- Trang Chủ
- Tác Giả và Tác Phẩm
- Nhà thơ Qua Quang Tuyến
Nhà thơ Qua Quang Tuyến
- Tác Giả: Chân Phương
- Đăng ngày 05.07.08
- Tác Giả và Tác Phẩm
- Chưa xếp hạng
TẠM
KẾT
Vì sống
với ngôn từ như là cứu cánh và chất liệu sáng tạo, có thể nói nhà thơ là chủ thể có ý thức cao nhất trong giới văn nghệ
nói chung. Không là một cái Tôi biệt lập mà là sự tổng hòa năng lực nơi giao
thoa, hội ngộ, tranh biện của nhiều chủ thể và nhân cách trong quá trình sinh
thành và thăng hoa. Tóm lại, nhà thơ không là một cá tính định hình bất biến mà
là một DỰ ÁN CAO CẤP của BIỆN CHỨNG NHÂN TÍNH.
Tưởng tượng một cái máy siêu quang tuyến vừa được phát minh cho giới lý luận văn học soi rọi các phần cấu tạo vô hình của nhà thơ. Trong lăng kính tối tân ấy sẽ hiện ra ba kích thước: 1- THI CÔNG, 2- THI SĨ, 3- THI NHÂN. Tôi xin lần lượt phác họa các điểm này .
I. Thi Công
Thi công là đặc điểm
dễ thấy nhất. Lê Đạt từng gọi hắn là phu
chữ. Cũng như nhạc công, họa công, thủ công…thi công là kẻ có tay nghề cao
về mặt thi pháp với ngữ văn, ngày đêm ăn nằm với các loại sách từ điển , ngữ
pháp, phong cách học. Không chỉ sống chết với Tiếng Mẹ, hắn còn phải khảo cứu Tiếng Bà (cổ văn, ngữ nguyên học,
dân tộc học ngôn ngữ …). Chưa đủ, hắn chịu khó học ngoại ngữ và làm dịch thuật,
đặc biệt là tuyển dịch thơ nước ngoài (trong lịch sử thi ca hiện đại các nhà
thơ lớn phần nhiều cũng là những dịch giả lớn).
Đây còn là một bí quyết của nghề thơ vì người nào không rành ngoại ngữ sẽ chẳng am hiểu được tiếng mẹ đẻ của
mình (Goethe).
Thời đại toàn cầu
hóa buộc các phu chữ phải đi xa hơn truyền thống. Bên cạnh các thi luật và thể
thơ Đông Á (lục bát, hài cú, từ phú, niêm luật Hán-Việt) họ có thể học hỏi ở pantoum mã lai hoặc ghazal á rập… Thi học phương Tây là một kho tàng còn chờ chúng ta
khai phá với hàng núi tài liệu biên khảo công phu từ Phục Hưng đến nay. Nhưng
cái thần của tiếng Việt với ngữ điệu (prosodie) xuyên thời gian của nó vẫn tiềm
tàng trong thành ngữ, trong ca dao tục ngữ, hay hiện hình sinh động trong khẩu
ngữ thường ngày. Cái mà nhiều nhà thơ như Hoàng Hưng vẫn gọi là nhạc tính của
tiếng Việt thật ra chính là ngữ điệu. Vì phần lớn các nhà thơ VN đã quay lưng với
vần điệu trong cuộc phiêu lưu phá thể luật của thơ tự do và thơ văn xuôi nên
công việc tìm hiểu cặn kẽ về ngữ điệu tiếng Việt là yêu cầu sống còn. Thiếu phần
tri kiến này chúng ta sẽ đứng trước nguy cơ của một nền thơ của người câm điếc!
Người làm thơ không thể dốt nhạc vì thi ca với âm nhạc chia chung một linh hồn: Nhịp Điệu (rythme); cũng
như không thể dốt hội họa vì lẽ thi trung
hữu họa. Nói gọn như Ezra Pound từng khái quát: người làm thơ phải nắm được
hai lợi khí của nghệ thuật thi ca là melopoiea
(thi pháp của nhạc điệu) và phanopoiea (thi pháp của hình tượng).(1)
Chúng ta vừa bàn
qua công việc và nỗi đam mê của đám phu chữ trong việc rèn luyện tay nghề với đồ
nghề. Hơn ai hết những vị này làm đúng theo câu phán của Mallarmé: Thi sĩ làm thơ với chữ, không làm thơ với ý.
Nhưng nếu coi lời dạy này là chân lý duy nhất của nghề thơ thì nguy to! Và lại
rơi vào tật giản lược hóa quen thuộc của kẻ lười suy nghĩ. Đâu đó trong cuốn Đấng
Tiên Tri, Kahlil Gibran đã cảnh giác rằng: Nếu bị giam trong cái lồng chữ, tư tưởng -vốn là con chim của không
gian- vẫn có thể dang mở đôi cánh của nó nhưng sẽ không thể bay đi.
II. Thi sĩ
Thi sĩ là kẻ sĩ,
đúng theo cái nghĩa sâu xa mà văn hóa Á Đông đã trao cho. Vì con người theo
Aristote là sinh vật chính trị nên thi sĩ không thể đứng ngoài lịch sử hay quay
lưng với xã hội và thế sự. Vào thời đại của
lũ sát nhân (Rimbaud) bất kể ai còn lương tâm cũng phải bất bình và tìm
cách ngăn chặn hoặc ít ra không đồng lõa với tội ác. Trong hơn hai thế kỷ qua
phần đông các thi sĩ trên quả đất đã đứng về phía những nạn nhân, đã gánh chia
số phận của loài người bị chà đạp và lên tiếng.
Mi được thoát chết không phải để mà sống
Mi không có nhiều thời giờ mi phải
làm kẻ chứng nhân
Zbigniew
Herbert
Cũng như các sinh vật
chính trị hiện đại khác, người thi sĩ hôm nay có ý thức cao về tính liên đới sống
còn giữa mọi công dân và những cộng đồng người. Bên cạnh bạo lực man rợ của chiến
tranh với lò sát sinh và trại cải tạo chúng ta đừng quên bạo lực tinh vi của
kinh tế và ý hệ. Có biết bao trẻ em chết đói chết bệnh mỗi ngày trên trái đất
vì sức mạnh vô địch của thị trường tự do? Chẳng lẽ mối quan tâm lớn nhất của
nhà thơ là sự cạnh tranh của mass media và bestsellers? Octavio Paz có nói một
câu: Chủ yếu mang tính xã hội thơ phục hồi
lại cộng đồng từ nền tảng. Cũng như văn chương nói chung, thơ có thể là chất
keo nhân văn kỳ diệu hàn gắn lại các chấn thương của tình người. Điều gì sẽ đến
nếu các nhà văn nhà thơ lơ là với trách nhiệm này? Mời các bạn đọc đi đọc lại
bài thơ sau đây: CÁI CHẾT CỦA MỘT CÔNG
DÂN,
Không phải cái chết đột ngột
Không phải cái chết của người lính
bị
một cú đấm đại bác
té bật ngửa nhìn trời
Cũng không phải cái chết của lão nông
dân
yên lặng trở vào ruột đất
như trở lại mái nhà
Một ngày kia
một ngày như bao nhiêu ngày
y hệt giống nhau
tương tự hai giọt nước
dưới ánh mặt trời
hay giữa đêm khuya
bắt đầu cơn hấp hối
Không phải một cái chết đột ngột
Ngày lại ngày
khi mi không còn
biết yêu biết ghét
khi mi khám phá được cách sống chừng
mực quí giá
cơn hấp hối bắt đầu
Bài thơ này thi sĩ
Ba lan Tadeusz Rósewicz cho in năm 1952. Ít lâu sau hai chữ yêu, ghét lại xuất hiện tại Hà Nội,
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Phùng
Quán
III. Thi Nhân
Comment
vivre sans inconnu devant soi? René
Char
Nếu có người yêu cầu tôi đưa ra một
khái niệm hay định nghĩa về thơ tôi sẽ
né tránh bằng cách niêm hoa vi tiếu của
Bồ tát hoặc mượn câu bất khả đạo bất khả
danh của Đạo gia. Nếu ai đó không chịu buông tha và tiếp tục gặng hỏi về
nhà thơ tôi đành phải lật mấy trang sổ tay riêng tư để chép ra điều suy nghiệm
này: Mang
trên đầu hào quang của Số Không, thi nhân là kẻ suốt đời bị Số Một ám ảnh.
Số Một trước
tiên là bản sắc độc đáo của nhà thơ qua những bài thơ có một không hai. Nhưng Số Một trên hết là gạch nối hữu cơ của
Tam Tài –Thiên-Địa-Nhân, là thiên địa chi
tâm mà Lưu Hiệp đã khắc họa ngay chương đầu trong Văn Tâm Điêu Long để vinh danh con người, nguồn gốc của ngôn ngữ với
văn chương. Đồng thời cũng là chữ Nhất của
trực giác Á Đông: vạn vật đồng nhất thể;
là mạch thiêng nuôi các thi nhân-đạo sĩ như Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Mạnh Hạo
Nhiên…Sau khi Trung Hoa tiếp thu Phật giáo chữ Nhất tiến thêm một bậc hóa làm tinh thần bất nhị Thiền tong. Cuối cùng hai từ đồng nhất khiến ta liên tưởng đến thiên hạ đại đồng, giấc mơ bốn bể một nhà của không ít thi nhân,
Vì nhà ta mở toang, cửa không then khóa
Và các tân khách vô hình tự tiện vào ra.
Czeslaw Milosz
Còn Hào Quang của Số Không? Đây vừa là tư tưởng nhà Phật vừa là triết học
hiện đại (Sartre, L’Être et Le Néant).
Nhưng thi nhân đến với nó không bằng phép thiền định hoặc tư biện kiểu hiện tượng
luận ( mise en parenthèses, bracketing) lột dần các lớp vỏ ngoài của sự vật để
tìm cốt lõi tự tính (noumena). Nhà thơ sống chết đến cùng trong mê trận sắc tướng
để trải nghiệm các lẽ tan hợp hưng vong trong máu thịt, ngậm trái vú Maya chờ mọc răng học nói(CP). Trước khi ông gặp tư tưởng nhà Phật, Mallarmé từng tâm sự rằng
quá trình trực diện lâu năm với chữ và im lặng đã giúp nhà thơ tự mình ngộ được
tính Không. Kinh nghiệm này cũng xảy ra với các nhà thơ lớn của tk20 như
Artaud, Daumal, Paz hay Juarroz…Khi vũ khúc choáng váng của các mặt gương đã
đánh lạc hướng mọi ngữ điệu với dụ ngôn, cái còn lại chính là trang trắng – poésie pure và via negativa -
Hình
dung sắc tướng, chụp bắt thần tư là giấc mơ đã cũ
Sáu
con rùa kéo thư án về đâu? - CP
Sau cái chết của các thần linh và sự phá sản của mọi tín điều thế tục
con người như cá mắc cạn trên sa mạc.
Trước khi triết học hiện sinh lập thuyết ồn ào, nhiều nhà thơ đã đối diện với
cái Phi Lý (l’absurde); Tôi chẳng qua là
con mắt ngó vào tròng mù ghê rợn của sự vô nghĩa (Ekelund). Trớ trêu hơn nữa
là sự tiến bộ chóng mặt của khoa học, càng soi sáng những bí mật của vũ trụ
càng cho thấy sự nhỏ nhoi buồn cười của
hạt bụi Địa cầu giữa bao nhiêu tỉ thiên hà tinh đẩu! Không còn huyền thoại,
không còn tôn giáo, chẳng lẽ trạm cuối của chuyến hành hương nhân loại là Siêu
Thị? Và sản xuất để tiêu thụ/tiêu thụ để sản xuất là lẽ sống còn của mọi chúng
sinh?
Vừa phản kháng chống các thế lực với âm mưu
phi nhân nhà thơ còn gánh vác câu hỏi đời đời không lời giải của thân phận con
người giữa vô minh. Như Sisyphus vần tảng đá quẩn quanh, sự kháng cự lặng lẽ và
vô vọng ấy chính là ngọn lửa nuôi dưỡng tâm linh và sáng tạo. Sờ soạng đi trong
cõi nghịch lý như một ẩn số, thi nhân khước từ mọi bản đồ với mũi tên chỉ đường
quen thuộc. Là du mục và hành giả, là di dân chung thân với tấm thẻ tị nạn siêu
hình, thi nhân là trích tiên rời xa mọi
miền đất hứa không ngừng truy tìm TERRA
INCOGNITA.
Đàn
chim không quốc tịch bay qua Vạn lý trường thành
Áng
mây giông chẳng dừng lại trước các trạm hải quan
Địa
chỉ thi nhân là đường chỉ tay hoang vắng… CP
Tạm Kết
Người xưa mượn các giai thoại lý thú và thâm
trầm để bàn về thi ca. Không được là thi thoại, bài viết này có nguy cơ biến
làm thi thuyết (discours poétique) dông dài và nặng nề. Luận về Đạo của thi nhân tôi còn có thể miên
man suốt đêm với những trích dẫn chép kín sổ tay; chẳng hạn của Jean de
Boschère về nhà thơ, chứng nhân lớn của
thời gian và thực tại, hoặc nhận định sau đây của Charles Simic, nhà thơ kêu gọi triết gia trong mỗi chúng
ta quan tâm đến thế giới qua sự hiện diện đầy nghi vấn của nó. Nhưng tôi
xin tạm ngừng và hẹn một dịp khác để đi sâu hơn về vấn đề này. Hi vọng máy siêu
quang tuyến trên kia sẽ giúp các bạn làm thơ phần nào chiếu rọi được nội tâm và
cốt cách, thấy rõ các sở trường cũng như yếu điểm bản thân để tiếp tục chân cứng đá mềm trên hành trình gian truân
của kẻ lao công khốn khổ -horrible
travailleurs (Rimbaud) – đi khai hoang và mở rộng các bờ cõi của ĐẤT THƠ.
2. Hai vấn đề này là trọng tâm của học thuật và lý luận về thơ ở Âu Mỹ từ khi Heidegger phát hiện được Hoelderlin. Các khảo cứu của Harold Bloom cũng xoáy vào yếu tính thi ca. Một tài liệu đáng chú ý là Wozu, À Quoi Bon, Why Poets in a Hollow Age?, Paris,Le Soleil Noir,1978, in lại các tham luận, bài phỏng vấn của khoảng 160 nhà thơ và nghệ sĩ quốc tế về vai trò, thiên chức của thi nhân vào thời hiện đại. Trung Tâm Quốc Tế về Thi Ca MARSEILLE có tổ chức một hội thảo chuyên đề về thi ca và triết học vào tháng 10-1997 và in lại các tham luận trong Poésie&Philosophie, Marseille,cipM, 2000. Đầu năm 2000 tạp chí
© 2008 danchimviet.com

