Theo
dự toán tài chính được đề ra, dự án này sẽ nhận được một triệu USD mỗi năm
trong vòng ba năm, tuy nhiên trước đó, viện NIEHS sẽ cung cấp $300000 USD cho
một cuộc nghiên cứu sơ khởi để xác nhận là có thể đo được mức độ dioxin trong
người các phụ nữ Việt Nam. Mặc dù cuộc nghiên cứu sơ khởi này cần được thực
hiện vì lý do khoa học, điều này không được giải thích rõ ràng cho các viên
chức Việt Nam, và họ xem đó như
là một sự khinh rẻ từ phía Mỹ.
Curse: The cause of great harm, evil, or misfortune; that
which brings evil or severe affliction; torment. “The common curse of mankind,
folly and ignorance.” --Shakespeare.
Mùa Xuân năm 2002, Viện Nghiên Cứu Sức Khỏe và Môi Sinh Quốc
Gia Mỹ (US National Institute of Environmental Health Sciences, NIEHS) tổ chức
một hội nghị khoa học về ảnh hưởng sức khỏe và môi sinh của Agent Orange/Dioxin
(Chất Độc Màu Da Cam) tại Hà Nội. Sau lần gặp gỡ giữa hai chính phủ Mỹ và Việt
Nam tại Hà Nội vào tháng 7 năm 2001, hội nghị này là một trong hai đề án đã
được hai phía đồng ý. Hội nghị kéo dài 4 ngày, với sự tham dự của các chuyên
gia nghiên cứu về chất độc, môi sinh, và dịch tễ từ 13 nước khác nhau. Sau hội
nghị, Mỹ và Việt Nam
đã ký một bản thông cáo chính thức hình thành một chương trình hợp tác nghiên
cứu về tác hại của thuốc khai quang Agent Orange/dioxin đối với sức khỏe và môi
sinh. Theo thông cáo báo chí ngày 10/03/2002, tiến sĩ Anne Sassaman, giám đốc
phân bộ hợp tác nghiên cứu của Viện US-NIEHS, và tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, giám
đốc Cơ Quan Môi Sinh Quốc Gia Việt Nam, đã cùng ký một văn bản tóm tắt cơ cấu
của chương trình hợp tác nghiên cứu. Một ủy ban cố vấn Mỹ-Việt sẽ được thiết
lập để điều hợp các chuyến viếng thăm, hội thảo và trao đổi của các chuyên gia
nghiên cứu cùng các nghiên cứu sinh giữa hai nước.
Tuần báo khoa học Nature (Nature Publishing Group) trong số 422 và
434 nói về tiến triễn của chương trình này.
Báo Nature số 422, trang 793, ngày 24/4/2003- Declan Butler Tròn một năm sau khi Mỹ và Việt Nam đồng ý mở chương trình
nghiên cứu song phương đầu tiên để tìm hiểu về tác hại sức khỏe và môi sinh của
thuốc khai quang Agent Orange, bước tiến này vẫn chôn chân tại chỗ. Cho đến
này, cả hai nước vẫn chưa thiết lập được một ủy ban cố vấn chung để điều hợp
chương trình nghiên cứu cũng như đưa ra nội quy cho dự án. Theo lời Anne
Sassaman (giám đốc tại viện Nghiên Cứu Sức Khỏe và Môi Sinh Quốc Gia Mỹ, NIEHS,
và là người ký tên trong bản thông cáo cùng với Nguyễn Ngọc Sinh, giám đốc Cơ
Quan Môi Sinh Quốc Gia Việt Nam), một phái đoàn Việt Nam đã viếng thăm Mỹ tháng
9 năm 2002, và ngay tháng sau bà Sassaman đã đến Việt Nam để xúc tiến dự án
nghiên cứu. Tuy nhiên, từ đó đến nay, phía Việt Nam
không có liên lạc gì thêm. Một tháng trước, đại sứ Mỹ tại Hà Nội, ông Raymond
Burghardt, đã viết thư cho phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu ông xúc tiến
dự án trên. Các chuyên gia nghiên cứu và đại diện chính quyền Việt Nam,
kể cả ông Sinh, đã không trả lời về yêu cầu cho biết dự tính của phía Việt Nam.
Báo Nature số 434, trang 687, ngày 07/4/2005 -Declan Butler Một chương trình nghiên cứu tìm hiểu về tác hại sức khỏe và
môi sinh của thuốc khai quang Agent Orange đã bị hủy bỏ ngay trong trứng nước.
Các khoa học gia cho rằng dự án bị hủy bỏ phần lớn là vì sự khác biệt văn hóa,
thiếu liên lạc đôi bên, và sự nghi kỵ thâm căn giữa chính phủ Việt Nam
và Mỹ. Agent Orange được Mỹ dùng làm thuốc khai quang trong cuộc chiến Việt Nam.
Từ khi cuộc chiến chấm dứt vào năm 1975, Việt Nam
có số khuyết tật bẩm sinh cao – có vùng nhiều gấp 2, 3 lần bình thường, một di
chứng mà Việt Nam
cho là do hậu quả của thuốc khai quang. Thuốc khai quang Agent Orange bị nhiễm
dioxin, một hóa chất khá độc. Thế nhưng cho đến nay mối liên hệ giữa độc chất
dioxin và khuyết tật bẫm sinh vẫn được xem là thiếu cơ sở vì không đủ tài liệu
nghiên cứu dịch tễ đáng tin cậy. Những dự án nghiên cứu như thế khó được thực
hiện, một phần vì mỗi một mẫu thử dioxin tốn $1400 USD.
Dự án hợp tác nghiên cứu Mỹ-Việt nêu trên dự định sẽ phân
tích mức độ dioxin trong người 300 bà mẹ có con mang khuyết tật bẫm sinh, cùng
với 300 bà mẹ có con khỏe mạnh. Dự án này đã được chấp thuận bởi viện Nghiên
Cứu Sức Khỏe và Môi Sinh quốc gia Mỹ (NIEHS) vào tháng 5, năm 2003. Nhưng đến
tháng 3 năm 2005, viện NIEHS đã hủy bỏ dự án trên vì sau hai năm chờ đợi, bộ y
tế Việt Nam vẫn chưa chấp thuận phương pháp nghiên cứu cần thiết để tiến hành
theo chương trình. David Carpenter, người dẫn đầu dự án và là một chuyên gia
nghiên cứu môi sinh tại trường đại học Albany (New York) cho hay dự án này bị
“hại” bởi sự thiếu thông hiểu nhau giữa hai nền văn hóa khác biệt, gây nên
nhiều ngộ nhận từ đầu. Theo dự toán tài chính được đề ra, dự án này sẽ nhận
được một triệu USD mỗi năm trong vòng ba năm, tuy nhiên trước đó, viện NIEHS sẽ
cung cấp $300000 USD cho một cuộc nghiên cứu sơ khởi để xác nhận là có thể đo
được mức độ dioxin trong người các phụ nữ Việt Nam. Mặc dù cuộc nghiên cứu sơ
khởi này cần được thực hiện vì lý do khoa học, điều này không được giải thích
rõ ràng cho các viên chức Việt Nam,
và họ xem đó như là một sự khinh rẻ từ phía Mỹ.
Theo lời JM Stellman, một khoa học gia tại trường đại học Columbia
(New York), “Viện NIEHS nhấn mạnh
việc theo sát phương pháp đề ra để bảo đảm kết quả xác thực; phía Việt Nam
một là không hiểu tầm quan trọng của điều này khi họ đồng ý ban đầu, hoặc họ
chỉ đơn thuần không muốn”. Stellman đã từng đăng một bài nghiên cứu vào năm
2003 về bản đồ rải thuốc khai quang tại Việt Nam.
Anne Sassaman, một giám đốc tại viện NIEHS, nói thêm về
quyết định hủy bỏ dự án. Bà cho hay sự tiến triễn của dự án quá ít, mặc dù viên
chức NIEHS đã đến Việt Nam
nhiều chuyến, và đã có ba phái đoàn Việt Nam
đến thăm viện NIEHS. Thỏa ước hợp tác nghiên cứu giữa hai nước vẫn còn hiệu
lực, và bà hy vọng những đề án nghiên cứu khác về Agent Orange sẽ được thực
hiện trong tương lai, và viện NIEHS sẽ sẳn sàng tài trợ cho các dự án ấy. Tuy
nhiên các chuyên gia có liên hệ với chương trình nghiên cứu trên cho rằng dự án
Agent Orange được viện NIEHS xem như một thí điểm, cho nên một thất bại như thế
sẽ khiến họ khó chấp thuận dự án mới.
Dự án nêu trên, nếu thực hiện, có thể đưa ra bằng chứng cho
một vụ kiện tập thể, mà nguyên đơn là hàng triệu người Việt Nam,
và bị cáo là các công ty Mỹ từng chế thuốc Agent Orange. Vụ kiện này đã bị một
quan tòa Mỹ bác đơn vào ngày 10 tháng 3, 2005 với lý do rằng việc dùng thuốc
khai quang tại Việt Nam không thể bị xem như một tội trạng chiến tranh.
Hai giả định dẫn đến thất bại của chương trình nghiên cứu về
chất độc màu Da Cam, mà chúng ta có thể nôm na nói là: thiếu hiểu biết là một
tai hại (Igorance is a curse). -- Huỳnh Kim Khánh
Thiếu hiểu biết phương pháp nghiên cứu khoa học
Trong tất cả nghiên cứu khoa học sơ đẳng của phương Tây bắt
đầu theo trình tự: giả thuyết, lý thuyết và quy luật. Bất cứ cuộc nghiên cứu
nào cũng dựa trên quan sát, bằng chứng và sau cùng là giải pháp. Sự khác biệt
trong phương pháp làm việc dẫn đến hiểu lầm tai hại khi nhà chức trách Việt Nam
cho rằng Mỹ khinh rẻ - hoặc thiếu tôn trọng họ trong vấn đề nghiên cứu. Bất cứ
chương trình nghiên cứu hàn lâm nào tại Hoa Kỳ cũng theo một phương pháp và
trình tự nhất định. Khi các khoa học gia xin tài trợ từ cơ quan NIEHS cho
chương trình nghiên cứu thử nghiệm chất độc màu Da Cam chắc chắc đã ghi rõ tiến
trình, phương thức nghiên cứu và giải pháp. Nên khi các nhà chức trách Việt Nam
không theo phương thức và thủ tục đòi hỏi thì mọi việc coi như chấm dứt.
Nếu Việt Nam
tìm hiểu và chịu hợp tác với những yêu cầu của NIEHS thì chỉ có lợi. Thứ nhất,
nếu cuộc thử nghiệm với 600 phụ nữ Việt Nam
không đem lại kết quả như giả thuyết thì chính quyền Việt Nam
có thể an tâm vì không phải lo lắng đến những độc hại về sức khoẻ của người
dân. Thứ hai, nếu tìm ra độc tố tác hại như giả thuyết do ảnh hưởng chiến
tranh, thì dùng kết quả nầy mà kiện các công ty bào chế thuốc khai quang tại
Hoa Kỳ. Thứ ba, đây là cơ hội trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và nghiên cứu cho
hai bên: Việt - Mỹ, chắc sẽ có nhiều khoa học gia Việt Nam được đi làm nghiên
cứu sinh ở nước ngoài.
Thiếu hiểu biết phương cách làm việc của cơ quan tư pháp Hoa
Kỳ
Vụ kiện tập thể của hàng triệu người Việt Nam
bị toà án Hoa Kỳ bác đơn vì không thể dựa trên việc bồi thường của các công ty
bào chế thuốc khai quang cho các cựu chiến binh Hoa Kỳ sau năm 1975 làm nền
tảng. Đây là cuộc thương lượng dàn xếp ngoài toà. Các công ty trên tránh dư
luận quần chúng và sợ ảnh hưởng đến thương mại nên dàn xếp bồi thường để tránh
rắc rối. Điều nầy khác hẳn với việc ra toà. Muốn kiện một công ty chế tạo chất
khai quang của Mỹ, người Việt Nam cần nghiên cứu nhiều hơn về luật pháp Hoa Kỳ.
Người Mỹ bồi thường cho cựu chiến binh của họ một phần vì trách nhiệm và muốn
làm nhẹ bớt vết thương chiến tranh. Chấp nhận ra toà hay bồi thường cho người Việt
Nam với những
lập luận chưa có bằng chứng khoa học hẳn hoi là điều khó thể xảy ra. Cho đến
nay, bản báo cáo “Cựu Chiến Binh và Agent Orange” mới nhất (2004) của hàn lâm
viện Y Khoa Mỹ kết luận rằng có đủ bằng chứng cho thấy có sự liên hệ giữa thuốc
khai quang và bốn chứng ung thư (chronic lymphocytic leukemia, soft-tissue
sarcoma, non-Hodgkin’s lymphoma, Hodgkin’s disease), và chứng ung nhọt
(chloracne). Nói về ảnh hưởng đối với khuyết/dị tật bẩm sinh của con cái cựu
chiến binh, bản báo cáo tìm thấy bằng chứng giới hạn giữa thuốc khai quang và
chứng hở cột sống (spina bifida), nhưng không tìm thấy đủ bằng chứng đối với
các khuyết tật bẩm sinh khác. Với những phân tích trên, muốn thuyết phục tòa án
Hoa Kỳ chấp nhận vụ kiện này, các đương đơn cần thu thập đầy đủ bằng chứng qua
những nghiên cứu khoa học hữu hiệu hơn.
Trong những ngày sắp tới chắc sẽ có tiến triển thêm về
chương trình nghiên cứu khoa học về chất độc màu da cam. Muốn được Hoa Kỳ tài
trợ cho chương trình nghiên cứu thử nghiệm chất độc màu da cam và muốn các công
ty bào chế thuốc khai quang bồi thường nạn nhân bị ảnh hưởng, các nhà chức
trách Việt Nam
cần xem lại câu nói người xưa: “Biết địch biết ta – trăm trận trăm thắng”. Bằng
không, thiếu hiểu biết là một tai hại.