Tôi thấy thầy mẹ, anh chị em trong nhà thì thầm bàn chuyện đi Nam, rồi cuối cùng nhất quyết ra đi vì nếu ở lại không biết lấy gì để mà sống, thuế nông nghiệp nặng è cổ gấp năm gấp mười ngày trước, dù thầy tôi có sang bên kia sông bán hết cả ruộng nương cũng không đủ đóng. Hiến ruộng cho chính phủ cũng không được, họ muốn cho bọn địa chủ phải dở khóc dở cười, chính sách tiêu diệt địa chủ học theo kiểu Trung Cộng sắt máu, gớm ghiếc lắm. Vài ngày cán bộ vào đốc thúc đóng thuế, nói là cán bộ cho oai chứ thực ra chỉ là một anh tá điền nghèo kiết xác trong làng tự ý nhảy lên làm cán bộ, mặc quần áo nâu, đeo túi dết, trước đây mỗi lẫn gặp thầy tôi thì khúm lúm chắp tay:
- Lạy ông ạ!
Nay nói chuyện ông, tôi ngang hàng. Bà con trong họ nội, nhà giàu trong làng nhiều người đã lên đường. Thầy mẹ tôi, anh chị tôi bàn bạc rồi nhất quyết ra đi, nhà tôi tỏ vẻ bất cần, công khai đem đồ đạc trong nhà ra bán sạch, đào cả gạch ngoài vườn bán lấy cớ để đóng thuế, chính quyền địa phương chưa thực sự thiết lập nên không thấy có ai ngăn cản. Gia đình tôi đi làm ba bốn đợt, mỗi đợt vài người, gặp ai hỏi thì nói là ra quê ngoại ăn giỗ.
Hôm chị tôi dẫn tôi và hai đứa em ra đi, chúng tôi nhìn lại căn nhà gác lần cuối, chúng tôi ra quê ngoại gần sát Hà Đông ở bốn năm ngày rồi lên Hà Đông, sau đi tầu điện lên Hà Nội, ngủ tại đây một đêm, hôm sau ra ga xe hỏa, tôi mới mười bốn không cần giấy thông hành, còn các anh chị tôi, thầy mẹ tôi toàn làm giấy thông hành giả cả! Anh chị tôi mượn giấy của bà con họ hàng ở Hà Nội rồi bóc ảnh cũ ra thay ảnh mới vào, lấy củ khoai làm con triện, con dấu giả đóng lên thế là ra đi thoải mái !
Lần đầu tiên trong đời tôi được đi xe hỏa, tầu chạy mất nửa buổi thì sang địa phận Quốc Gia, họ thay đổi người lái, tôi thấy tầu chạy mấy giờ nữa mới đến ga Hải Phòng, bước xuống ga tôi thấy người người chen nhau đông đúc tấp nập, lần đầu tiên trong đời tôi thấy một đám đông người như thế. Tôi lại thấy cờ vàng ba sọc đỏ, thấy những người lính Quốc Gia, chúng tôi vui mừng khôn xiết y như lâu ngày hội ngộ bạn cố tri vậy, mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng tôi cũng ý thức được rằng gia đình mình đã thoát nạn.
Lòng phơi phới hân hoan, tôi nhìn lên những bức tường thấy người ta viết những câu vè, khẩu hiệu như:
"Cụ Ngô thống nhất sơn hà,
Già Hồ chia xẻ nước nhà làm hai".
Hoặc.
"Ai vô Nam đợi mấy tôi cùng,
Tôi còn gỡ ách, gỡ chòng Việt Minh".
Chừng vài ngày anh chị tôi lại dẫn chúng tôi ra ga đón thầy mẹ, rồi một hôm cả thầy mẹ và anh tôi đã tới, thế là thoát nạn.
Anh tôi lên Hội Đồng Di Cư Bắc Việt lấy vé tầu vào Nam, đi máy bay phải chờ lâu, đi tầu thủy chỉ chờ hai tuần hay một tháng. Chúng tôi đi chơi phố, Hải Phòng là một thành phố nhỏ bé, tối đến hay ra nhà Hát Lớn nghe diễn kịch tố Cộng, hòa nhạc.
Thế rồi chừng một tháng sau, tờ mờ sáng, gia đình tôi thuê xe xích lô đến điểm hẹn để lên xe cam nhông. Trên xe nhìn xuống thấy đằng sau một chiếc xe bên cạnh, những người ở lại chạy theo khóc lóc, nói những lời vĩnh biệt, một ông cha áo đen nói mấy lời tiễn đưa.
Xe cam nhông chở hàng nghìn người di cư đến bến tầu, chúng tôi lên tầu há mồm của Pháp, rồi từ đó qua vịnh Hạ Long để lên tầu Mỹ Marine Adder đậu ngoài khơi. Lần đầu tiên và cũng có lẽ là lần cuối cùng trong đời tôi được sống trong thế giới mỹ lệ của vịnh Hạ Long, hàng nghìn hàng vạn ngọn núi nhô lên khỏi mặt nước như những hòn non bộ. Mỗi lần tầu rẽ sóng tiến lên, chúng lại từ từ tránh lối cho tầu đi qua, phong cảnh đẹp tuyệt vời nhưng trầm lặng và buồn thiu.
Tôi thấy nhiều người rơi lệ trên tầu, những giọt lệ lăn trên những gò má vì họ biết rằng không bao giờ còn có ngày trở về quê cũ y như trong phim Trên Sông Vĩnh Biệt, Rivìere Sans Retour vậy! Quang cảnh sao vắng lặng lạ thường, lâu lâu mới gặp một chiếc thuyền đánh cá. Hồi ấy còn bé tôi rất vô tư, được viễn du như vậy lấy làm thích thú lắm. Tầu há mồm chạy lâu lắm mới tới tầu Mỹ Marine Adder to kếch sù và cao ngất, hai tầu cập sát nhau cho dân di cư leo thang lên boong, tại đây một người lính thủy Mỹ đưa cho mỗi người một túi cơm với quả trứng luộc, quả cam. Chúng tôi được hướng dẫn xuống tầu, đi qua buồng nọ buồng kia, phòng này phòng khác y như trong một tòa lâu đài vậy, mỗi chuyến tầu chở đi năm nghìn người di cư vào Nam.
Hôm sau tầu chuyển động mạnh bắt đầu chạy, chúng tôi bị say sóng nhiều người nôn mửa, họ phát cơm nấu đậu nhưng khó ăn lắm, phần vì mệt phần vì đồ ăn hơi lạ. Hôm sau nữa anh em tôi lên boong chơi, nhìn ra bốn bề chỉ thấy trời với nước mênh mông bát ngát không biết đâu là bến bờ. Sau mấy ngày lênh đênh trên biển, gia đình tôi đến bến tầu Sài Gòn, đứng trên boong nhìn xuống ai cũng trầm trồ khen ngợi Sài Gón đẹp quá, đẹp hơn Hà Nội, Hải Phòng.
Cha mẹ, anh chị em tôi phấn đấu với cuộc sống mới rất vất vả. Chúng tôi chịu bao nhiêu khó khăn gian khổ cả chục năm mới khá hơn được một chút, tôi được đi học, khi trưởng thành đi dậy học kiếm tiền nuôi thân, phụ giúp gia đình. Hình ảnh làng xưa quê cũ lúc này đã hoàn toàn xa lơ xa lắc đối với tôi.