- Trang Chủ
- Quê Hương Mến Yêu
- Làng tôi
Làng tôi
- Tác Giả Trọng Đạt
- Đăng ngày 20.05.09
- Quê Hương Mến Yêu
Làng tôi, mon village, nằm trên bờ đê sông Đáy, phía Tây Nam Hà Đông, cách tỉnh có hơn mười cây số, nhưng ở thời thơ ấu tôi lại thấy nó xa lơ xa lắc, mỗi lần được anh tôi đạp xe chở lên tỉnh, tôi tưởng đó như một cuôc viễn du dài đằng đẵng. Dân làng sống bằng nghề giã bột và làm ruộng, hồi còn bé tôi thường đi chơi nhiều hơn đi học, gia đình tôi và họ nội phần nhiều là các hào phú trong làng, ai cũng nhà ngói cây mít cả. Đó là nơi tôi sinh ra và lớn lên, đến khi đất nước bị chia đôi, tôi theo gia đình từ bỏ quê cha di cư vào Nam tìm tự do.
Chiến tranh Việt Pháp bùng nổ từ Hà Nội, Hà Đông rồi lan tràn xuống quê tôi, hồi ấy tôi mới lên sáu, lên bẩy nhưng ký ức của thời thơ ấu lại rõ ràng khúc chiết lạ thường, cho đến nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, tôi vẫn còn nhớ rõ như in trong trí tất cả cái giai đoạn khói lửa tang thương, đau khổ ấy. Tôi còn nhớ những ngày cha mẹ, anh chị em bồng bế nhau chạy loạn nheo nhóc hết làng này sang làng khác, nhớ cả những cảnh lửa đạn tơi bời, những chiếc xe tăng đen chùi chũi của bọn thực dân chạy lầm lũi trên đê làng, bao nhiêu tang tóc ghê rợn đã diễn ra: nào cướp bóc, hãm hiếp, bắn giết, đánh đập tra tấn những người tình nghi vô tội. Rồi những ngày bọn Tây Trắng, Tây Đen, Ba Ti Giăng, Việt Gian về làng khủng bố, chúng bắt dân làng tụ tập dưới gốc cây đa để chứng kiến những cảnh tra tấn, bắn giết người rùng rợn. Bọn thực dân cướp nước đã tàn phá quê hương tôi.
Việt Minh yếu thế thua trận phải rút vào hậu phương, chiến tranh đã xa dần rồi dịu hẳn đi tại quê tôi. Cuộc sống thanh bình trở lại, không còn khủng bố bắn giết ghê rợn như trước kia. Tôi bắt đầu lớn khôn, đi học trường làng, tôi nhớ một hôm có chiếc xe "bình bịch" từ Hà Đông về làng, một ông ăn mặc quần áo Tây lịch sự vào trường bán ảnh ông Bảo Đại, ông ấy nói:
- Đức Quốc Trưởng đã giành được độc lập cho nước ta, các em phải mua ảnh của Quốc Trưởng về treo để nhớ ơn Ngài!
Ông Bảo Đại đã về nước làm Quốc Trưởng thành lập chính phủ Quốc Gia, mặc dù chưa hoàn toàn độc lập nhưng ít ra nhờ có chính phủ nên an ninh đã vãn hồi không còn cảnh hỗn quân hỗn quan, nhiễu nhương ghê rợn như trước, thầy tôi thường nói với chú, bác: hồi ấy mạng người không được bằng con trâu, con bò, con lợn.
Hồi ấy dân làng tôi không nghèo nàn đói khổ lắm, họ cũng đủ ăn đủ mặc, những năm đói kém thời phát xít Nhật đã qua, hồi ấy chúng bắt dân bỏ lúa để trồng đay gây lên nạn đói khủng khiếp, người chết như rạ khắp miền Bắc nước ta, chúng bóc lột xương tủy, không cho dân ta trỗi dậy, nhưng nay thảm kịch cũng đã trôi qua.
Thế là bên trong lũy tre xanh, cuộc sống lại thanh bình êm đềm như giòng sông Đáy chảy ngang qua, hồi ấy tôi học lười hay bị thầy giáo đánh đau chết điếng, bị cha mẹ mắng mỏ tôi đi chơi nhiều hơn học hành, sách bút. Ở dưới bãi, bên bờ sông, cách làng chừng nửa cây số có một cụm rừng nhỏ, bên trong có miếu thờ, ở đấy đầy những chim chóc kêu ríu rít. Đó là nơi tôi, đứa em họ và bọn trẻ làng hay xuống bắn chim, xem lễ, xuống sông tắm mát, đó là thời mà tâm hồi chúng tôi còn trong trắng vô tư chỉ biết kéo nhau đi phá tổ chim, câu cá, bắt chuồn chuồn, châu chấu.
Thấm thoắt tôi đã mười mấy tuổi, học hết lớp nhì nhưng cũng còn vô tư lắm. Bỗng một hôm tiểu đoàn Quốc Gia về đóng tại làng tôi, họ nói là tiểu đoàn năm mươi tư, ông quan tư bệ vệ đóng tại nhà tôi, cảnh sinh hoạt trong làng thay đổi hẳn. Họ đóng cọc rào kẽm gai suốt dọc bên bờ đê, đào hố đặt súng cối tưởng như chiến tranh diễn ra đến nơi nhưng một hai tháng sau bỗng có tin đình chiến, quân đội và chính phủ Quốc Gia, quân đội Pháp sẽ rút vào Nam, có nhiều người lính đào ngũ trốn ở lại. Sau này nghe anh tôi nói người ta đồn thiếu tướng Nguyễn Văn Vận biết Tây sẽ ký hiệp định Giơ Neo chia đôi đất nước với Việt Minh, ông thiếu tướng định đảo chính quân Pháp và ở lại giữ đất, một mặt sai tiểu đoàn năm mươi tư về đóng dọc theo sông Đáy để ngăn chận Việt Minh, nhưng âm mưu bại lộ, ông bị tước khí giới.
Tiểu đoàn Quốc gia rút khỏi làng tôi để lên đường vào Nam, dân Hà Nội, Hà Đông tấp nập di cư theo chính phủ Quốc Gia, hàng ngày có mấy chục chuyến máy bay chở dân di cư vào Nam. Dân nhà quê đều ở lại hết, họ chưa biết gì về Cộng Sản cả. Việt Minh về tiếp thu, tôi và bọn trẻ lên đê đón các anh bội đội đi ngang qua làng về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội, các anh vui vẻ tử tế trong những bộ quân phục gọn gàng, ai cũng niềm nở tươi cười bắt tay chúng tôi. Tôi đã mười bốn tuổi, chúng tôi hay ra sân đình làng xem diễn kịch, ca hát, nhảy son đố mì, tôi thấy người ta treo ảnh các nhà lãnh tụ: Hồ chủ Tịt gầy gò ngồi giữa, bên trái là đồng chí Ma Lăng Cốp, đôi mắt gườm gườm, chủ tịt nước Liên Sô, và bên phải là Mao Chủ Tịt, trán cao tươi cười rạng rỡ. Anh em tôi sang làng bên xem chiếu phim Chiến Thắng Điện Biên, có lần lên Hà Đông xem phim Trung Cộng Cờ Hồng Trên Núi Thúy.
Thấm thoắt hơn nửa năm đã trôi qua, những ngày vui vẻ đi đón các anh bộ đội dễ thương hiền lành nay còn đâu? Dần dần đối với những nhà hào phú trong làng một viễn tượng đen tối diễn ra: thuế nông nghiệp nặng è cổ, gấp năm gấp mười ngày trước, người nghèo nay nhìn người giầu bằng những cặp mắt hằn học, chỉ đợi dịp trả thù, nghe đồn ở mạn trên có đấu tố địa chủ, con cái đấu tố chửi mắng, đánh đập cả cha mẹ. Gia đình tôi, họ hàng nhà tôi ai nấy nơm nớp lo sợ, bỗng có tin ông Năm, bác Ba trong họ "đi Nam". Quân đội Pháp và chính phủ Quốc Gia vẫn còn đóng ở Hải Phòng, thời hạn rút lui là ba trăm ngày, gần một năm kể từ ngày ký Hiệp Định Giơ neo, muốn xuống Hải Phòng phải có giấy thông hành nhưng cũng mượn giấy bà con ở Hà Nội làm giả được.
Chiến tranh Việt Pháp bùng nổ từ Hà Nội, Hà Đông rồi lan tràn xuống quê tôi, hồi ấy tôi mới lên sáu, lên bẩy nhưng ký ức của thời thơ ấu lại rõ ràng khúc chiết lạ thường, cho đến nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, tôi vẫn còn nhớ rõ như in trong trí tất cả cái giai đoạn khói lửa tang thương, đau khổ ấy. Tôi còn nhớ những ngày cha mẹ, anh chị em bồng bế nhau chạy loạn nheo nhóc hết làng này sang làng khác, nhớ cả những cảnh lửa đạn tơi bời, những chiếc xe tăng đen chùi chũi của bọn thực dân chạy lầm lũi trên đê làng, bao nhiêu tang tóc ghê rợn đã diễn ra: nào cướp bóc, hãm hiếp, bắn giết, đánh đập tra tấn những người tình nghi vô tội. Rồi những ngày bọn Tây Trắng, Tây Đen, Ba Ti Giăng, Việt Gian về làng khủng bố, chúng bắt dân làng tụ tập dưới gốc cây đa để chứng kiến những cảnh tra tấn, bắn giết người rùng rợn. Bọn thực dân cướp nước đã tàn phá quê hương tôi.
Việt Minh yếu thế thua trận phải rút vào hậu phương, chiến tranh đã xa dần rồi dịu hẳn đi tại quê tôi. Cuộc sống thanh bình trở lại, không còn khủng bố bắn giết ghê rợn như trước kia. Tôi bắt đầu lớn khôn, đi học trường làng, tôi nhớ một hôm có chiếc xe "bình bịch" từ Hà Đông về làng, một ông ăn mặc quần áo Tây lịch sự vào trường bán ảnh ông Bảo Đại, ông ấy nói:
- Đức Quốc Trưởng đã giành được độc lập cho nước ta, các em phải mua ảnh của Quốc Trưởng về treo để nhớ ơn Ngài!
Ông Bảo Đại đã về nước làm Quốc Trưởng thành lập chính phủ Quốc Gia, mặc dù chưa hoàn toàn độc lập nhưng ít ra nhờ có chính phủ nên an ninh đã vãn hồi không còn cảnh hỗn quân hỗn quan, nhiễu nhương ghê rợn như trước, thầy tôi thường nói với chú, bác: hồi ấy mạng người không được bằng con trâu, con bò, con lợn.
Hồi ấy dân làng tôi không nghèo nàn đói khổ lắm, họ cũng đủ ăn đủ mặc, những năm đói kém thời phát xít Nhật đã qua, hồi ấy chúng bắt dân bỏ lúa để trồng đay gây lên nạn đói khủng khiếp, người chết như rạ khắp miền Bắc nước ta, chúng bóc lột xương tủy, không cho dân ta trỗi dậy, nhưng nay thảm kịch cũng đã trôi qua.
Thế là bên trong lũy tre xanh, cuộc sống lại thanh bình êm đềm như giòng sông Đáy chảy ngang qua, hồi ấy tôi học lười hay bị thầy giáo đánh đau chết điếng, bị cha mẹ mắng mỏ tôi đi chơi nhiều hơn học hành, sách bút. Ở dưới bãi, bên bờ sông, cách làng chừng nửa cây số có một cụm rừng nhỏ, bên trong có miếu thờ, ở đấy đầy những chim chóc kêu ríu rít. Đó là nơi tôi, đứa em họ và bọn trẻ làng hay xuống bắn chim, xem lễ, xuống sông tắm mát, đó là thời mà tâm hồi chúng tôi còn trong trắng vô tư chỉ biết kéo nhau đi phá tổ chim, câu cá, bắt chuồn chuồn, châu chấu.
![]() |
|
Sông Đáy. Nguồn: du-lich.chudu24.com |
Thấm thoắt tôi đã mười mấy tuổi, học hết lớp nhì nhưng cũng còn vô tư lắm. Bỗng một hôm tiểu đoàn Quốc Gia về đóng tại làng tôi, họ nói là tiểu đoàn năm mươi tư, ông quan tư bệ vệ đóng tại nhà tôi, cảnh sinh hoạt trong làng thay đổi hẳn. Họ đóng cọc rào kẽm gai suốt dọc bên bờ đê, đào hố đặt súng cối tưởng như chiến tranh diễn ra đến nơi nhưng một hai tháng sau bỗng có tin đình chiến, quân đội và chính phủ Quốc Gia, quân đội Pháp sẽ rút vào Nam, có nhiều người lính đào ngũ trốn ở lại. Sau này nghe anh tôi nói người ta đồn thiếu tướng Nguyễn Văn Vận biết Tây sẽ ký hiệp định Giơ Neo chia đôi đất nước với Việt Minh, ông thiếu tướng định đảo chính quân Pháp và ở lại giữ đất, một mặt sai tiểu đoàn năm mươi tư về đóng dọc theo sông Đáy để ngăn chận Việt Minh, nhưng âm mưu bại lộ, ông bị tước khí giới.
Tiểu đoàn Quốc gia rút khỏi làng tôi để lên đường vào Nam, dân Hà Nội, Hà Đông tấp nập di cư theo chính phủ Quốc Gia, hàng ngày có mấy chục chuyến máy bay chở dân di cư vào Nam. Dân nhà quê đều ở lại hết, họ chưa biết gì về Cộng Sản cả. Việt Minh về tiếp thu, tôi và bọn trẻ lên đê đón các anh bội đội đi ngang qua làng về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội, các anh vui vẻ tử tế trong những bộ quân phục gọn gàng, ai cũng niềm nở tươi cười bắt tay chúng tôi. Tôi đã mười bốn tuổi, chúng tôi hay ra sân đình làng xem diễn kịch, ca hát, nhảy son đố mì, tôi thấy người ta treo ảnh các nhà lãnh tụ: Hồ chủ Tịt gầy gò ngồi giữa, bên trái là đồng chí Ma Lăng Cốp, đôi mắt gườm gườm, chủ tịt nước Liên Sô, và bên phải là Mao Chủ Tịt, trán cao tươi cười rạng rỡ. Anh em tôi sang làng bên xem chiếu phim Chiến Thắng Điện Biên, có lần lên Hà Đông xem phim Trung Cộng Cờ Hồng Trên Núi Thúy.
Thấm thoắt hơn nửa năm đã trôi qua, những ngày vui vẻ đi đón các anh bộ đội dễ thương hiền lành nay còn đâu? Dần dần đối với những nhà hào phú trong làng một viễn tượng đen tối diễn ra: thuế nông nghiệp nặng è cổ, gấp năm gấp mười ngày trước, người nghèo nay nhìn người giầu bằng những cặp mắt hằn học, chỉ đợi dịp trả thù, nghe đồn ở mạn trên có đấu tố địa chủ, con cái đấu tố chửi mắng, đánh đập cả cha mẹ. Gia đình tôi, họ hàng nhà tôi ai nấy nơm nớp lo sợ, bỗng có tin ông Năm, bác Ba trong họ "đi Nam". Quân đội Pháp và chính phủ Quốc Gia vẫn còn đóng ở Hải Phòng, thời hạn rút lui là ba trăm ngày, gần một năm kể từ ngày ký Hiệp Định Giơ neo, muốn xuống Hải Phòng phải có giấy thông hành nhưng cũng mượn giấy bà con ở Hà Nội làm giả được.


