng các nghiên cứu sinh giữa hai nước.


Thông cáo báo chí của viện US-NIEHS ngày 10/03/2002 về chương trình nghiên cứu Việt-Mỹ

Tuần báo khoa học Nature (Nature Publishing Group) trong số 422 và 434 nói về tiến triễn của chương trình này.

Báo Nature số 422, trang 793, ngày 24/4/2003  - Declan Butler
Tròn một năm sau khi Mỹ và Việt Nam đồng ý mở chương trình nghiên cứu song phương đầu tiên để tìm hiểu về tác hại sức khỏe và môi sinh của thuốc khai quang Agent Orange, bước tiến này vẫn chôn chân tại chỗ. Cho đến này, cả hai nước vẫn chưa thiết lập được một ủy ban cố vấn chung để điều hợp chương trình nghiên cứu cũng như đưa ra nội quy cho dự án. Theo lời Anne Sassaman (giám đốc tại viện Nghiên Cứu Sức Khỏe và Môi Sinh Quốc Gia Mỹ, NIEHS, và là người ký tên trong bản thông cáo cùng với Nguyễn Ngọc Sinh, giám đốc Cơ Quan Môi Sinh Quốc Gia Việt Nam), một phái đoàn Việt Nam đã viếng thăm Mỹ tháng 9 năm 2002, và ngay tháng sau bà Sassaman đã đến Việt Nam để xúc tiến dự án nghiên cứu. Tuy nhiên, từ đó đến nay, phía Việt Nam không có liên lạc gì thêm. Một tháng trước, đại sứ Mỹ tại Hà Nội, ông Raymond Burghardt, đã viết thư cho phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu ông xúc tiến dự án trên. Các chuyên gia nghiên cứu và đại diện chính quyền Việt Nam, kể cả ông Sinh, đã không trả lời về yêu cầu cho biết dự tính của phía Việt Nam.

Báo Nature số 434, trang 687, ngày 07/4/2005 -  Declan Butler
Một chương trình nghiên cứu tìm hiểu về tác hại sức khỏe và môi sinh của thuốc khai quang Agent Orange đã bị hủy bỏ ngay trong trứng nước. Các khoa học gia cho rằng dự án bị hủy bỏ phần lớn là vì sự khác biệt văn hóa, thiếu liên lạc đôi bên, và sự nghi kỵ thâm căn giữa chính phủ Việt Nam và Mỹ. Agent Orange được Mỹ dùng làm thuốc khai quang trong cuộc chiến Việt Nam. Từ khi cuộc chiến chấm dứt vào năm 1975, Việt Nam có số khuyết tật bẩm sinh cao – có vùng nhiều gấp 2, 3 lần bình thường, một di chứng mà Việt Nam cho là do hậu quả của thuốc khai quang. Thuốc khai quang Agent Orange bị nhiễm dioxin, một hóa chất khá độc. Thế nhưng cho đến nay mối liên hệ giữa độc chất dioxin và khuyết tật bẫm sinh vẫn được xem là thiếu cơ sở vì không đủ tài liệu nghiên cứu dịch tễ đáng tin cậy. Những dự án nghiên cứu như thế khó được thực hiện, một phần vì mỗi một mẫu thử dioxin tốn $1400 USD.

Dự án hợp tác nghiên cứu Mỹ-Việt nêu trên dự định sẽ phân tích mức độ dioxin trong người 300 bà mẹ có con mang khuyết tật bẫm sinh, cùng với 300 bà mẹ có con khỏe mạnh. Dự án này đã được chấp thuận bởi viện Nghiên Cứu Sức Khỏe và Môi Sinh quốc gia Mỹ (NIEHS) vào tháng 5, năm 2003. Nhưng đến tháng 3 năm 2005, viện NIEHS đã hủy bỏ dự án trên vì sau hai năm chờ đợi, bộ y tế Việt Nam vẫn chưa chấp thuận phương pháp nghiên cứu cần thiết để tiến hành theo chương trình. David Carpenter, người dẫn đầu dự án và là một chuyên gia nghiên cứu môi sinh tại trường đại học Albany (New York) cho hay dự án này bị “hại” bởi sự thiếu thông hiểu nhau giữa hai nền văn hóa khác biệt, gây nên nhiều ngộ nhận từ đầu. Theo dự toán tài chính được đề ra, dự án này sẽ nhận được một triệu USD mỗi năm trong vòng ba năm, tuy nhiên trước đó, viện NIEHS sẽ cung cấp $300000 USD cho một cuộc nghiên cứu sơ khởi để xác nhận là có thể đo được mức độ dioxin trong người các phụ nữ Việt Nam. Mặc dù cuộc nghiên cứu sơ khởi này cần được thực hiện vì lý do khoa học, điều này không được giải thích rõ ràng cho các viên chức Việt Nam, và họ xem đó như là một sự khinh rẻ từ phía Mỹ.

Theo lời JM Stellman, một khoa học gia tại trường đại học Columbia (New York), “Viện NIEHS nhấn mạnh việc theo sát phương pháp đề ra để bảo đảm kết quả xác thực; phía Việt Nam một là không hiểu tầm quan trọng của điều này khi họ đồng ý ban đầu, hoặc họ chỉ đơn thuần không muốn”. Stellman đã từng đăng một bài nghiên cứu vào năm 2003 về bản đồ rải thuốc khai quang tại Việt Nam.

Anne Sassaman, một giám đốc tại viện NIEHS, nói thêm về quyết định hủy bỏ dự án. Bà cho hay sự tiến triễn của dự án quá ít, mặc dù viên chức NIEHS đã đến Việt Nam nhiều chuyến, và đã có ba phái đoàn Việt Nam đến thăm viện NIEHS. Thỏa ước hợp tác nghiên cứu giữa hai nước vẫn còn hiệu lực, và bà hy vọng những đề án nghiên cứu khác về Agent Orange sẽ được thực hiện trong tương lai, và viện NIEHS sẽ sẳn sàng tài trợ cho các dự án ấy. Tuy nhiên các chuyên gia có liên hệ với chương trình nghiên cứu trên cho rằng dự án Agent Orange được viện NIEHS xem như một thí điểm, cho nên một thất bại như thế sẽ khiến họ khó chấp thuận dự án mới.

Dự án nêu trên, nếu thực hiện, có thể đưa ra bằng chứng cho một vụ kiện tập thể, mà nguyên đơn là hàng triệu người Việt Nam, và bị cáo là các công ty Mỹ từng chế thuốc Agent Orange. Vụ kiện này đã bị một quan tòa Mỹ bác đơn vào ngày 10 tháng 3, 2005 với lý do rằng việc dùng thuốc khai quang tại Việt Nam không thể bị xem như một tội trạng chiến tranh.

Hai giả định dẫn đến thất bại của chương trình nghiên cứu về chất độc màu Da Cam, mà chúng ta có thể nôm na nói là: thiếu hiểu biết là một tai hại (Igorance is a curse). -- Huỳnh Kim Khánh

Thiếu hiểu biết phương pháp nghiên cứu khoa học

Trong tất cả nghiên cứu khoa học sơ đẳng của phương Tây bắt đầu theo trình tự: giả thuyết, lý thuyết và quy luật. Bất cứ cuộc nghiên cứu nào cũng dựa trên quan sát, bằng chứng và sau cùng là giải pháp. Sự khác biệt trong phương pháp làm việc dẫn đến hiểu lầm tai hại khi nhà chức trách Việt Nam cho rằng Mỹ khinh rẻ - hoặc thiếu tôn trọng họ trong vấn đề nghiên cứu. Bất cứ chương trình nghiên cứu hàn lâm nào tại Hoa Kỳ cũng theo một phương pháp và trình tự nhất định. Khi các khoa học gia xin tài trợ từ cơ quan NIEHS cho chương trình nghiên cứu thử nghiệm chất độc màu Da Cam chắc chắc đã ghi rõ tiến trình, phương thức nghiên cứu và giải pháp. Nên khi các nhà chức trách Việt Nam không theo phương thức và thủ tục đòi hỏi thì mọi việc coi như chấm dứt.

Nếu Việt Nam tìm hiểu và chịu hợp tác với những yêu cầu của NIEHS thì chỉ có lợi. Thứ nhất, nếu cuộc thử nghiệm với 600 phụ nữ Việt Nam không đem lại kết quả như giả thuyết thì chính quyền Việt Nam có thể an tâm vì không phải lo lắng đến những độc hại về sức khoẻ của người dân. Thứ hai, nếu tìm ra độc tố tác hại như giả thuyết do ảnh hưởng chiến tranh, thì dùng kết quả nầy mà kiện các công ty bào chế thuốc khai quang tại Hoa Kỳ. Thứ ba, đây là cơ hội trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và nghiên cứu cho hai bên: Việt - Mỹ, chắc sẽ có nhiều khoa học gia Việt Nam được đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài.

Thiếu hiểu biết phương cách làm việc của cơ quan tư pháp Hoa Kỳ

Vụ kiện tập thể của hàng triệu người Việt Nam bị toà án Hoa Kỳ bác đơn vì không thể dựa trên việc bồi thường của các công ty bào chế thuốc khai quang cho các cựu chiến binh Hoa Kỳ sau năm 1975 làm nền tảng. Đây là cuộc thương lượng dàn xếp ngoài toà. Các công ty trên tránh dư luận quần chúng và sợ ảnh hưởng đến thương mại nên dàn xếp bồi thường để tránh rắc rối. Điều nầy khác hẳn với việc ra toà. Muốn kiện một công ty chế tạo chất khai quang của Mỹ, người Việt Nam cần nghiên cứu nhiều hơn về luật pháp Hoa Kỳ. Người Mỹ bồi thường cho cựu chiến binh của họ một phần vì trách nhiệm và muốn làm nhẹ bớt vết thương chiến tranh. Chấp nhận ra toà hay bồi thường cho người Việt Nam với những lập luận chưa có bằng chứng khoa học hẳn hoi là điều khó thể xảy ra. Cho đến nay, bản báo cáo “Cựu Chiến Binh và Agent Orange” mới nhất (2004) của hàn lâm viện Y Khoa Mỹ kết luận rằng có đủ bằng chứng cho thấy có sự liên hệ giữa thuốc khai quang và bốn chứng ung thư (chronic lymphocytic leukemia, soft-tissue sarcoma, non-Hodgkin’s lymphoma, Hodgkin’s disease), và chứng ung nhọt (chloracne). Nói về ảnh hưởng đối với khuyết/dị tật bẩm sinh của con cái cựu chiến binh, bản báo cáo tìm thấy bằng chứng giới hạn giữa thuốc khai quang và chứng hở cột sống (spina bifida), nhưng không tìm thấy đủ bằng chứng đối với các khuyết tật bẩm sinh khác. Với những phân tích trên, muốn thuyết phục tòa án Hoa Kỳ chấp nhận vụ kiện này, các đương đơn cần thu thập đầy đủ bằng chứng qua những nghiên cứu khoa học hữu hiệu hơn.

Trong những ngày sắp tới chắc sẽ có tiến triển thêm về chương trình nghiên cứu khoa học về chất độc màu da cam. Muốn được Hoa Kỳ tài trợ cho chương trình nghiên cứu thử nghiệm chất độc màu da cam và muốn các công ty bào chế thuốc khai quang bồi thường nạn nhân bị ảnh hưởng, các nhà chức trách Việt Nam cần xem lại câu nói người xưa: “Biết địch biết ta – trăm trận trăm thắng”. Bằng không, thiếu hiểu biết là một tai hại.


© danchimviet.com