- Trang Chủ
- Phiếm Luận
- Sổ tay K'Tiến
- Nguyễn Trung Trực không còn ở Rạch Giá
Nguyễn Trung Trực không còn ở Rạch Giá
- Tác Giả Tưởng Năng Tiến
- Đăng ngày 07.05.09
- Sổ tay K'Tiến
“Tôi đến vàm Nhựt Tảo thuộc tỉnh Long An vào một ngày tháng chạp. Sắp tết Kỷ Sửu nhưng đi dọc đường không thấy vẻ háo hức cận tết như các năm trước…”
“Chiều hôm sau, lúc đó đã gần 5 giờ, tôi hỏi đường lên vàm Nhựt Tảo và ‘cái tàu ông Nguyễn Trung Trực đốt của tụi Tây’. Bác xe ôm ở một góc đường thị xã Tân An có vẻ rành, bác chỉ qua cầu Tân An (bắc ngang sông Vàm Cỏ Tây), qua cầu Bến Lức (sông Vàm Cỏ Đông), đến ngã tư Tân Trụ rẽ phải…”
- Chị ơi vàm Nhựt Tảo ở đâu vậy?
- Đây này! Cô gái chỉ ngay dòng sông trước mặt…
"Vậy ra là tôi đang đứng ngay ngả ba sông, nơi Nguyễn Trung Trực đánh đắm chiến thuyền Espérance của Pháp năm 1861… Tôi băng qua sân rộng đến sát mép sông, thấy một cái miếu nhỏ bé, cửa miếu hướng ra bờ sông. Vòng ra mặt trước miếu nhìn vào mới biết đó là miếu ngũ hành, cả gian miếu âm u chập chờn.”
“Tôi bước vào miếu, tự dưng xương sống lạnh buốt như đang bước vào một nơi nhiều âm khí dù trời chưa tối hẳn. Không gian trong ngôi miếu nhỏ tịch mịch quá, tưởng như nghe được tiếng sông chảy bên ngoài. Bên góc phải bàn thờ ngũ hành có một hộc bàn thấp lè tè, trên để tấm hình Nguyễn Trung Trực chít khăn đen, bên dưới ghi:"
ANH HÙNG DÂN TỘC
NGUYỄN TRUNG TRỰC
(1838-1868)
“Nguyễn Đình Chiểu viết ‘Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo.’ Thật là nao lòng quá. Một dũng tướng ngang dọc từ Tân An đến Rạch Giá, lập những chiến công ‘oanh thiên địa’ và ‘khấp quỷ thần’ trong lứa tuổi 20, ngay nơi chiến tích của ông cách đây 146 năm, nay chỉ có một ngôi đền xây dang dở, và một bức hình nhỏ trên một bệ thờ thấp, nằm ké trong cái miếu ngũ hành tàn tạ âm u vôi lở sơn tróc hương tàn bàn lạnh. Đôi mắt ông thao thiết nhìn ra sông, rất lặng lẽ…”
“Tôi ra đứng trước cửa miếu nhìn ngả ba sông Nhựt Tảo qua những cây hoang um sùm. Dòng sông trong vắt và êm đềm, thỉnh thoảng một chiếc phà nhỏ chở khách ngang qua. Trời đã chập choạng và một tiếng chim chợt kêu. Ở quán nước sát mé sông, tôi hỏi bà chủ quán:
- Chị ạ, chắc tấm hình ông Nguyễn Trung Trực người ta thờ tạm hả chị, chờ khi cái đền lớn xây xong?
- Đâu có, cái miếu nhỏ đó hổng phải thờ ông Nguyễn Trung Trực. Mấy bữa trước có một bà dưới Rạch Giá đem hình ổng lên để thờ ké trong miếu đó!"
“Thờ ké trong miếu! Phải, cái bàn thờ ông thấp và bé hơn bàn thờ năm tượng ngũ hành nhiều lần, bên di ảnh ông có một chai nhựa khô nước (hay rượu), trước có một con ngựa nhỏ màu trắng. Có lẽ cái bệ thờ này để thờ bạch mã - như trong nhiều miếu ở miền quê thường có thờ “Bạch Mã Thái Giám” tức con ngựa trắng để đỡ chân cho thành hoàng của làng xã - rồi người đàn bà Rạch Giá tội nghiệp kia đem hình ông lên không biết đặt đâu nên để ‘ké’ vào bệ thờ con ngựa trắng, trước hình ông là một bình hoa giả, hai chén nước nhỏ, một bát nhang lạnh. Vậy thôi.”
Chỉ “vậy thôi” mà bài viết “Nhựt Tảo 147 Năm Sau” của Từ Khanh (đọc được trên danchimviet.com, hôm 17 tháng 3 năm 2009) bỗng khiến tôi thấy lòng dạ bất an. Tôi rời Rạch Giá đã lâu, và chưa bao giờ có dịp quay về chốn cũ. Không hiểu chuyện gì đã khiến người ta phải đem di ảnh của cụ Nguyễn lên đến Long An, để thờ ké trong một cái miễu ngũ hành (”hương tàn bàn lạnh”) như thế.
Rạch Giá có đường Nguyễn Trung Trực. Nó bắt đầu từ bến xe Lạc Hồng, và chấm dứt ở bên này Cầu Đúc. Từ bên kia cầu trở đi là đường Phó Điều, tên gọi đầy đủ là Phó Cơ Điều, dẫn đến đầu chợ Nhà Lồng.
Trên nóc chợ có dựng tượng cụ Nguyễn Trung Trực bằng đồng. Pho tượng nhỏ, kích thước chỉ bằng một người thường, và không có đường nét nào đặc biệt - ngoại trừ đôi mắt. Cụ Nguyễn đang đứng bạt gươm mà (sao) trông buồn thảm thiết!
Thời gian ở Rạch Giá, tôi kiếm sống bằng cách bán bánh tiêu. Tôi hay len lách rao hàng, giữa những bàn ăn, trong chợ Nhà Lồng:
- Bánh tiêu đây thầy Hai ơi.
- Mời dì Ba ăn bánh tiêu nóng.
- Mua dùm một cái bánh tiêu đi cô Tư.
- Má Năm ơi, ăn bánh tiêu mới ra lò không?
Hôm nào may mắn tôi bán được hết (hay gần hết) mẹt hàng. Xong, tôi vào quán cà phê ngồi đếm tiền và nghỉ xả hơi. Sau khi dấu tờ bạc 20 đồng làm vốn (có hình bác Hồ nhìn nghiêng) vào gấu quần, tôi sẽ xài hết số tiền còn lại.
Giá vốn một cái bánh tiêu là bốn mươi xu. Tôi bán ra năm mươi, lời 10 xu gọn ghẽ. Nếu bán được 48 cái bánh, tôi sẽ được 4 đồng 80. Tôi ăn luôn hai cái bánh ế thì vẫn còn lời đến 4 đồng.
Số tiền này - vào những năm đầu của thập niên 1980, lúc mà Đảng CSVN chưa có “dũng cảm” và “quyết tâm” đổi mới - đủ để người dân thường mua được một bao thuốc lá nội hoá, kẻ khá giả hút được hai điếu thuốc lá “3 số” nhập cảng, và vừa vặn để cho tôi có thể sống qua được một ngày (tạm gọi là) no đủ.
Ly cà phê đen giá một đồng. Nếu mà cà phê sữa cũng cùng giá thì đỡ biết chừng nào. Những lúc thiếu ăn tôi không mê cà phê đen lắm. Tôi chi thêm một đồng nữa cho mấy điếu thuốc lá (Vàm Cỏ hay Lao Động) là kể như một buổi sáng êm xuôi.
Trưa và chiều tôi sẽ dùng hai đồng còn lại, cho 2 đĩa cơm trắng, ở cửa hàng ăn uống quốc doanh. Khi đói (tới bến) thì thức ăn là đồ xa xỉ.
Hôm nào mà bánh ế thì vất vả hơn chút xíu. Tối, tôi lại phải đi loanh quanh ở khu rạp hát Châu Văn, giữa trung tâm thị xã - nơi có những xe bán thức ăn đêm - để dành giật những tô mì thừa hay cháo cặn với những kẻ cùng cảnh ngộ.
Đêm, tôi ngủ chung với những đứa bé bụi đời ở sân quần vợt của Rạch Giá. Nằm nhìn sao trời nhấp nháy, tôi hay nhớ đến nét mặt buồn phiền - cùng với ánh mắt thê thiết - của cụ Nguyễn, đứng nhìn từ nóc chợ Nhà Lồng. Ngó bộ, ổng không được hài lòng (lắm) về cái vụ … tôi đi bán bánh tiêu!
Nguyễn Trung Trực vốn là một ngư dân. Khi đất nước bị ngoại xâm, ông tham gia kháng chiến, tạo nên những chiến công (”oanh thiên địa, khấp quỷ thần”) làm nức lòng người.
“Chiều hôm sau, lúc đó đã gần 5 giờ, tôi hỏi đường lên vàm Nhựt Tảo và ‘cái tàu ông Nguyễn Trung Trực đốt của tụi Tây’. Bác xe ôm ở một góc đường thị xã Tân An có vẻ rành, bác chỉ qua cầu Tân An (bắc ngang sông Vàm Cỏ Tây), qua cầu Bến Lức (sông Vàm Cỏ Đông), đến ngã tư Tân Trụ rẽ phải…”
- Chị ơi vàm Nhựt Tảo ở đâu vậy?
- Đây này! Cô gái chỉ ngay dòng sông trước mặt…
"Vậy ra là tôi đang đứng ngay ngả ba sông, nơi Nguyễn Trung Trực đánh đắm chiến thuyền Espérance của Pháp năm 1861… Tôi băng qua sân rộng đến sát mép sông, thấy một cái miếu nhỏ bé, cửa miếu hướng ra bờ sông. Vòng ra mặt trước miếu nhìn vào mới biết đó là miếu ngũ hành, cả gian miếu âm u chập chờn.”
“Tôi bước vào miếu, tự dưng xương sống lạnh buốt như đang bước vào một nơi nhiều âm khí dù trời chưa tối hẳn. Không gian trong ngôi miếu nhỏ tịch mịch quá, tưởng như nghe được tiếng sông chảy bên ngoài. Bên góc phải bàn thờ ngũ hành có một hộc bàn thấp lè tè, trên để tấm hình Nguyễn Trung Trực chít khăn đen, bên dưới ghi:"
ANH HÙNG DÂN TỘC
NGUYỄN TRUNG TRỰC
(1838-1868)
“Nguyễn Đình Chiểu viết ‘Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo.’ Thật là nao lòng quá. Một dũng tướng ngang dọc từ Tân An đến Rạch Giá, lập những chiến công ‘oanh thiên địa’ và ‘khấp quỷ thần’ trong lứa tuổi 20, ngay nơi chiến tích của ông cách đây 146 năm, nay chỉ có một ngôi đền xây dang dở, và một bức hình nhỏ trên một bệ thờ thấp, nằm ké trong cái miếu ngũ hành tàn tạ âm u vôi lở sơn tróc hương tàn bàn lạnh. Đôi mắt ông thao thiết nhìn ra sông, rất lặng lẽ…”
![]() |
| Cụ Nguyễn Trung Trực và miếu Ngũ Hành ở Tân An, nơi có để hình thờ (ké) của cụ. Ảnh Từ Khanh. |
“Tôi ra đứng trước cửa miếu nhìn ngả ba sông Nhựt Tảo qua những cây hoang um sùm. Dòng sông trong vắt và êm đềm, thỉnh thoảng một chiếc phà nhỏ chở khách ngang qua. Trời đã chập choạng và một tiếng chim chợt kêu. Ở quán nước sát mé sông, tôi hỏi bà chủ quán:
- Chị ạ, chắc tấm hình ông Nguyễn Trung Trực người ta thờ tạm hả chị, chờ khi cái đền lớn xây xong?
- Đâu có, cái miếu nhỏ đó hổng phải thờ ông Nguyễn Trung Trực. Mấy bữa trước có một bà dưới Rạch Giá đem hình ổng lên để thờ ké trong miếu đó!"
“Thờ ké trong miếu! Phải, cái bàn thờ ông thấp và bé hơn bàn thờ năm tượng ngũ hành nhiều lần, bên di ảnh ông có một chai nhựa khô nước (hay rượu), trước có một con ngựa nhỏ màu trắng. Có lẽ cái bệ thờ này để thờ bạch mã - như trong nhiều miếu ở miền quê thường có thờ “Bạch Mã Thái Giám” tức con ngựa trắng để đỡ chân cho thành hoàng của làng xã - rồi người đàn bà Rạch Giá tội nghiệp kia đem hình ông lên không biết đặt đâu nên để ‘ké’ vào bệ thờ con ngựa trắng, trước hình ông là một bình hoa giả, hai chén nước nhỏ, một bát nhang lạnh. Vậy thôi.”
Chỉ “vậy thôi” mà bài viết “Nhựt Tảo 147 Năm Sau” của Từ Khanh (đọc được trên danchimviet.com, hôm 17 tháng 3 năm 2009) bỗng khiến tôi thấy lòng dạ bất an. Tôi rời Rạch Giá đã lâu, và chưa bao giờ có dịp quay về chốn cũ. Không hiểu chuyện gì đã khiến người ta phải đem di ảnh của cụ Nguyễn lên đến Long An, để thờ ké trong một cái miễu ngũ hành (”hương tàn bàn lạnh”) như thế.
Rạch Giá có đường Nguyễn Trung Trực. Nó bắt đầu từ bến xe Lạc Hồng, và chấm dứt ở bên này Cầu Đúc. Từ bên kia cầu trở đi là đường Phó Điều, tên gọi đầy đủ là Phó Cơ Điều, dẫn đến đầu chợ Nhà Lồng.
Trên nóc chợ có dựng tượng cụ Nguyễn Trung Trực bằng đồng. Pho tượng nhỏ, kích thước chỉ bằng một người thường, và không có đường nét nào đặc biệt - ngoại trừ đôi mắt. Cụ Nguyễn đang đứng bạt gươm mà (sao) trông buồn thảm thiết!
Thời gian ở Rạch Giá, tôi kiếm sống bằng cách bán bánh tiêu. Tôi hay len lách rao hàng, giữa những bàn ăn, trong chợ Nhà Lồng:
- Bánh tiêu đây thầy Hai ơi.
- Mời dì Ba ăn bánh tiêu nóng.
- Mua dùm một cái bánh tiêu đi cô Tư.
- Má Năm ơi, ăn bánh tiêu mới ra lò không?
Hôm nào may mắn tôi bán được hết (hay gần hết) mẹt hàng. Xong, tôi vào quán cà phê ngồi đếm tiền và nghỉ xả hơi. Sau khi dấu tờ bạc 20 đồng làm vốn (có hình bác Hồ nhìn nghiêng) vào gấu quần, tôi sẽ xài hết số tiền còn lại.
Giá vốn một cái bánh tiêu là bốn mươi xu. Tôi bán ra năm mươi, lời 10 xu gọn ghẽ. Nếu bán được 48 cái bánh, tôi sẽ được 4 đồng 80. Tôi ăn luôn hai cái bánh ế thì vẫn còn lời đến 4 đồng.
Số tiền này - vào những năm đầu của thập niên 1980, lúc mà Đảng CSVN chưa có “dũng cảm” và “quyết tâm” đổi mới - đủ để người dân thường mua được một bao thuốc lá nội hoá, kẻ khá giả hút được hai điếu thuốc lá “3 số” nhập cảng, và vừa vặn để cho tôi có thể sống qua được một ngày (tạm gọi là) no đủ.
Ly cà phê đen giá một đồng. Nếu mà cà phê sữa cũng cùng giá thì đỡ biết chừng nào. Những lúc thiếu ăn tôi không mê cà phê đen lắm. Tôi chi thêm một đồng nữa cho mấy điếu thuốc lá (Vàm Cỏ hay Lao Động) là kể như một buổi sáng êm xuôi.
Trưa và chiều tôi sẽ dùng hai đồng còn lại, cho 2 đĩa cơm trắng, ở cửa hàng ăn uống quốc doanh. Khi đói (tới bến) thì thức ăn là đồ xa xỉ.
Hôm nào mà bánh ế thì vất vả hơn chút xíu. Tối, tôi lại phải đi loanh quanh ở khu rạp hát Châu Văn, giữa trung tâm thị xã - nơi có những xe bán thức ăn đêm - để dành giật những tô mì thừa hay cháo cặn với những kẻ cùng cảnh ngộ.
Đêm, tôi ngủ chung với những đứa bé bụi đời ở sân quần vợt của Rạch Giá. Nằm nhìn sao trời nhấp nháy, tôi hay nhớ đến nét mặt buồn phiền - cùng với ánh mắt thê thiết - của cụ Nguyễn, đứng nhìn từ nóc chợ Nhà Lồng. Ngó bộ, ổng không được hài lòng (lắm) về cái vụ … tôi đi bán bánh tiêu!
Nguyễn Trung Trực vốn là một ngư dân. Khi đất nước bị ngoại xâm, ông tham gia kháng chiến, tạo nên những chiến công (”oanh thiên địa, khấp quỷ thần”) làm nức lòng người.


