- Trang Chủ
- Truyện Ngắn
- Hạt tình hồi sinh
Hạt tình hồi sinh
- Tác Giả: Tràm Cà Mau
- Đăng ngày 05.07.08
- Truyện Ngắn
-
Xếp hạng:




Cái tin mụ Ty sắp lấy chồng Việt Kiều,
truyền miệng loan đi nhanh như gió, làm chấn động cả mấy làng trong huyện Triệu
Phong. Không ai tin là chuyện thật, người ta công khai xôn xao bàn tán. Nhưng cái
tin nầy đã làm nức lòng và lên tinh thần đám đàn bà goá, và các cô gái muộn
chồng trong cả tỉnh. Mụ Ty đã già khú đế, trên sáu mươi tuổi rồi, xấu xí ốm o, khô
đét vì đói ăn nhiều năm, chỉ còn da bọc xương, răng cái còn cái mất, lại mù
loà, dơ dáy, nghèo rớt mùng tơi, có thời đi ăn xin. Thế mà có Việt Kiều ở Mỹ về
xin cưới. Câu chuyện gần như hoang đường, người tỉnh táo khó lòng tin được.
Người ta bàn tán:
“ Chắc có âm mưu thâm độc chi đây,
chứ cưới mụ Ty về mà làm gì? Đem bán cho nhà thổ, chúng cũng rượt đánh đến bể
đầu. Mụ đó mù loà yếu đuối, cũng không đủ sức làm nô lệ hầu hạ cho ai được.
Đừng nói chuyện tình dục, già đến thế, chắc cũng đã mốc meo, héo quắt đi rồi. Mụ
chỉ còn xương với da, chỉ có đem mà nấu cao, giả “cao hổ cốt” may ra còn có
lý.”
Đám đàn ông bàn thêm:
“ Con gái trẻ đẹp hơ-hớ thiếu chi mà
đi cưới mụ già. Cưới về đem đặt lên bàn thờ mà lạy chắc? Hay là thằng cha Việt
Kiều đó đau bệnh điên, làm chuyện trái đời, chơi bạo lấy tiếng? Nghe không hợp
lý chút nào. ”
Ông thầy pháp thường hay gọi hồn
người chết về nói chuyện thế gian cũng bóp đầu, bóp trán, hứa sẽ kêu hồn bố mẹ
mụ Tý về hỏi cho ra lẽ. Ông nói thầm với bà con:
“ Không chừng thằng cha Việt Kiều là
phù thủy, cưới mụ Ty về để giết chết mà luyện “thiên linh cái”, vì mụ Ty dù sao
cũng còn “đồng trinh”, chưa biết đến hơi trai.”
Mấy mụ đàn bà yếu bóng vía rùn vai,
lè lưỡi sợ hãi, và họ tin ông thầy pháp nói có lý.
Chính quyền địa phương cũng họp chi
bộ đảng cọng sản nhiều lần, để thảo luận và tìm hiểu lý do tại sao gã Việt Kiều
kia cưới mụ Ty. Có âm mưu gián điệp của đế quốc Mỹ gài vào, dò xét tình hình
“ta” không? Bí thư xã báo cáo lên quận. Bí thư quận nói:
“Không phải âm mưu gián điệp, vì cả Tổng
Thống Mỹ Cờ-Lin-Tơn còn đi phất phơ ăn phở giữa chợ ở Việt Nam mình nữa kia mà.
Nhưng cũng phải đề cao cảnh giác, để không có chuyện gì đáng tiếc xẫy ra cho
xã, huyện nhà.”
Nghị quyết chung của chính quyền xã
là gây khó khăn tối đa cho tên Việt Kiều kia chán nãn, mà bỏ ý định bí mật lạ
lùng kia đi. Họ tin rằng, nắm quyền trong tay, thì thừa sức ngăn cản được cuộc
tình duyên tréo ngoe nầy.
Phần mụ Ty, nghe bàn vào, tán ra,
người nầy nói một câu, kẻ khác bàn vài câu, cũng đâm ra hoang mang, và sợ. Nghi ngờ đến cái tấm lòng của ông Thu, người
Việt Kiều muốn cưới mụ làm vợ. Những lời bàn tán kia, đều có lý, không phải
dựng đứng lên.
Hơn năm mươi năm trước, khi ông Thu
mới mười lăm tuổi, gặp bà Ty, thì bị “cú sét ái tình” đánh cho ngã gục. Cả gan
về nhà xin cưới vợ, bị bố ông đánh cho một trận đòn quắn đít, nên tình yêu cũng
tắt ngúm từ đó. Rồi mấy mươi năm thời cuộc nổi trôi, chiến tranh, tù đày, đi
Mỹ, chạy theo cơm áo, ông Thu không có thì giờ, không còn kiên nhẫn, hứng thú,
để theo đuổi bất cứ một bóng hồng nào. Cho đến khi ông đã hưu trí, về thăm quê
ngoại, biết bà Ty cũng phòng không chiếc bóng, mù lòa, đói khát. Hai người gặp
lại nhau. Ông nhớ lời ước hẹn năm xưa: “kiếp sau đền bù sum họp”, nên muốn cưới
bà Ty đem về Mỹ. Nhiều người bà con nội ngoại đều can gián ông. Họ bảo rằng,
nếu lấy vợ, thì nên kiếm một người có trình độ, trẻ, đẹp, khỏe mạnh, để còn chăm
sóc, nương tựa khi đau yếu trong trong tuổi già. Lấy mụ Ty về, không nhờ vã
được gì, còn phải lo ngược lại cho mụ. Thêm khổ thân già. Vả lại, trình độ kiến thức quá cách biệt, rất
khó sống chung, khó hoà hợp, khó thông cảm. Chỉ gây bực mình và làm khổ nhau. Họ
khuyên ông cho mụ Ty một số tiền lớn để sinh sống, rồi thôi, không tội chi mà
đèo bòng cái gánh nợ thổ tả đó.
Gia đình, bạn bè gián tiếp sắp đặt,
làm như tình cờ, đưa đến cho ông gặp nhiều cô, nhiều bà. Có trẻ đẹp, có xồn
xồn, cả chưa chồng và cả goá phụ. Các bà, các cô nầy, nhìn ông hau háu, tha
thiết, với ánh mắt hy vọng, khẩn cầu. Ông thấy nhẫn tâm và tội nghiệp họ. Có
người còn nhỏ, chỉ đáng hàng con, cháu ông thôi. Ông nói rằng, tất cả bọn họ
đều đáng thương, chỉ vì cơm áo, mà phải tha thiết với một kẻ già nua như ông. Nhưng mụ Ty là kẻ
đáng thương nhất, đáng được đền bù nhất. Quan trọng hơn hết là mối tình hơn nửa
thế kỷ trước, có phôi pha phần nào thật, nhưng vẫn còn âm ỉ trong tim. Cậu Út của ông Thu nói:
“ Yêu là cái khỉ gì? Bọn con nít ngu,
mới bày đặt yêu đương. Mình già rồi, khôn quá, hết ngu rồi. Lấy vợ, lấy chồng
là phải suy xét hơn thiệt, trắng đen, cân lường. Còn trẻ, bồng bột, ngu nên ủi
đại, không nghĩ đến hậu quả về sau. Bởi vậy, cháu phải suy nghĩ thật kỹ trước
khi lấy mụ Ty”
Ông Thu nói với cậu út:
“Lạ thật, năm mười lăm tuổi, muốn lấy
vợ bị ngăn cản đã đành. Bây giờ sáu mươi sáu tuổi, muốn lấy vợ, cũng bị ngăn
cản dữ dội. Thế thì chờ đến khi xuống lỗ mới hết trắc trở sao?”
Xóm giềng và họ hàng của nhao nhao
xúi dục mụ Ty thách cưới thật cho cao. Đòi cho được hai trăm phần quà. Mỗi phần
có một hộp trà, một hộp bánh, sáu quả cau, một liễn trẩu. Đòi thêm hai cái
kiềng vàng, cặp xuyến vàng, một đôi bông tai. Phải đãi ăn năm chục người. Mụ Ty
nghe mà lo lắng bảo:
“Mình thách cưới cao quá, lỡ người ta
không lo nỗi, rồi bỏ đi thì uổng. Mà mình thì đã tra (già) lắm rồi. Cả đời tui chưa đeo kiềng, đeo xuyến, chừ có đeo vô,
cũng cấn chết, mà trẻn (xấu hổ) nữa.”
Một bà nạt lớn:
“Tra thì tra, chứ chẳng lẽ cho không,
cóc đòi chi cả? Đừng tự làm mình mất giá. Hắn không cưới thì thôi.”
Nghe nói vậy, mụ Ty giật mình tái mặt,
ngồi thừ người ra. Một bà khác tiếp lời:
“ Nì, mụ đừng lo, Việt Kiều giàu lắm.
Người nào cũng lái xe hơi, ở nhà lầu. Mình không đòi là dại. Mà cũng phải đủ lễ
“tam sênh” mới được. Ba lễ, dạm mặt, đám hỏi, đám cưới đàng hoàng, chớ không
phải đem xe về bắt cóc chạy đi. Làng nước không chịu cho mụ chịu thiệt thòi mô.
Mụ mà không đòi, thì chúng tôi cũng đứng ra, đại diện nhà gái mà đòi”
Mụ Ty hốt hoảng nói nho nhỏ:
“ Thôi thôi, mấy mự, mấy thím ơi. Mần
rình rang chi thêm xấu mặt. Mấy chục năm ni, có đám cưới mô trong làng mà đủ ba
lễ? Tui nghèo khổ, chớ có phải cành vàng lá ngọc chi mô.”
“Đám cưới trong làng mình, không đủ
ba lễ là vì bên rễ nghèo. Phải “giản đơn” lại, chớ không thì trai, gái, không vợ, không chồng cả làng sao? Mình nhắm
sức người ta có, mới đòi. Mụ lo chi?”
Thấy bà con áp lực quá, mụ Ty ôm mặt
khóc. Người ta bồi thêm:
“ Mụ mà dại, thì có cả làng khôn. Đòi
là đòi cho mụ, chớ có đòi cho chúng tui mô. Sính lễ mà đòi được, thì mụ cũng
cất đi, sau nầy làm của, phòng khi nầy khi kia, chớ chúng tui có lợi chi?”
Mụ Ty đem những lời thách cưới của bà
con nói lại cho ông Thu nghe. Nhưng mụ không quên thêm một câu rằng, nếu ông
không có, và không chịu thì thôi, mụ không đòi hỏi chi cả.
Ông Thu cười và nói, đó là “chuyện
nhỏ”. Vòng, xuyến, hoa tai, nếu mụ muốn, thì ông sẽ mua cho mụ. Nhưng hai trăm
phần cưới cau trầu, trà bánh, thì không, phí phạm vô ích. Mụ Ty nghe mà mừng,
sung sướng và nói:
“ Thôi, thôi, đừng vòng xuyến chi cả.
Xưa nay không đeo, bi chừ đeo vô, ngứa ngáy không chịu được mô. Đeo vô, trẻn
lắm. ”
“ Bà con dặn tui đừng có đi mô cả. Đi
ra khỏi làng, vô tận Sài Gòn xa xôi, lỡ anh đổi ý, bỏ tui bơ vơ nơi xa lạ, mần răng mà tui có tiền, có phương
tiện về lại làng. Mà về lại cũng không được mô. Thiên hạ cười cho thúi đầu. Tra
chừng ni tuổi rồi mà còn bỏ làng đi theo trai, bị phụ tình, mang xác về. Xấu hổ
lắm.”
Ông Thu ôm đầu thở dài. Biết mụ Ty đã
bị xóm giềng bàn ra, tán vào, khuyên bảo nầy nọ. Không hẵn những lời khuyên đó
hoàn toàn vô lý. Ông nhỏ nhẹ nói với mụ Ty:
“ Việc gì phải sống thêm trong cái
chòi tranh dột nát nầy nữa. Thiếu thốn phương tiện, ẩm thấp, mưa luồn nắng
chiếu. Khổ đã nhiều rồi, không tội gi khổ thêm.”
Mụ Ty nói rất tự nhiên:
“ Mấy chục năm sống nơi đây, cũng đã
quen rồi, tui không thấy khổ nữa. Đói thì có, rách thì có. Nếu đủ cơm ăn hàng
ngày là quá quý rồi. Tui không dám mơ ước chi hơn.”
“ Nếu Ty nhất định không ra khỏi
làng, thì kiếm nhà nào rộng rãi, khang trang, tui thuê cho mà ở”
“ Nhà ai nấy ở. Không ai dư chỗ cho
thuê mô. Ở nhà ni, có chết mô mà sợ. Nếu ở nhà ni mà chết, thì chết từ lâu rồi.
Cứ cho tui ở nhà ni, đừng bắt tui đi nơi khác. Tội nghiệp.”
Ông Thu chịu thua, không muốn ép mụ
Ty dọn đi nơi khác, phiền lòng mụ. Ông nhờ người bà con bên ngoại thuê thợ tu
bổ lại căn chòi, lợp lại mái, che phên, làm cửa lưới ngăn muỗi, câu điện, bắt
cho một chiếc quạt máy. Mụ Ty nói:
“Sữa phên, lợp nhà thì được. Câu điện
chi cho phí. Tui mù loà, ngày như đêm, cần chi đèn đóm. Bắt quạt máy mần chi,
lỡ nó rớt xuống, bể đầu. Khi mô nóng, ra ngồi bên hè, lấy mo cau mà quạt cũng
đủ mát rồi.”
Ông Thu thuê một đứa cháu họ của mụ
Ty, đến ở chung để chăm sóc, đi chợ, nấu nướng cho mụ. Mỗi ngày mụ được ăn cơm
không độn khoai sắn, có cá kho, thịt luộc. Mụ Ty sung sướng hớn hở. Mụ nói với
đứa cháu;
“Ăn sang phung phí như ri, ngày mô
cũng thịt, cá, thì có núi của cũng sập. Thôi, đừng hoang phí nữa. Cứ cơm trắng
với mắm nêm, mắm ruốc, rau luộc là đủ, sung sướng lắm rồi.”
Đưá cháu cười nói:
“ Dượng Thu đã đưa tiền cho chú Hai,
dặn phát tiền chợ cho cháu. O đừng lo. O mà ăn ngon, thì cháu cũng được ăn ngon
theo. Cả đời, chưa khi mô cháu được ăn no, sung sướng, như bây chừ cả. Cháu hỏi
thiệt, O đừng dấu cháu nghe. O bỏ thứ “bùa” chi, mà dượng Thu Việt kiều mê O dữ rứa?
Dạy cho cháu với. Cháu thương thằng Bường, mà hắn cứ lờ tít đi, như không biết
chi hết.”
“Mụ nội mi. Bùa chú chi mô. Người ta
ở bên Mỹ, tau ở đây, mù loà, có bùa cũng không bỏ được. Miềng ăn ở ngay thật,
hiền lành, trời thương nên đem dượng Thu mi về đây cho tau.”
Mụ Vàng người trong xóm, trước đây
thường hay cho mụ Ty khoai sắn, ghé nhà ngồi nói chuyện, trước khi ra về nói:
“ Mai mốt o qua Mỹ, làm ra tiền, đừng
quên tui. Nhớ gởi về cho nhiều nhiều, để tui xây gạch, lợp ngói căn nhà nghe.”
Chú Trọng dặn dò tha thiết:
“ Tui biết chị tốt lắm, qua Mỹ thế
nào cũng gởi tiền về cho tui mua cặp trâu, đi cày thuê. Cả đời tui, mơ ước có
được con trâu, chị không giúp, thì không khi mô có. Đừng vì giàu sang sung
sướng mà quên bà con nghèo.”
Mụ Ty hoang mang lắm, nhưng cứ nói
thật những ý nghĩ trong lòng mụ:
“Sợ không có, chứ có thì phải nghĩ
đến bà con, phải chia xẻ cơm áo cho nhau chớ. Như bà con đã chia khoai sắn cho
tui sống mấy chục năm ni. Cậu đừng có lo. Tui mà có của thì chia hết. Nghe bà
con nói chuyện, tui nghĩ là Tây, Mỹ nó ngu lắm, để tiền, để của ngoài đường,
cho mình qua đó mà hốt, như hốt cứt trâu ngoài ruộng”
Mụ Viện, nhà ở xóm trên, có đứa con
gái ba mươi lăm tuổi bị ly dị. Cô nầy về ở với cha mẹ. Mụ Viện đến năn nỉ mụ Tý,
đề nghị thẳng thừng:
“Chị tra (già) rồi, đi Tây, đi Mỹ làm
chi , bên đó lạnh lắm, chịu không nổi mô. Mà đã tra dư ri (già như thế nầy), còn đi
lấy dôn (chồng), thiên hạ, làng nước,
con nít, chúng nó cười cho thúi trốt (thối
đầu). Trẻn lắm ( xấu hổ). Thôi
thì chị nhường ông Việt Kiều đó cho con Thại nhà tui, hắn còn trẻ, chịu được
lạnh, có thể giúp ông Việt Kiều nhiều chuyện, đẻ cho ông vài ba đứa con. Phần
chị, thì ở đây đã quen, đi mô cho mệt.”
Mụ Tý nghe mà rưng rung nước mắt, vì
xưa nay đã quen bị thiên hạ chèn ép mà không dám kêu ca. Mụ nói nho nhỏ, sợ mất
lòng mụ Viện:
“ Chuyện đó, thì tùy ông Việt Kiều,
nếu tui chịu nhường, liệu ông nớ có chịu hay không ?”
Mụ Viện dục :
“ Răng mà không chịu. Con Thại còn
trẻ, còn đẹp, khỏe mạnh, chứ có ốm o bệnh hoạn như, như ai đó mô. Thì chị cứ nói cho đến khi ông nớ chịu. Không
nói thì mần răng người ta biết. “
“ Tui không dám nói mô.”
“ Tại răng mà không dám nói ? Có chết
chóc chi mô?”
Mụ Tý khóc rấm rứt:
“Chết tui cũng không dám nói. Chị có
gan thì nói thẳng với ông Thu đi. Nói được thì tui chịu nhường”
Nói đến đó, mụ Ty tủi thân quá, khóc
oà lên. Tưởng như đã mất ông Thu rồi. Đứa cháu săn sóc mụ Ty, nghe mà giận quá,
xen vô, nói lớn tiếng:
“ Cái mụ Viện ni vô doang (vô duyên) chưa tề. Người ta ưng dau (yêu nhau) cả mấy chục năm ni, đêm ngày
thương dớ (nhớ). Chị Thại con của mụ,
mập thù lù, bị chồng chê, bị li dị, chớ có quý báu chi. Có tình nghĩa chi mà nhảy vô đòi dành ăn. Ở bên đó,
đầm Tây, đầm Mỹ đẹp như tiên, như thánh, trắng như trứng gà bóc, ông còn chưa
chịu nữa, huống chi con của mụ, thấm vô mô.”
Mụ Viện giận dữ nghiến răng gào lên:
“Nì, cái con quỷ cái, tau bả (vã) cho văng răng ra bi chừ. Việc chi mà
mi xía vô chuyện người ta? Mi biết chi mà nói. Câm cái mồm lại.”
Đứa cháu trả treo:
“ Nói ngang xương dư rứa (như vậy), quỷ sứ nghe cũng không lọt
tai. Tức đến nghẹn họng.”
Có nhiều người nữa, đến bắt mụ Ty hứa
hẹn đủ điều. Ông chủ tịch xã cũng nói với mụ Ty, yêu cầu ông Thu giúp đỡ, ủng
hộ một món tiền, đủ để xây lại lại trụ sở uỷ ban hành chánh xã cho khang trang
hơn.
“ Tội nghiệp bà con quá. Chắc qua Mỹ,
tui với mụ phải tổ chức một băng cướp, đi ăn cướp ngân hàng, đem tiền về giúp
bà con mình.”
Mụ Ty không hiểu lời nói đùa của ông
Thu, hốt hoảng nói:
“Đi ăn cướp? Tui không làm được mô.
Tui mù loà, mần răng mà chạy trốn cho kịp. E cũng ở tù rục xương. Rứa thì lâu
ni, ở bên Mỹ, eng làm việc chi?”
“Đi cày”- Ý ông Thu muốn nói đi làm
cực nhọc như đi cày vậy, nhưng mụ Ty không hiểu, hỏi:
“ Ruộng có diều (nhiều) không? Được mấy sào? Qua bên đó, tui cũng giúp xay lúa, giả
gạo được”
“Bây chừ thì về hưu rồi, nghỉ đi
cày.”
“ Rứa thì lấy chi mà ăn ?”
“ Tiền để đèng” (để dành) – Ông Thu nói tiếng Quảng Trị cho mụ Ty dễ hiểu.
Mụ Thu xuống giọng, nói nhỏ như sợ
người khác nghe được:
“Để đèng diều (nhiều) không? Được năm lạng không?
“Được”
“Rứa thì giàu quá! Chôn cho kỹ. Coi
chừng bị trộm hết, không có ăn, khổ lắm đó.”
Gian nan lắm, ông Thu mới hoàn tất
được thủ tục, đưa mụ Ty về Mỹ. Phiá chính quyền Việt Nam làm khó khăn, ông phải
vất vả chạy mua giấy khai sinh, phải nhờ người đút lót tiền mua các loại giấy
tờ chứng minh cần thiết. Bộ ngoại giao và di trú Mỹ nghi ngờ ông âm mưu đưa
người nhập lậu qua khe hở của pháp luật.
Ông cố gắng giải thích về sự thành thật của ông, mà không ai tin. Giá như ông
cưới một cô gái trẻ, đẹp, thì được dễ dàng thông qua. Ông kể câu chuyện tình
hơn nửa thế kỷ của ông cho viên chức ở toà đại sứ Mỹ nghe, họ càng không tin
hơn, cho rằng ông bịa chuyện. Cuối cùng, ông phải thuê luật sư can thiệp, và
nhờ thêm dân biểu, nghị sĩ vùng ông ở viết thư cho bộ ngoại giao và sở di trú. Thời gian thủ tục giấy tờ dài hơn gấp đôi bình
thường.
Trên máy bay về Mỹ, ngồi bên cạnh mụ
Ty, ông Thu thấy tình thương dạt dào rộn lên trong tim. Nhìn mụ Ty ngồi dựa
ngữa đang lơ mơ ngủ, ông thấy mụ đẹp hơn cả “con Ty” mười bốn tuổi ngày xưa có
cái răng khểnh. Ông hứng khởi, hát nho nhỏ bản nhạc Suối Mơ của Văn Cao :“… từng hẹn mùa xưa xây nhà bên suối, nghe
suối róc rách trôi, hoa lừng hương ngát, đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi…”
Mụ Ty, quay mặt lại nói:
“ Eng hát hay quá”
Ông Thu cười:
“ Không hay bằng Ty nói vè O Nương
mô.”
Ông Thu vuốt nhẹ bàn tay khô xương,
sần sùi của mụ Ty, mà lòng vui rộn rã .
Tháng 8 năm 2007
Rỉ Tai
8 Responses to "Hạt tình hồi sinh" 
|
said this on 06 Jul 2008 12:45:05 AM EDT
Doc bai ni rang ma thuong qua! Thuong du rua moi la thuong cho. :)
|
|
said this on 06 Jul 2008 11:54:10 AM EDT
Do la su khac biet giua con nguoi va con vat.
|
|
said this on 07 Jul 2008 9:49:44 PM EDT
Y bất như tân
Nhân bất như cưụ Áo (nào cũng) không bằng áo mới Người (nào cũng) không bằng người cũ Vì ta thường có nhiều lưu niệm với cố nhân. Rất vui mừng khi được gặp lại Đàn Chim Việt (cũ). |
|
said this on 08 Jul 2008 12:15:55 AM EDT
Câu chuyện ti`nh 2.000 năm trước ấy nghe ma` cảm động chảy nước mắt, ngươ`i ta trẻ nheo nhẻo ra ma` cưới Việt kiêu cũng khọ huống gi` một o ăn ma`y mu` lo`a, răng rụng chiếc co`n chiếc mất, vậy ma` ông việt kiê`u nhứt định chung ti`nh, mối ti`nh tư` 50 năm trước phải cưới cho bă`ng được vê` Mỹ ..dza`o ơi ! Cuộc ră`ng ... có uống hết chai XO cũng không viết được chuyện ti`nh xúc động lo`ng ngươi` như vâ`y đâu ! Hi` Hi` Hi` ! Cám ơn tác giả nhen, chúc ông mạnh khỏe để viết toa`n những chuyện ti`nh xúc động như vâ`y cống hiến cho độc giả bốn phương nhen . Thân mến .
Nhật Lan |
|
said this on 09 Jul 2008 12:55:22 AM EDT
Tình già lúc nào cũng đẹp! Cám ơn tác giả.
|
|
said this on 18 Jul 2008 2:48:20 PM EDT
Vie^t Kie^u` ve^` VN cu+o+i' mo^t ba` gia` !!! Nhu+ng no' ngo^ nghi?nh & hay la` o+? cho^? -do' . . .
|
|
said this on 31 Jul 2008 10:08:07 AM EDT
hay lam, rat la hay vi rat la
|
|
said this on 10 Sep 2008 8:09:41 PM EDT
cau chuyen tinh 50 nam tinh cu sao ma cam dong qua, dau la hu cau di nua doc sao ma no van hay, that la tham thia cho tinh nguoi, o phai gap lanh, ong troi roi cung co luc ngo lai de giup nguoi hien./. nam mo a di da phat./.
|


Author/Admin)